Chim trong văn học–nghệ thuật Việt Nam – Bài 2 trong 2

Chim trong văn học–nghệ thuật Việt Nam – Bài 2 trong 2

Đa đa / Bắt tép kho cà
Đại bàng / Chim bằng
Én / Nhạn
Đớp muỗi
Gà rừng
Gà sao
Giang sen
Giẻ cùi & Phướn
Gõ kiến
Hạc
Hải âu
Họa mi
Hồng hoàng
Hồng tước
Hút mật
Kền kền
Khướu
Le le
Manh manh / Mai hoa
Mỏ nhác / Mỏ nhát
Mồng két / Mòng két
Nhồng / Yểng / Sáo đá
Oanh
Oanh vàng / Hoàng oanh / Vàng anh
Ó rằn
Ốc cao
Quạ
Quyên
Rẻ quạt
Rẽ giun
Sáo
Sáo đá mỏ đỏ
Sáo mỏ ngà
Sáo mỏ vàng
Sáo sậu / Cà cưỡng
Sâm cầm
Sẻ
Sẻ đồng
Sếu
Sếu đầu đỏ
Sơn ca
Te te
Thầy chùa / Cu rốc
Thiên đường
Tràu trảu
Trích / Trích cồ / Xít
Trích ré / Kịch
Trĩ
Tu hú
Uyên ương
Vành khuyên / Chim khuyên
Vạc
Vẹt / Két
Vịt nước
Vịt trời
Vỏ vẻ
Yến
Yến cảnh

Tệ nạn săn bắt chim hoang dã

Kết luận

Nguồn tham khảo

Đa đa / Bắt tép kho cà

Ca dao

Con chim đa đa đậu nhánh đa đa
Chồng gần không lấy, bậu lấy chồng xa
Mai sau cha yếu mẹ già
Chén cơm đôi đũa, ấm trà ai lo?

[Nhân tiện ghi thêm: theo Phan Công Tuấn (2018), nhánh đa đa thuộc loài cây bụi đa đa, còn có tên cò cưa, xân, săng, tên khoa học là Harrisonia perforata.]

Thơ

Bắt tép kho cà – Quang Dũng
Sim mua tím đồi
Quanh quanh đường đó
Bắt tép kho cà
Bờ lau bụi cỏ

Giếng im
Bắt tép kho cà
Bắt tép kho cà
Nước mắt em buông lã chã
Long lanh nhớ giếng quê nhà

Chim đa đa – Anh Thi Đi
Thấm thoát trôi qua, đã mấy mùa
Rừng buồn não nuột, tiếng đa đa
Thầm thương phận gái, nơi xa xứ
Trộm nhớ đời trai, ở cạnh nhà.

[…]

Đa đa có hiểu, thấu lòng ta?
Chối bỏ tình gần, chọn xứ xa
Nhớ mẹ, thương cha, sao dám trách
Trông người, ngóng bạn, nát lòng ta.

Gom lá thu vàng – Lê Viết Tư
Em về lại khi hoàng hôn tím núi
Cánh chim trời kêu lạc tiếng đa đa
Vầng trăng cũ cũng vương màu hoài niệm
Gom lá vàng có kẻ cuối thu xa…

Bút ký

Nhớ tiếng chim đa đa – Đ.T.S.

Cứ mỗi lần chiều xuống, nơi những cánh rừng thâm u ấy, nơi những đám đất rẫy vắng vẻ ấy lại vang vọng lên tiếng chim đa đa kêu ‘dắt bà xã tà tà…’ nghe nó âm ảo làm sao. Tiếng chim chiều lẻ bạn sau một ngày đi kiếm ăn đã bao lần gây ám ảnh lấy tâm hồn tuổi thơ chúng tôi trong những chuỗi ngày xưa xa ấy.

Tiếng đa đa kêu rất khác lạ và không giống bất cứ loại chim nào. Có người vui tính thì nghe là ‘dắt bà xã tà tà…’, có người thích cổ tích thì lại nghe ‘bát cát trả cho cha’. Và thế là chim đa đa cũng có một sự tích…

Khắc khoải mùa chim đa đa – Tuấn Ngọc

Chim đa đa, hay gà gô, là tên gọi chung, còn đồng bào vùng cao Lào Cai vẫn gọi là chim “bắt tép kho cà” theo âm tiếng gáy của chim trống. Mỗi độ tháng Ba về, tiếng chim “bắt tép kho cà” gáy vang cả đồi núi để gọi bạn tình. Tiếng gáy của chim tuy không thánh thót như tiếng hót của họa mi, không luyến láy như tiếng khướu, nhưng nghe chân chất, mộc mạc và vang rất xa. Chỉ cần một chú chim “bắt tép kho cà” ở cánh rừng này gáy, một lúc sau, những chú chim ở khu rừng khác cũng gáy theo, tạo thành “bản hợp xướng” vang cả núi rừng. Đa đa trống thường gáy nhiều nhất vào buổi trưa nắng to sau đợt rét, hoặc sau cơn mưa rào nắng bừng lên. Mùa đa đa gáy bắt đầu từ tháng Ba đến hết tháng Tám, khi có những đợt gió lạnh đầu mùa tràn về.

[…]

Tháng Ba, cơn mưa rào đầu mùa đổ xuống, tôi ngược sông Hồng lên phía thượng nguồn, nhìn những đám khói nương chiều hòa lẫn màu trời mà thèm nghe tiếng chim đa đa gáy. Tiếng chim thân thương ấy mang một nỗi nhớ xa xăm về kỷ niệm tuổi thơ. Giờ đây, để nghe bản hợp xướng tiếng chim đa đa trên vùng cao Lào Cai là điều xa xỉ vì số lượng loài chim này chẳng còn bao nhiêu do con người săn bắt tận diệt…

Tiếng chim đa đa không nghe thấy nữa, chỉ nghe giọng hát trong điện thoại rỉ rả buồn thiu, xa vắng: “Có con chim đa đa nó đậu cành đa …” Chim đa đa có bao giờ đậu trên cành đa đâu! Đó chỉ là một cách nói thôi. Có lẽ tiếng chim đa đa ở phương Nam xa xôi nào đó cũng tha thiết, khắc khoải nhớ thương như một mối tình dang dở đã khiến người nhạc sỹ cảm xúc mà sáng tác những lời hát này. Mùa chim đa đa giờ đây sao nghe buồn da diết…

Âm nhạc

Tiếng hát chim đa đa – Võ Đông Điền
Quang Linh – https://nhac.vn/bai-hat/tieng-hat-chim-da-da-quang-linh-soxjLW4

Có con chim đa đa nó đậu cành đa
Sao không lấy chồng gần mà đi lấy chồng xa?
Có con chim đa đa hót lời nỉ non
Sao em nỡ lấy chồng từ khi tuổi còn son?
Để con chim đa đa ngậm ngùi đành bay xa.

Loài điểu học: đa đa – Chinese francolin (Francolinus pintadeanus)

Đa đa tức gà gô, còn được gọi là bắt tép kho cà dựa theo tiếng kêu.

Cơ thể dài 30-34 cm. Chim trống: Bộ lông có mầu sắc không thể nhầm lẫn với loài chim khác. Chim mái: hơi nhỏ hơn, bộ lông kém sặc sỡ hơn hẳn, thường là vằn nâu sẫm trên nền hung, không có cựa. Chim non: bộ lông tựa chim mái nhưng màu nâu sẫm hơn.

_da da

Đa đa là loài định cư trên toàn cõi Việt Nam ngoại trừ Nam Bộ.

Sinh cảnh sống là rừng khô cận nhiệt đới hoặc nhiệt đới và rừng nhiệt đới ẩm; rất thích sống trong bụi cây và đồi cỏ tranh.

Đa đa thường gáy vào lúc sáng sớm và tầm 4-5 giờ chiều. Chúng gáy quanh năm, nhiều nhất là vào mùa hè.

Tiếng kêu:
https://www.xeno-canto.org/species/Francolinus-pintadeanus

Đại bàng / Chim bằng

Thơ

Cánh chim và bầu trời – Nguyễn Thế Duyên
Anh – Một cánh đại bàng
Em – Bầu trời xanh thẳm
Anh – Cánh buồm vượt sóng
Em – Mênh mông trùng khơi

Ước vọng – Hồng Dương
Anh khát vọng đại bàng soãi cánh
Em ước mơ lóng lánh mây xanh
Vút lên cao thẳm trong lành
Mênh mông em nguyện cùng anh tím chiều

Trưng Nữ Vương – Ngân Giang
Thù hận đôi lần chau khoé hạnh
Một trời loáng thoáng bóng sao rơi
Dồn sương vó ngựa xa non thẳm
Gạt gió chim bằng vượt dậm khơi

Không trói buộc – Nguyên Đỗ
Ta mãi mãi chẳng bao giờ trói buộc
Cánh chim bằng còn bay mãi trên mây
Chẳng khi nào vương nhợ với vướng giây
Chim cột cánh có thể nào bay được!

Kiếp lang thang – Nguyên Thạch
Ta bước lang thang, kiếp không nhà
Tìm đâu tri kỷ, người hiểu ta?
Thương cánh chim bằng trong bão lộng
Cố vươn đôi cánh, chờ đông qua

Khúc ly đình – Cao Thị Vạn Giả
Trời Tây rẽ bước âm thầm
Ngàn năm mỏi cánh chim bằng tha hương

Truyện dài

Sống chỉ một lần – Mai Thảo

Trường chỉ tay lên một tầng cao trên đầu, trên mây, trên trời và nói về cái hình ảnh và đời sống đàn ông theo ý của chàng:
– Một cánh chim bằng.

Tôi đang nhớ… đang nghĩ… đang thả hồn tôi cho bay theo cánh chim bằng trong buổi sáng mưa lớn này đây.

[…]

Nhưng thôi! Hãy để cho người ở xa, người mà tôi đã mất từ đây, được mãi mãi là một cánh chim bằng như chàng hằng muốn vậy.

[…]

– Có thật là anh không xê dịch nữa không, anh yêu dấu? Có thật là cánh chim bằng muốn đậu xuống, đám mây thôi bay đi, ngọn gió thôi thổi tới, và dòng sông chảy ra đại dương đời mênh mông muốn trở lại thành một dòng sông bé nhỏ trong đồng? Có thật thế không?

Loài điểu học: đại bàng Mã Lai – black eagle (Ictinaetus malayensis)

Theo Wikipedia, chim bằng là một loài chim trong truyền thuyết, được cho là có kích thước lớn, và hình dạng có nhiều điểm giống một số loài trong Họ Ưng (Accipitridae). Tên gọi “chim bằng” trong tiếng Việt nhiều khả năng xuất phát từ tiếng Hán “đại bằng” 大鵬, biến thể thành “đại bàng”. Đại bàng xuất hiện trong truyền thuyết của Việt Nam như Thạch Sanh.

Họ Ưng (Accipitridae), gồm những loài chim cỡ lớn săn mồi ban ngày, có mỏ cong và khỏe. Các loài được nhiều người biết đến là diều hâu, đại bàng, diều mướp, ó, ưng và kền kền. Đặc điểm nhận biết là khi bay, những lông cánh chót ngoài xòe rộng ra trông giống như những ngón tay. Chim mái thường lớn hơn chim trống và nặng hơn chim trống khoảng 25%.

Thị lực của đại bàng là tuyệt hảo, giúp chúng nhận ra con mồi từ trên cao và ở khoảng cách xa.

Đại bàng thường làm tổ trên núi hoặc cây cao. Tổ của chúng rất lớn và mỗi năm chúng lại tha về tổ nhiều cành cây mới để làm cho tổ kiên cố hơn trước. Chim đẻ mỗi lứa 2 trứng. Khi chim bố mẹ không tìm đủ thức ăn nuôi cả 2 chim non, chim non khỏe (có lẽ khi đói) thường cắn chim non yếu cho đến chết để chiếm độc quyền nguồn thức ăn.

Có không tới 10 loài đại bàng ở Việt Nam, phần lớn sống di cư và hiếm gặp. Riêng đại bàng Mã Lai là loài định cư và được giới thiệu ở đây.

Đại bàng Mã Lai có thân dài 69-78 cm. Là loài đại bàng lớn, màu rất tối, đuôi dài. Bay lượn săn mồi bên trên tán rừng. Trưởng thành: Toàn thân có màu đen pha ít nâu. Chim non: màu nâu nhiều hơn, đầu màu xám bạc, thân có vạch, nhìn từ dưới lên thấy lông bao dưới cánh có màu nhạt hơn.

_dai bang Ma Lai

Loài định cư toàn cõi Việt Nam. Tương đối phổ biến nhưng số lượng không nhiều.

Sống ở các vùng rừng núi, gần nơi trống trải, gặp tới độ cao gần 3.200 mét.

Én / Nhạn

Tục ngữ

Một con én không làm nên mùa xuân.

Ca dao

Chiều chiều én liệng nhạn bay
Ta đây nhớ bạn, bạn rày nhớ ai?

Nhạc

Bến Xuân – Văn Cao & Phạm Duy
Quý Bình –  https://www.youtube.com/watch?v=1FkO5mUL-PU

Ai tha hương nghe ríu rít oanh ca
Cánh nhạn vào mây thiết tha
Lưu luyến tình vừa qua

Chinh phụ ca – Phạm Duy
Hà Thanh – https://www.youtube.com/watch?v=ZdySvgS_eH0

Ngày nào bao xa em thấy bay về
Một đàn chim én không nhà
Về làn du phong với mây ráng hồng
Có tiếng diều trong đậu trước khuê phòng

Kiếp hoa – Dương Thiệu Tước

Lưu Hồng – https://www.nhaccuatui.com/bai-hat/kiep-hoa-duong-thieu-tuoc-luu-hong.23ywuCUW96.html

Vui đùa lững lờ bên hoa
Bầy én lượn bay tưng bừng
Ngàn tiếng đồng ca vang lừng
Hầu như lãng quên tháng ngày dần trôi

Mùa xuân đầu tiên – Văn Cao

Hồng Nhung – https://www.youtube.com/watch?v=2LRJR77Adyw

Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường mùa vui nay đã về
mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
một trưa nắng cho bao tâm hồn

Xuân thì – Phạm Duy

Thúy Hồng – https://www.nhaccuatui.com/bai-hat/xuan-thi-pham-duy-thuy-hong.ArKBBMdatO.html

Tình Xuân chớm nở đêm qua
Khi mùa chinh chiến đã lui ra ngoài đời
Ngày Xuân con én đưa thoi
Có người nhớ tới những lời yêu mến nhau

Thơ

Cánh chim biệt xứ – Gió Bụi
Theo cánh nhạn hồn tìm về quê cũ
Thỏa bao ngày ấp ủ nỗi nhớ thương
Hàng phượng xưa xanh lá rợp cuối đường
Bao kỷ niệm như dường đang kéo lại

Nhạn sầu lạc lối tìm ai? – Trần Đại
Có lần anh hứa sẽ làm thơ
gửi về đâu đó nẻo xa mờ
nơi em đang ngóng chờ tin nhạn
Nhạn vỗ cánh rồi, thấy bâng quơ

Nhạn theo nghĩa xưa và nay

Trước nhất, cần định rõ chim nhạn là chim gì. Theo Anon. (2015),

Hiện nay, nếu bạn lật từ điển (kể cả wikipedia tiếng Việt) thì sẽ thấy hầu hết ghi chim nhạn là loài chim thuộc Họ Sẻ, có khi còn đồng nhất với chim én. Kể cả nhiều từ điển Anh-Việt mới cũng dịch con chim swallow là chim én, hoặc chim nhạn.

Thế nhưng, trong ca dao tục ngữ và thơ văn cổ, khi nói tới chim nhạn là nói tới loài ngỗng thiên di (tức chim di trú, thiên = đổi, di = dời). Chữ nhạn viết chữ Hán 雁, trong tiếng Trung Quốc hiện đại lẫn tiếng Nhật đều chỉ con ngỗng trời. Các từ điển Hoa-Anh hay Nhật-Anh đều dịch là “wild goose”. Tra các từ điển tiếng Việt, Hán-Việt cũ cũng thấy định nghĩa nhạn là con ngỗng trời. Ví dụ như Đại Nam quấc âm tự vị của Huình Tịnh Paulus Của ghi “Nhạn: Thứ chim giống con ngỗng”.

ngong troi (Truong Van Duc)
Tranh vẽ ngỗng trời (雁), tức “nhạn” theo nghĩa xưa, Trương Văn Đức (1920- ), họa sĩ Đài Loan

Theo điển cố “Tô Vũ chăn dê” trong văn học Tàu, chim nhạn lúc di cư được Tô Vũ dùng để đưa thư về trung nguyên. Điều này khá hợp lý vì ngỗng trời có kích thước to lớn, có thể mang thư được, trong khi con chim én lại bé tí xíu. Trong thơ văn cổ có từ “tin nhạn”, nghĩa là chỉ tin tức từ xa về nói chung.

Lê Mạnh Chiến (2013) cho thấy các từ điển soạn sau 1975 đều ghi nhạn là én, cũng như dịch swallow (Anh) và hirondelle (Pháp) là chim nhạn. Từ đó dẫn tới các sách phân loại sinh học dần gán cho én cái tên nhạn và con ngỗng trời dần mất đi cái tên ban đầu của nó.

Có lẽ khó mà thay đổi một cái sai đã thành hệ thống như việc gọi én là nhạn như thế này. Nhưng ít nhất, việc chúng ta có thể làm là luôn luôn nhớ chim nhạn nghĩa gốc là con ngỗng trời.

Điển tích về tin nhạn

“Tin nhạn” có nghĩa đen là tin do ngỗng trời mang đến, nói chung chỉ tin tức đang trông mong.

Thời Hán Nguyên Ðế (48-33 trước CN), Hung Nô sang xâm lấn. Bên Hán thua trận, vua Hán sai Tô Vũ làm sứ sang Hung Nô xin giảng hòa. Chúa Hung Nô dụ hàng Tô Vũ không được, truyền đày ông đi chăn dê ở Bắc Hải vốn là miền hoang mạc giá rét. Một thời gian sau, Tô Vũ nghĩ ra cách báo tin. Ông xé một mảnh áo, cắn móng tay lấy máu viết làm nhiều bức thư, rồi buộc mỗi bức vào chân chim nhạn (tức ngỗng trời) mà Tô bắt được, rồi thả cho chúng bay đi.

Về mùa đông, nhạn di cư đến Trung Nguyên để tránh rét. Chúng đến đậu trong vườn Thượng lâm của nhà vua. Quan giữ vườn bắt được nhạn có mang thư, lấy làm lạ dâng lên nhà vua. Vua Hán mở ra xem mới biết Tô Vũ còn sống ở một nơi cực kỳ khổ sở, thương xót vô cùng.

Mãi đến 19 năm sau, nhà Hán đánh bại được Hung Nô. Chúa Hung Nô xin cầu hòa, Vua Hán buộc đưa Tô Vũ về nước. Chúa Hung Nô bảo rằng Tô Vũ đã chết từ lâu. Vua Hán đưa thư của Tô Vũ cho xem. Chúa Hung Nô kinh hãi, đành sai một đạo quân hộ tống Tô Vũ đến biên giới hai nước.

Điển tích “tin nhạn” trên được nhắc lại dưới đây, và tất cả “nhạn” đều là ngỗng trời, theo ước lệ của cổ văn Trung Quốc. Vì thế, bài này không đưa chi tiết về ngỗng trời của Trung Quốc.

Di bút – Phan Thanh Giản
Ải bắc ngày trông tin nhạn vắng
Thành nam đêm quạnh tiếng quyên sầu.

Dạ cổ hoài lang – Cao Văn Lầu
Video trình diễn sống, Hoài Lâm cùng Tấn Bảo và Nhật Duy, Sen Vang Music:
https://www.youtube.com/watch?v=du700MEaTlw

Từ là từ phu tướng
Báu kiếm sắc phán lên đàng
Vào ra luống trông tin nhạn
Năm canh mơ màng

Phân biệt én (nhạn, theo nghĩa bây giờ) và yến

Én (nhạn) và yến có kích cỡ tương đương nhau, cùng thích bay lượn và tìm kiếm côn trùng trên không trung, sắc lông tương tự khi ta nhìn chúng đang bay trên trời.

Một số đặc điểm khác biệt giữa én và yến được ghi trong bảng sau.

so sanh En va Yen

Họ Én hay Họ Nhạn (Hirundinidae) gồm các loài chim dạng sẻ, thích nghi với cuộc sống săn tìm mồi trên không. Xem dưới đây.

Yến thuộc Họ Apodidae (nghĩa là “không chân”). Gọi như thế bởi chân yến không phát triển, rất yếu ớt nên không thể đậu được trên dây điện hay cây ăng-ten như chim én. Xem mục Yến.

Loài điểu học: nhạn bụng trắng – barn swallow (Hirundo rustica)

Trong số các loài nhạn thuộc Họ Nhạn (Hirundinidae) ở Việt Nam, nhạn bụng trắng có số lượng nhiều nhất, phân bố rộng nhất và sống gần con người nhất. Vì thế, hẳn đây là loài chim đi vào văn học–nghệ thuật Việt Nam dưới tên “nhạn” và “én”. Nhạn bụng trắng cũng phân bố rất rộng toàn thế giới, vì thế không loại trừ đó cũng là loài nhạn mang tin của Tô Vũ rồi đi vào văn thơ và nhạc Việt.

Nhạn bụng trắng có thân dài 15cm (không kể chiều dài đuôi ở con trưởng thành). Lưng đen xám (sáng bóng màu lam sẫm như ánh thép dưới ánh sáng trực tiếp). Gốc mỏ trên và họng màu nâu. Bụng trắng xỉn đều hoặc pha nâu nhạt. Đuôi chẻ sâu, để lộ dải trắng lúc xòe đuôi trong khi bay. Chim non có màu xỉn hơn.

Di trú ở khắp các vùng trong cả nước Việt Nam, có các quần thể sống định cư ở Bắc Bộ. Phổ biến, thỉnh thoảng gặp đàn rất đông.

Sống ở đồng ruộng, làng mạc, những chỗ trống trải có cây cối thấp gần nước mặt, thành phố. Có khắp nơi trong nội thành Saigon, nhưng thường ngày rất khó quan sát vì loài chim này hầu như lúc nào cũng bay. Với cách bay giang rộng đôi cánh và lượn theo các dòng khí nóng nên chim có thể bay cả ngày mà không biết mệt mỏi. Chim chỉ đậu khi đã ăn no và chỉ nghỉ chân một đến hai lần mỗi ngày. Tránh rừng rậm và nơi có dốc núi. Làm tổ hình chiếc tách từ bột viên bùn ở nhà kho, chuồng gia súc, gầm cầu…

Có hiện tượng lạ mà nhiều người kể cả tôi đều chiêm ngưỡng một cách mê mẩn. Từ tháng 10 đến tháng 3 là mùa trú đông, mỗi sẫm tối hàng ngàn nhạn bụng trắng bay về một khu vực nhỏ dọc đường Silom, Bangkok, đậu trên cáp điện thoại mà ngủ. Ở nhiều đoạn cáp chúng đậu san sát với nhau đến nỗi những con nhạn về muộn phải bay qua bay lại nhiều vòng mới tìm được chỗ trống mà đậu. Khu vực này có nhiều hoạt động mua bán, giải trí và ăn uống về đêm, giao thông tấp nập, tạo ánh sáng và tiếng ồn không khác những khu vực tương tự ở Bangkok, nhưng nhạn bụng trắng vẫn tụ tập về đây mà không tản ra các nơi khác. Thế là con người hoạt động náo nhiệt bên dưới và đường sắt trên cao chạy ầm ầm, nhưng bầy nhạn vẫn ngủ bên nhau ngon lành! Thật ra ở nhiều nơi trên thế giới có hiện tượng nhạn đậu trên dây cáp như thế. Điều lạ là trong thành phố Bangkok mênh mông chỉ có một khu vực nhỏ tiếp đón đàn nhạn đông như thế.

_nhan bung trang

Đớp muỗi

Bút ký

Chim đêm – Tường Linh

Chim đớp muỗi có tài biết khoảng trống không gian nào đang tập trung nhiều muỗi. Thế là cả bầy chim đớp muỗi bay ngang, bay dọc trên vùng giàu “thực phẩm” ấy, mỏ con nào cũng há hoác ra để muỗi tuôn vào. Cứ thế, hết đợt này đến đợt khác. Không có một dụng cụ diệt muỗi nào sánh kịp công năng về lĩnh vực này so với chim đớp muỗi.

Ban đêm, chim đớp muỗi xuất hiện tại các làng quê, đồng ruộng để săn mồi, nhưng ban ngày chúng ngủ trong núi sâu, ít có ai thấy được.

Truyện ngắn

Mùa Xuân nghe tiếng chim – Võ Hồng

Ngày xưa đó, cứ chạng vạng tối, có một con chim đậu ở nóc nhà thả ra từng tràng tiếng ‘chóc… chóc… chóc… chóc… chóc chóc chóc.’ Nhanh hơn mà dịu dàng hơn tiếng chim kéc kéc mồ côi. Chú tôi kêu là con chim đáp muỗi. Xin các nhà thông thái đừng sửa đáp thành đớp. Chắc chắn đến tám mươi phần trăm là con chim đó đi tìm muỗi ăn vào giấc hoàng hôn. Nhưng cái hình ảnh đớp đó thô bạo quá cho một con chim và cho tâm hồn trẻ thơ của tôi lúc đó, tôi còn giữ mãi, nguyên vẹn cho đến bây giờ. Bây giờ, thỉnh thoảng có những buổi chiều ngồi nhớ nhà là nhớ hình dáng và tiếng con chim đáp muỗi.

Trên đồi đất đỏ – Nguyễn Trí

Nằm trên võng nghe tiếng suối nỉ non. Tiếng nỉ non hòa cùng gió chạy xuyên qua ngàn cây. Tiếng giun dế cùng tiếng đập cánh êm đềm của loài chim bắt muỗi…

Tuy mang tên “cú” nhưng cú muỗi không liên quan đến các loài cú thật sự. Các loài cú muỗi thuộc Họ Cú muỗi (Caprimulgidae), có đặc điểm là đôi cánh dài, chân ngắn, mỏ rất ngắn, thường làm tổ trên mặt đất, hoạt động vào ban đêm, săn bướm và côn trùng bay lớn khác. Bộ lông thường vằn vện giúp chim ngụy trang trong tán lá hoặc dưới lớp lá khô trên mặt đất. Cú muỗi đuôi dài là loài chim chuyên bắt muỗi, côn trùng, loài gặm nhấm nhỏ vào ban đêm. Chúng ít khi được trông thấy vì im lặng ngủ nơi kín đáo, khi có động bay đi ngay. Thường đẻ mỗi lứa 2 trứng dưới lớp lá cây khô trên mặt đất. Chim mẹ nôn thức ăn từ diều để mớm nuôi chim non. Không có tổ cố định; chim mẹ thường di chuyển và chim non đi theo.

Sinh cảnh: bụi rậm, có khi vào vườn nhà vùng nông thôn, rẫy cà phê, thậm chí khu dân cư phát triển có sân vườn để kiếm muỗi và côn trùng thích ánh sáng.

Loài điểu học: cú muỗi Á Châu – Indian nightjar (Caprimulgus asiaticus)

_cu muoi A Chau

Thân dài 23-24 cm. Bộ lông vằn vện; chủ yếu màu nâu lẫn xám nhạt với những đốm và vằn từ nâu đến nâu pha xám đậm.

Sinh cảnh: bụi rậm, có khi vào vườn nhà vùng nông thôn, rẫy cà phê, thậm chí khu dân cư phát triển có sân vườn để kiếm muỗi và côn trùng thích ánh sáng.

Định cư trên khắp nước. Thường đẻ mỗi lứa 2 trứng dưới lớp lá cây khô trên mặt đất. Chim mẹ nôn thức ăn từ diều để mớm nuôi chim non.

Đối với tôi, cú muỗi Á Châu là một loài chim thân thương bởi vì nó đến tìm ăn trong khu vườn nhà tôi ở Đồng Nai trong đêm khuya. Trước đây trong một chuyến đi khảo sát thực địa ở miền , khi ngồi xe trong đêm tôi thoáng thấy nó bay vụt lên trong ánh đèn xe; sau này được nghe tiếng kêu đặc trưng: hai hoặc ba tiếng ‘chok’ tiếp theo là một chuỗi những tiếng ‘kru’ nhanh dần và nhỏ dần:
https://www.xeno-canto.org/species/Caprimulgus-asiaticus

Loài điểu học: cú muỗi đuôi dài, chim ục – large-tailed nightjar (Caprimulgus macrurus)

Thân dài 25-29 cm. Như tên gọi, có đặc điểm là đuôi dài. Bộ lông có nhiều vằn vện màu xám sậm và nâu sậm, nói chung chủ yếu màu xám lẫn nâu (như trong ảnh dưới) và cũng có cá thể (phân loài?) chủ yếu màu nâu lẫn xám rất giống cú muỗi Á Châu.

_cu muoi duoi dai

Sống ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới: rừng đất thấp ẩm, rừng ngập mặn, hoặc rừng núi cao, rừng tre.

Định cư trên khắp nước.

Tuy khó thấy, nhưng dựa theo tiếng kêu đặc trưng từng chuỗi hai âm ‘tok tok’ hoặc nhiều âm ‘tok’ thường nghe rõ giữa đêm thanh vắng, có thể tìm ra sự hiện diện của cú muỗi đuôi dài:
https://www.xeno-canto.org/species/Caprimulgus-macrurus

Gà rừng

Thơ

Đất nước đàn bầu – Lưu Quang Vũ

Gánh hát chèo tỉnh Đông
Điệu hát con gà rừng
Cô Xúy Vân giả dại
Cô Xúy Vân không chịu sống yên

Điệu hát chập chờn
Con gà rừng mê sảng
Cô Xúy Vân nổi loạn
Đốt cháy tâm hồn tôi

Đêm nay ta về xuôi…!!! – Hoàng Lê Nguyên
Trôi nhanh đi thuyền ơi!
Trăng đã gác núi rồi
Tiếng gà rừng gáy sáng
Dòng sông trôi… Thuyền trôi…!!!

Loài điểu học: gà rừng lông đỏ – red junglefowl (Gallus gallus)

Gà rừng lông đỏ thuộc Họ Trĩ (Phasianidae), gồm các loài trĩ, công, cút, gà gô, gà lôi, gà so, gà tiền… Gà rừng lông đỏ được chia thành nhiều phân loài khác nhau. Phân loài gà rừng lông đỏ Việt Nam có tên khoa học là Gallus gallus jabouillei.

Gà rừng là thủy tổ của gà nhà. Một dòng gà nhà là gà tre vẫn còn giữ hình thái khá giống với gà rừng.

Thân dài 43-76 cm (kể cả chiều dài đuôi của con trống 28 cm). Chân màu xám chì hoặc nâu, đôi khi đỏ hồng.

Trống: Mào đỏ tươi, trông rất rõ; da mặt và dái tai cũng đỏ tươi; tai có khoảnh trắng trông rất rõ. Phần còn lại của đầu, cổ, ngực trên và lưng trên có màu từ nâu-đỏ đến vàng-cam; hông đỏ-cam; đuôi và lông bao trên đuôi xanh ánh kim loại.

Mái: nhỏ hơn trống, thân nói chung màu nâu xỉn. Mắt nâu hay vàng-cam. Mỏ nâu sừng hoặc xám chì. Cổ có vạch màu nâu hoặc vàng nâu; phần trên cơ thể và sườn có vằn màu nâu tối; ngực nâu hạt dẻ.

_ga rung

Loài định cư, phổ biến rộng khắp các vùng từ Bắc Bộ đến Đông Nam Bộ. Khi vào rừng Mã Đà gần hồ Trị An tôi thường trông thấy gà rừng dù có nạn săn bắt phổ biến.

Chúng rất tinh, và nhanh chóng ẩn nấp khi chỉ có một tiếng động nhẹ. Tổ của chúng rất khó tìm vì thường đẻ trứng ở lùm bụi rậm rạp và được ngụy trang kín đáo.  Khi thấy người tiến đến gần tổ, gà trống có thể hủy hoại cả tổ trứng rồi mới chạy đi trốn.

Sống ở rừng nguyên sinh, thứ sinh, rừng gỗ pha giang, nứa, nương rẫy, vùng đất trống có cỏ cây bụi rậm, thậm chí vào khu gia cư để kiếm ăn. Có thể gặp đến độ cao khoảng 1.800 mét. Gà rừng Việt Nam thường sống thành đôi trong bầy đàn, hoạt động vào hai thời điểm sáng sớm và chiều tối. Buổi tối tìm đến những cây cao dưới 5m có tán lớn để ngủ.

Sinh sản quanh năm. Mỗi lứa đẻ 5-10 trứng. Chỉ con mái ấp trứng và chăm con.

Tiếng gáy của gà rừng trống ngắn và nhỏ hơn gà nhà.

Gà rừng đã được thuần dưỡng và khá dễ nuôi, với điều kiện chuồng trại phải cao, có cây gác ngang trên cao để gà nhảy lên đậu khi ngủ. Khi không có chỗ đậu khỏi mặt đất, chúng không thể ngủ yên.

Xem thêm:
https://socialforestry.org.vn/ga-rung/

Gà sao

Bút ký

Trong những cánh rừng Miền Đông – Nguyên Thảo

… bạn sẽ nhìn thấy những con sóc đùa giỡn bên hốc trên cây cao, con chim gõ kiến mào đỏ đang gõ cốc cốc vào thân cây hay nghe tiếng loạt xoạt của những con gà sao đang bới đất ở đâu đó dưới những lùm cây rậm rạp.

Truyện ngắn

Gà rừng – Dương Huy Hoàng

Thằng Hảo bỗng cười vang lên: – Đâu phải chỉ có hai chú thả gà vào đây đâu! Có cả bầy gà lôi của thầy hiệu trưởng Bảy Trau, gà sao của chú Hai huyện đội, gà tre, gà ác của mấy đứa nhỏ, còn có cả ngỗng, vịt xiêm…

Loài điểu học: gà sao – helmeted guineafowl (Numida meleagris)

Gà sao – hay còn gọi là gà trĩ, trĩ sao – thuộc họ Gà Phi (Numididae)

Thân dài 53-58 cm. Bộ lông xám-đen hoặc xám-nâu, có nhiều điểm trắng nhạt tạo thành hoa văn đẹp. Thân hình tròn trịa, lưng hơi gù, đuôi cúp. Đầu nhỏ so với thân, không có mào mà thay vào đó là các mấu sừng, khi gà trưởng thành cao khoảng 1,5-2 cm. Da mặt và cổ không có lông, lớp da trần này có màu xanh da trời, dưới cổ có yếm thịt mỏng. Chân không có cựa. Cánh ngắn và tròn. Đuôi ngắn. Con non: lông màu cánh sẻ, có những đường kẻ sọc chạy dài từ đầu đến cuối thân.

_ga sao

Ngoài mùa sinh sản thường tạo thành đàn.

Rất khó phân biệt trống mái. Ở một ngày tuổi phân biệt trống mái qua lỗ huyệt không chính xác như các giống gà bình thường. Khi trưởng thành trống và mái cũng hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên, người ta phân biệt được giới tính của gà sao căn cứ vào tiếng kêu của từng cá thể.

Gà sao bay giỏi như chim. Chúng biết bay từ rất sớm, 2 tuần tuổi đã có thể bay. Chúng có thể bay lên cao cách mặt đất từ 6-12 m khi hoảng loạn, nhưng bình thường chạy nhiều hơn bay.

Có thể sống 12 năm ngoài hoang dã. Đẻ mỗi lứa 6-12 trứng. Tổ có nhiều trứng hơn là do có hơn một mái đẻ trứng cùng tổ. Trứng có đặc điểm là ban đầu vỏ rất dầy, trong khi ấp vỏ mỏng dần và cuối cùng nứt thành mảnh cho gà con chui ra, vì thế con non không cần dùng mỏ đục thủng trứng để chui ra như gà thông thường.

Được nuôi khá nhiều ở Việt Nam. Gà sao nuôi có thể đẻ nhiều trứng hơn gà hoang dã nhưng có xu hướng mất bản năng ấp trứng.

Giang sen

Truyện dài

Đất rừng phương Nam – Đoàn Giỏi

… Những con giang sen cẳng cao lêu nghêu, nặng hàng năm bảy cân thịt, bị khớp mỏ, tréo cánh đứng giữa đám sếu đen sếu xám mào đỏ, đầu không ngớt nghiêng qua nghiêng lại ngó theo mấy con ó biển đang lượn vòng trên kênh.

Truyện ngắn

Rừng mắm – Bình Nguyên Lộc

Trọn vùng nầy, ông nội nó đặt tên là Ô-Heo. Nhưng riêng trong trong riêng gia quyến nó thì Ô-Heo chánh hiệu là một cái gò xa ở trên kia, cách mé rạch đến hai dặm hú. Số là hồi trước, ngày đầu tới đây, ông nội nó với tía nó đi kiếm đồ ăn trong rừng, đã gặp nơi đó một ổ heo rừng. Cả ổ heo đều bị sát hại hôm đó và việc canh tác của gia quyến nó về sau nầy đã đuổi thú dữ đi xa.

Tuy nhiên, đề phòng chúng trở lại, ông nội nó đã cấm nó lên Ô-Heo một mình. Thằng Cộc lại thích lên đó, ban đầu chỉ vì Ô-Heo có sức quyến rũ của một trái cấm, nhưng về sau, nó gặp người nơi đó. Ðó là vài người đàn ông và đàn bà, nói là ở xa lắm, cách đó một ngày đường sông. Ðàn ông thì đến để gác quốc, gác nhan sen, còn đàn bà thì để nhổ bồn-bồn về làm dưa bán.

Bút ký

Miền chim hát – Phan Trung Nghĩa

Trong những cánh đồng cỏ cao đến bụng người là nơi làm tổ của các loại chim, cò. Chúng làm tổ rất đơn giản, bẻ những ngọn cỏ năn rồi đan thành cái tổ đặt trên đọt năn, đọt lác… rồi đẻ trứng. Trứng xanh xanh là trứng cò ngà, trứng xám bông đen là trứng chàng nghịch, trứng trắng bông xám là trứng trích cồ, trứng to bằng nắm tay bọn trẻ là trứng diệc, giang sen. Cứ vài chục bước chân là đã gặp một tổ chim.

Loài điểu học: giang sen – painted stork (Mycteria leucocephala)

_giang senGiang sen, còn được gọi là cò lạo Ấn Độ hay nhan sen, thuộc Họ Hạc (Ciconiidae).

Không thể nhầm lẫn: cao trên dưới 1 m, mỏ rất dài màu vàng-cam, đầu màu đỏ pha cam, bộ lông nói chung màu trắng, cánh có những vằn đen uốn lượn, lông bao cánh ngoài 2 bên vai có màu sen hồng rất đẹp; một số lông đuôi phớt hồng. Giò hồng-xám.

Chủ yếu xuất hiện vào mùa đông. Loài di cư ở Đông Bắc, Trung Trung Bộ đến Nam Bộ. Thường gặp ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long như Kiên Giang, An Giang và Cà Mau, cũng gặp ở  (Đồng Nai) và Yok Don (Dak Lak).

Tìm mồi theo bầy ở kênh rạch, các vùng nước nông cửa sông ven biển, vùng sình lầy, rừng tràm và đồng cỏ ngập nước ngọt, hồ và trên các cánh đồng lúa. Chỉ đi trong nước chứ không bơi. Bắt cá bằng cách mở rộng mỏ rồi khua khoắng trong nước. Cũng dùng chân quậy bùn để phát hiện cá, ếch nhái và kể cả rắn. Sau khi ăn no thường đứng yên hồi lâu trên bờ. Làm tổ theo đàn trên cây, thường cùng với các loài thủy cầm khác. Đẻ 1-5 trứng; chim còn trẻ đẻ nhiều trứng hơn. Vào giữa trưa chim bố mẹ dang rộng cánh để che ánh nắng cho con non. Nuốt cá nhỏ rồi mang về tổ ợ ra cho con non ăn.

Năm 1994 gặp 4-5 cá thể ở cửa sông Văn Úc (Hải Phòng) và cửa sông Hồng (Nam Định). Trong những năm gần đây đã gặp ở Bầu Sấu, Vườn Quốc gia Cát Tiên. Số lượng loài này hiện nay đang bị giảm sút, ngay cả ở vùng rừng tràm U Minh là nơi tập trung số lượng cao những năm trước đây hiẹn rất khó gặp. Nguyên nhân chính bởi các vùng bãi lầy, đất ngập nước là nơi kiếm ăn bị mất dần do mở rộng đất nông nghiệp, nơi làm tổ là các rừng tràm thường bị cháy.

Giang sen là loài chim quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam bậc R (hiếm), cấp độ NT (gần bị đe dọa) theo IUCN.

Ghi chú: một phóng sự về chợ bán chim hoang dã đưa ra hình ảnh của “giang sen” nhưng thật ra đó là cò nhạn. Một lần nữa, điều này cho thấy cần có sự thận trọng trong việc dùng tên chim của dân gian so với tên của ngành điểu học.

Giẻ cùi & Phướn

Thành ngữ

Giẻ cùi tốt mã
hoặc:
Tốt mã giẻ cùi

[Ám chỉ những kẻ có vẻ bề ngoài bảnh bao, sang trọng, nhưng bên trong ti tiện, rỗng tuếch, bất tài, vô dụng.]

Ca dao

Giẻ cùi tốt mã dài lông
Bên ngoài hào nhoáng bên trong ra gì!

Vè / Đồng dao

Lông lá thật dài, là con chim phướn

Tài liệu

Giẻ cùi tốt mã – Hoàng Tuấn Công

Trong 3 cách giải thích, thì Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam của Nhóm Vũ Dung đáng ghi nhận hơn cả. Theo đó, sách này giải thích tương đối chính xác về nghĩa đen “một giống chim đẹp, mỏ đỏ, đuôi dài, lông sặc sỡ, tiếng hót không hay” và nghĩa bóng “Hình thức bên ngoài bảnh bao sáng sủa mà đầu óc tối tăm, rỗng tuếch, không ra gì, không làm được gì có ích”.

… Khi bay, màu lông phớt xanh trên đôi cánh bóng mượt của giẻ cùi xòe rộng, cùng cái đuôi dài màu tím xanh viền trắng tha thướt, chấp chới, tỏa sáng trong không trung, trông rất đẹp mắt. Chim giẻ cùi, dân gian còn gọi là chim phướn, chim giải phướn (tên gọi theo cái đuôi dài, trông như cái giải phướn). Ngoài ra, nó còn được dân chơi chim cảnh đặt cho một số cái tên mĩ miều như: phượng hoàng đất, chim loan, loan phượng…

[Hoặc là có sự nhầm lẫn hoặc là dân gian dùng tên “giẻ cùi” để chỉ hai loài chim khác nhau nhưng đều có đuôi thật dài: giẻ cùi và phướn.]

Mang vẻ đẹp tuyệt mỹ, nhưng loài chim giẻ cùi chỉ biết kêu với thứ âm thanh xoèn xoẹt như mài dao, hoặc rít lên như tiếng sáo chói tai, chứ không biết luyến láy hót ca như người ta tưởng. Giẻ cùi lại hay bắt chước tiếng kêu hoặc tiếng hót đơn giản của loài chim khác, với những âm thanh hỗn tạp.

Đặc biệt, giẻ cùi là loài chim rất tạp ăn. Ngoài một số loại hạt, chúng săn cả chuột, ếch nhái, côn trùng, thậm chí là đi phá tổ, cướp trứng và ăn thịt chim non của giống chim khác; chén cả loài côn trùng gớm ghiếc mà tất cả các loài chim khác phải “chào thua”, là bọ nẹt (bọ nẹt đã có dẻ cùi – tục ngữ). Nhưng trên hết, sự bẩn thỉu, ghê sợ đến tột cùng của loài chim mang vẻ đẹp thần tiên này trong mắt dân gian, là nó thích xơi phân chó: “Dẻ cùi tốt mã dài đuôi/ Hay ăn cứt chó, ai nuôi dẻ cùi” (ca dao).

Truyện dài

Câu thơ yên ngựa – Lê Hoàng Yến

Hạnh Hoa đánh một giấc sâu đậm đến mức chẳng hay biết gì cơn mưa rào thảng thốt trong đêm. Lúc nàng thức dậy, mặt trời đã lên cao. Hương mát ban mai tản dần trước tia nắng sớm. Tiếng chim chóc chỉ còn thưa thớt trong vườn. Một con chim phướn đang lặng lẽ tìm sâu nái ở hàng rào vông, thấy người vội chao mình sà thấp biến đi mất dạng, cái đuôi dài lê thê sặc sỡ còn quệt nhẹ trên chòm lá rung rinh.

Loài điểu học: giẻ cùi – red-billed blue magpie (Urocissa erythroryncha)

Có sự ngộ nhận cho rằng giẻ cùi tức là phướn, có lẽ vì hai loài có màu lam tương tự và đều có đuôi dài. Thật ra đây là hai loài riêng biệt.

Giẻ cùi hoặc dẻ cùi còn được gọi là phượng hoàng đất, thuộc Họ Quạ (Corvidae), có đuôi dài nhất trong các loài chim thuộc họ này. Cần ghi nhận là dân gian cũng gọi hồng hoàng là phượng hoàng đất.

Thân dài 65-68 cm kể cả đuôi có thể dài đến 35 cm. Dễ phân biệt: mỏ và chân màu đỏ-cam, đầu và cổ màu đen, lưng, cánh và đuôi màu lam với chót đuôi trắng, bụng xám hoặc trắng, mắt vàng có vòng đỏ.

_gie cui

Sống định cư toàn cõi Việt Nam, gặp tương đối phổ biến đến độ cao khoảng 1.500 mét.

Sống ở rừng thưa hoặc cây bụi gần sông suối, thường đi từng cặp. Tìm kiếm thức ăn cả trên cây và trên mặt đất. Loài chim này được ưa chuộng nuôi làm chim cảnh do có ngoại hình đẹp mắt, vì thế bị săn bắt khá nhiều.

Chim trống rất giỏi bắt chước giọng hót của loài khác nên thanh âm phức tạp, thường có tiếng chói. Chim mái chỉ kêu ‘éc éc’.

Tiếng kêu:
https://www.xeno-canto.org/species/Urocissa-erythroryncha

Loài điểu học: phướn – green-billed malkoha (Phaenicophaeus tristis)

Có sự ngộ nhận cho rằng phướn tức là giẻ cùi, có lẽ vì hai loài có màu xanh tương tự và đều cò đuôi dài. Thật ra đây là hai loài riêng biệt.

Thân dài 56 cm. Đuôi rất dài, mút các lông đuôi trắng. Đặc điểm nhận dạng: nhìn từ dưới lên thấy mặt dưới của đuôi có những khoảnh trắng. Lông màu lam pha xám, ngực màu xanh nhạt hơn. Mặt đỏ sẫm. Mỏ lớn màu xanh cẩm thạch. Không có tập tính gửi trứng vào tổ các loài chim khác. Thường đi từng đôi.

_phuon

Định cư phổ biến từ Nam Trung Bộ đến Nam Bộ, độ cao phân bố đến khoảng 1.600 mét.

Sống ở các loại rừng khác nhau, thảm rừng thứ sinh, tre nứa và vùng cây bụi. Đẻ 2-3 trứng.

Gõ kiến

Truyện ngụ ngôn

Những nghệ sĩ của rừng xanh

Ngày hội của rừng xanh đã đến. Bao nhiêu muôn thú từ khắp nơi đổ về ngày hội. Chim gõ kiến lên giới thiệu chương trình văn nghệ…

Thơ

Không cần chim gõ kiến – Daocongdien
anh cần một con chim gõ kiến để đếm thời gian
một nhánh cây thôi để nhớ thu vàng
lúc trước hình như chim gõ kiến nhiều lắm
chúng gõ rung rinh khu rừng mùa sang

Gọi sầu – Linh Lan
Tiếng con gõ kiến thở dài
Tiếng tim em nén thật đầy. Tương tư!

Vườn yêu thương – Thiên Ân
Mời em về lại vườn yêu
Tiếng chim gõ kiến tròn đều thanh, trong
Tương tư đẫm sắc hoa hồng
Đưa duyên mật ngọt bướm ong khát thèm

Truyện ngắn

Chuyện rừng tràm – Sơn Nam

Năm đó thầy đội kiểm lâm X. vừa đáo nhậm ở lô rừng 321. Thầy ta thích bắn chim nên luôn luôn đích thân bơi xuồng đi rong khắp đường quanh nẻo tắt trong rừng. Cho đến ngày nọ, thầy nghe có tiếng chim gõ kiến, thứ chim chỉ ở vùng đất cao chớ không bao giờ ở nơi rừng tràm trầm thủy. Lấy làm lạ, thầy từ từ bơi xuồng lại ngay hướng đó, lắng tai xác nhận rõ ràng:

– Cóc! Cóc! Cóc! Cóc!

“Chắc là chỗ này chim gõ kiến nhiều lắm”. Thầy đội nghĩ thầm như vậy. Mái dầm khoát nước càng lúc càng hăng.

Người săn chim gõ kiến – Chu Sa Lan

Hốt một nắm kẹo dừa đựng trong cái keo thật lớn thím Ba đưa cho Sáu rồi cười nói.

– Cháu đem về nhà chia cho chị em của cháu. Cháu ráng bắn nhiều nhiều chim gõ kiến để người ta làm thuốc cho con Hỉ. Nó hết suyễn chú thím cám ơn cháu lắm…

Sáu cười vì câu nói thân tình của thím Ba. Nhét nắm kẹo dừa vào túi quần nó bước ra cửa. Bây giờ nó có lý do chính đáng để bắn chim gõ kiến. Ngoài tiền thưởng còn làm cho con gái của chú Ba hết bệnh suyễn. Nghĩ tới đó nó hăm hở trở về nhà. Buổi chiều hôm đó trong lúc ăn cơm nó nói chuyện với má, chị Năm và Sơn về chuyện bắn chim gõ kiến. Ngoài ra nó con hỏi má về bệnh suyễn. Nhưng nó thất vọng vì má cũng hỏng biết. Bà chỉ biết đó là bịnh ho kinh niên.

Sáu thức dậy vì tiếng ồn ào từ ngoài chợ vọng vào. Cửa cái nhà nó mở tan hoang ra nên nằm trên bộ ván nó cũng thấy người ta đang đi đi lại lại nơi nhà lồng chợ. Mùi thức ăn bay vào khiến cho nó cảm thấy đói bụng. Nắng lên đã cao. Bây giờ đang mùa bãi trường nên nó lười biếng không chịu ngồi dậy.

– Mình phải đi bắn chim gõ kiến cho thím Ba…

Ý nghĩ thoáng qua trong trí làm Sáu nhảy tọt xuống đất. Ra sau hè xúc miệng, lận lưng cái ná thun, nhét bịch đạn và kẹo vào túi quần nó đi ra cửa. Thấy má đang đứng nói chuyện với anh Hai Ngươn, nó lỉnh theo đường khác vì sợ bị cấm không cho đi xa bắn chim. Hè năm ngoái đi bắn chim cu nó bị rắn cắn bịnh mất mấy ngày. Do đó má nó đã cấm không cho nó lang thang vào các khu vườn hoang mà người ta đồn có nhiều rắn. Riêng nó biết muốn bắn được chim gõ kiến nó phải đi xa vào tận nơi hoang vu ít người lui tới. Chim gõ kiến vốn ít hơn các loại chim khác, lại nhát hít và dường như nó có cái thính giác đặc biệt có thể ngửi hơi người từ xa. Bởi vậy trong làng không ai nhận bắn nó dù chú ba trả nhiều tiền.

Vừa đi vừa ngốn gói xôi đậu phộng Sáu vào tới sân trường học. Đi qua bên góc sân nó gục đầu vào cái khạp nước mưa uống đầy một bụng. Đây là cái khạp dùng để đựng nước cho học trò uống. Đưa tay áo chùi miệng xong nó theo con đường mòn trở lại chỗ cây dừa lão mà ngày hôm qua đã bắn rơi chim gõ kiến. Nó biết mình đã bắn rớt con chim trống thì thế nào cũng còn con chim mái vì gõ kiến ở có cặp với nhau. Hỏng chừng nó có ổ ở quanh quẩn đâu đây. Nếu vậy thì nó tìm bắt chim con luôn cho chú Ba vì không có cha mẹ thì chim con cũng chết đói. Bắt đem về cho chú Ba nuôi lớn để làm thuốc suyễn cho con Hỉ uống.

Loài điểu học: gõ kiến nâu cổ đỏ – bay woodpecker (Blythipicus pyrrhotis)

Họ Gõ kiến (Picidae) gồm hầu hết các loài chim có chân khỏe với 2 ngón hướng về trước và 2 ngón hướng về sau, tạo thuận lợi cho việc leo trèo. Phần lớn có mỏ khỏe, thường được dùng để khoét lỗ ở thân cây tìm kiếm côn trùng. Sống trong rừng hoặc các khu vực nhiều cây cối. Có tiếng kêu rất chói tai.

Mũi chim gõ kiến có những lớp lông cứng và lông mềm để giúp bảo vệ mũi khỏi bị tổn thương bởi gỗ vụn và mùn cưa trong quá trình đục thân cây.

Lớp lông cứng giúp ngăn dị vật bắn vào lỗ mũi trong khi lớp lông mềm hoạt động như một màng lọc ngăn chặn bụi khi chúng hô hấp. Ngoài ra, chim gõ kiến cũng có một lớp lông đặc biệt bảo vệ mắt.

Gõ kiến nâu cổ đỏ là loài gõ kiến phổ biến nhất ở Việt Nam.

30 cm. Bộ lông màu nâu-đỏ, mỗi bên cổ có một khoảnh lông đỏ thẫm, cánh và lưng có nhiều vằn nâu sậm nằm ngang. Mỏ màu vàng nhạt. Chim mái: đầu màu nhạt hơn, không có màu đỏ thẫm ở hai bên cổ, không gáy.

_go kien

Loài định cư từ Bắc Bộ đến Trung Bộ.

Thường chỉ kêu khi di chuyển. Tiếng kêu dài chói tai rồi thấp dần, gồm vài nốt:
https://www.birdwatchingvietnam.net/science-name/bay-woodpecker-685

Loài điểu học: gõ kiến nhỏ đầu xám – bay woodpecker (Dendrocopos canicapillus)

Đây là loài gõ kiến phổ biến thứ hai ở Việt Nam.

Thân dài 15 cm. Kích thước nhỏ so với các loài gõ kiến khác. Bộ lông màu đen và trắng. Phần dưới cơ thể có nhiều vạch đen nền trắng ngà. Chim trống có nhiều vạch đỏ nhỏ ở phía sau đỉnh đầu. Vai cánh màu đen. Dùng mỏ gõ vào thân và cành cây để tìm mồi.

_go kien nho dau xam

Loài định cư phổ biến khắp các vùng trong cả nước.

Sống ở các vùng rừng, vùng cây bụi thứ sinh và cây bụi vùng ven biển, gặp lên đến độ cao khoảng 1.800 mét. Làm tổ ở hốc cây, đẻ 3-5 trứng.

Hạc

Thơ

Thu xa nguờiBạch Hạc
Thu đã về trên đôi bàn tay
Hồn Thu gợi nhớ đôi vai gầy
Lá vàng trải lối con đường mộng
Thổn thức bên trời cánh hạc trông

Cánh hạc đêm trăngVũ Kim Thanh
Người như cánh hạc êm đềm
Xuyến xao mây gió ấm êm tình người

Cánh hạc đơn côiKim Minh Châu Nam
Thấp thoáng hoàng hôn cuối mạn đồi
Hạc buồn sải cánh giữa đơn côi
Mắt trông thăm thẳm miền hư cảnh
Lệ đắng ưu tư xót phận đời!

Hạc ơiLê Vinh Nội Vũ
Ta thương cánh hạc lắm
Ta thương vầng trăng đêm
Thương bờ kia vàng cỏ
Mong ở đó êm đềm.

Lối về ai bỏ ngỏ
Để dáng em hao gầy
Ta đến trong thầm lặng
Nhìn hạc bay vào mây

Âm nhạc

Tống biệt – thơ Tản Đà, Phạm Duy phổ nhạc
Thái Thanh – https://www.youtube.com/watch?v=eKNnrFsEEik

Đá mòn, rêu nhạt, nước chảy, huê trôi
Cái hạc bay lên vút tận trời
Trời đất từ nay xa cách mãi
Cửa động, đầu non, đường lối cũ
Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi

Tiếng sáo Thiên Thai – Phạm Duy
Khánh Ly & Lệ Thu – https://www.nhaccuatui.com/bai-hat/tieng-sao-thien-thai-pham-duy-khanh-ly-ft-le-thu.iRdDS1_WY-.html

Trời cao xanh ngắt, xanh ngắt! Ô… kìa! Ô… kìa!
Hai con hạc trắng bay về, về nơi nao?
Trời cao xanh ngắt! Ô… kìa! Ô… kìa!
Hai con hạc trắng bay về, về Bồng Lai!

* * *

Hạc xuất hiện nhiều trong thơ văn, hội họa và truyền thuyết của Trung Hoa. Vì thế, không loại trừ các tác giả văn học–nghệ thuật Việt dựa theo khuôn sáo về hạc của Tàu.

Theo ngành điểu học, tên “hạc” được dùng cho một số loài chim thuộc Họ Hạc (Ciconiidae), Chi Ciconia, chẳng hạn như hai loài hiện diện ở Việt Nam:

  • hạc cổ trắng (Ciconia episcopus)
  • hạc đen (Ciconia nigra)

Không có loài hạc nào phổ biến ở Việt Nam, ngược lại thậm chí là hiếm, có lẽ xưa giờ vẫn thế bởi vì hạc thích khí hậu ôn đới hơn.

Theo Wikipedia,

Trong khi đó, tên gọi của một số loài của chi Ciconia bằng tiếng Trung có chữ quán (鹳), từ điển Hán-Việt Thiều Chữu giải thích đó là “chim khoang, chim quán. Giống con hạc mà đầu không đỏ, cổ dài, mỏ dài, suốt mình màu tro, đuôi và cánh đen, làm tổ ở trên cây cao”.

Còn từ hạc (鹤) được giải thích là chim hạc, chim sếu, trong tiếng Trung dùng để chỉ các loài trong Họ Sếu (Gruidae).

Như vậy, cách hiểu từ “hạc” trong dân gian không trùng khớp định nghĩa trong ngành điểu học, tức là sếu.

Loài điểu học: hạc cổ trắng – white-necked stork (Ciconia episcopus)

Hạc cổ trắng từng được tìm thấy ở một ít nơi ở Việt Nam, nhưng hiếm, vì thế cơ hội cho các văn nghệ sĩ Việt trông thấy nó mà tức cảnh sinh tình là rất nhỏ. Hơn nữa, sắc lông của loài chim này trông không có vẻ gây ấn tượng đẹp để các tác giả đưa vào thơ văn của họ. Như trên đã ghi, có lẽ thơ văn Việt về hạc chịu ảnh hưởng ước lệ rập khuôn từ Trung Quốc, hơn là do quan sát thật sự trên đất Việt.

_hac co trang

Tôi đưa hình ảnh hạc cổ trắng vào đây để độc giả tham khảo, tuy tôi vẫn tin rằng văn thơ Việt Nam liên quan đến sếu hơn là hạc. Xem thêm mục Sếu.

Hải âu

Thơ

Hải âu – Trần Huy Phương
Thu nhuốm bệnh ngày nhỏ đi, rồi chết
Mùa đông về giương mắt đợi trũng sâu
Góc biển hẹn dù nhỏ chưa lần đến
Anh vẫn về nhớ mãi cánh hải âu …

Hải âu đi giữa hoàng hôn – Tú Ân
Hoàng hôn trời thấp mây buồn
Hải âu mỏi cánh tìm ghềnh đá xưa
Thời gian lặng lẽ giao mùa
Sóng chồm cơn sóng đi qua đỉnh sầu

Thuyền trăng – Phạm Thiên Thư
Sao như bầy hải âu
Quay quanh thuyền ánh sáng
Chở khối tình quá vãng
Xuôi về đâu – Về đâu?

Truyện ngắn

Mùa Xuân nghe tiếng chim – Võ Hồng

Nhớ có lần tôi dạy học, học trò đem tới lớp một con hải âu. Tôi đặt nó đứng trên bàn, tay vuốt ve cái ức, cái lưng. Màu lông trắng, dáng thon đẹp. nhưng nhìn cái mỏ thô bạo, đôi chân vạm vỡ, tôi không thích. Nó cứ đứng ủ rủ nhìn xuống lớp đông một cách sợ sệt. Vừa lúc đó có một học sinh cầm lên một cái thẩu nhỏ đựng đầy nước, trong đó có bốn, năm con cá rô bơi lội. Hôm nay giờ Khoa học, học về lớp Cá. Cái thẩu vừa đặt lên bàn cạnh tôi thì, có thể tường tượng được không, nhanh như chớp, con chim hải âu thò cổ tới, xớt một con cá, nuốt gọn. Vừa hùng hục xông tới nữa. Tôi lật đật kéo lui ra xa. Nhìn đôi mắt rực sáng, nét mặt tỉnh táo, cái đầu quay qua quay lại một cách sốt ruột, cái mình rướn tới… nghĩ đến con cá mới nhởn nhơ bơi lội, tôi gọi người học sinh lên trả lại con hải âu.

Mười giờ – Võ Phiến

Ông nhìn qua cửa kính, theo dõi lũ chim hải âu từ đâu ngoài bãi mới kéo vào khu phố này, lượn thấp trên các mái nhà, sà cả xuống mặt đường. Ông đứng lên, mở cửa, bước ra hiên xem hải âu chúng nó làm gì! Xem ra chúng cũng chẳng làm gì đáng kể: không ăn không uống, không tìm sâu tìm hạt gì, chúng chỉ bay lên bay xuống, lượn đi lượn về rà rà khắp xóm vậy thôi. Có con đậu lên một chiếc tán đèn bên đường, một con hải âu xám trên chót đỉnh một cột đèn, đậu và phóng uế, xong lại bay đi, vậy thôi.

Những bông hoa hoang dã – Phạm Chí Dũng

Đã từ bao nhiêu vòng quay của vũ trụ, cánh hoa dập dìu vô mục đích, vô bờ bến, bị chìm vào biển nước rồi lại nổi lên, bọt trắng xóa. Một làn gió nhẹ hoặc một cánh chim hải âu nào đó cũng có thể đem đến nỗi sợ hãi mơ hồ.

Truyện dài

Chuyện tình – Khúc Thụy Du

… Tôi nheo mắt nhìn ra phía trước, một luồng sáng chênh chếch chiếu xuống bãi biển, biến mặt cát ẩm thành một vệt trắng. Trên nền trời một cánh chim hải âu vọt lên với đôi cánh giang rộng, quay ngoắt bằng một động tác thật dứt khoát rồi bất ngờ lao thẳng xuống mặt biển dậy sóng thẳng băng như một mũi tên vừa rời khỏi cánh cung.

Ký sự

Mùa hải âu săn mồi ở miền Tây – Phạm Ngôn

Khoảng 10 ngày nay [06/03/2019], chim hải âu về từng đàn săn mồi trước cửa sông Kiên, TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Đã nhiều năm nay, hễ đến tháng 2, tháng 3 hàng năm, chúng lại về khu vực này để săn cá đồng theo con nước ra biển. Sở dĩ chim hải âu về nhiều bởi mùa này, nước từ nội đồng tỉnh Kiên Giang được xả ra cống sông Kiên và ra biển. Một số loài cá nước ngọt từ nội đồng theo đó cũng ra vùng nước mặn. Gặp vùng nước đổi vị, các loài cá này bị “chối nước” và sống vật vờ, nhiều con di chuyển chậm chạp, thậm chí nỗi lờ đờ trên mặt biển. Đây là điều kiện thuận lợi để chim hải âu về tìm thức ăn. Nhiều nhiếp ảnh gia từ các tỉnh, thành phố về đây săn ảnh.

* * *

Nguyễn Cử et al. (2000) chỉ ghi một loài hải âu ở Việt Nam nhưng ít gặp, là một loài chim biển (tiếng Anh: shearwater) thuộc Họ Hải âu (Procellariidae), và ghi đến 9 loài mòng bể (tiếng Anh gồm gull và tern) thuộc Họ Laridae. Trang Wikipedia gọi các loài này là mòng biển, mòng bể, mòng hay hải âu, và nhiều người hẳn cũng không thể phân biệt hải âu với mòng biển. Ví dụ như tựa quyển sách nổi tiếng Jonathan Livingston Seagull được dịch ra tiếng Việt là Hải âu Jonathan Livingston thay vì theo tên điểu học là Mòng biển Jonathan Livingston. Và một hội nhiếp ảnh đến mùa nói là đi săn ảnh “hải âu” nhưng những bức ảnh họ chụp được thật ra là mòng biển. Lại thêm khoảng cách giữa dân gian và ngành điểu học!

Trong số các loài mòng biển ở Việt Nam, mòng biển đầu nâu và mòng biển đầu đen là phổ biến nhất. Hai loài có hình thái và tập quán sinh sống khá giống nhau, nên khó phân biệt ngoài hoang dã.

Loài điểu học: mòng biển đầu nâu – brown-headed gull (Larus brunnicephalus, Chroicocephalus brunnicephalus)

Thân dài 41-45 cm, hơi lớn hơn mòng biển đầu đen. Vào mùa hè, chim trưởng thành có đầu màu nâu nhạt hơn mòng biển đầu đen, thân màu xám nhạt, mỏ và giò màu đỏ. Vào mùa đông, đầu không còn mầu nâu mà chỉ có những vệt sẫm thẳng đứng. Đây là hình thái khi chim đến trú đông ở Việt Nam.

Chim 2 tuổi mới trưởng thành. Chim 1 tuổi có chót đuôi màu đen và cánh có nhiều vệt sẫm hơn, vì thế khó phân biệt với mòng biển đầu đen.

_mong bien dau nau

Giống như hầu hết các loài mòng biển khác, chúng là loài rất thích sống thành bầy đàn kể cả mùa đông, khi ăn hoặc trong chỗ ngủ buổi tối. Chúng không phải là một loài sống xa đất liền nên hiếm khi nhìn thấy ở vùng biển xa ngoài khơi.

Loài di cư phổ biến ở vùng ven biển đồng bằng Sông Hồng và Nam Bộ. Được tìm gặp ở bờ biển, sông, hồ và cánh đồng trống. Kiếm ăn và ngủ theo đàn đông. Rất ồn ào. Làm tổ trên mặt đất. Thường đi kiếm ăn ở bến cảng và khu đô thị gần bờ biển để tìm xác chết động vật và thức ăn thừa trong rác.

Loài điểu học: mòng biển đầu đen – blacked-headed gull (Larus ridibundus)

Thân dài 38–44 cm, hơi nhỏ hơn mòng biển đầu bâu. Dấu hiệu nhận dạng là khi chim bay thấy bờ viền trước của cánh màu trắng. Vào mùa hè, chim trưởng thành có đầu màu nâu sậm chứ không đen hẳn (tuy nhìn xa thấy giống như đen), thân xám nhạt, mỏ và giò màu đỏ. Vào mùa đông, đầu màu trắng với một vết màu sẫm phía sau mắt. Đây là hình thái khi chim đến trú đông ở Việt Nam.

Chim 2 tuổi mới trưởng thành. Chim 1 tuổi có viền đuôi màu xám sậm và cánh có nhiều vệt sẫm hơn, vì thế khó phân biệt với mòng biển đầu nâu.

_mong bien dau den

Loài di cư phổ biến ở vùng ven biển đồng bằng Sông Hồng đến Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ và Tây Nam Bộ. Kiếm ăn và ngủ theo đàn đông. Rất ồn ào.

Trong hoang dã, có thể sống đến hơn 30 năm.

Họa mi

Ca dao

Họa mi ai vẽ nên mi?
Dáng thì mi đẹp, hót thì mi hay

Thơ

Họa mi ơi thôi đừng lảnh lót – Diệp Minh Tuyền
Họa mi ơi, thôi đừng lảnh lót
Cho buồn lòng ta lúc chia tay
Em đi mãi biết bao giờ trở lại
Sao chẳng mang tiếng chim hót theo cùng

Họa mi ơi, thôi đừng lảnh lót
Hót làm chi nào có ai nghe
Chỉ còn ta, người tình đã khuất
Người đi rồi tim ta tắt tiếng theo.

Như đá ngàn năm – Hà Huyền Chi
Sỏi đá cũng ngời lên dáng ngọc
Cành khô mang ý đẹp xuân thì
Với nhau là cả trời mơ ước
Đời mãi xôn xao tiếng họa mi

Nỗi niềm chim họa miTamMuội
Đêm qua mưa gió ngập trời
Sáng nay hồng sẫm toả ngời thế gian
Tinh hương hoa sữa nhẹ nhàng
Thoắt chân rảo bước hành lang xem gì

Dường như lặng tiếng họa mi
Líu lo thánh thót mỗi khi kia mà
Sao nàng chẳng chịu ngân nga
Kiệu rướt về nhà võng lộng lồng son

Có còn nhớ khôngNguyễn Bá Truyền

Em nhớ không mùa hoa cũ?
Đông về trắng xóa đường quê
Họa mi dịu dàng thầm nhủ
Em có về kịp đam mê?

Em nhớ không mùa hoa cũ?
Chiều nao vạt tóc nào vương
Cho anh thương người em nhỏ
Họa mi bối rối bên đường

Truyện ngắn

Nhạc chim – Ma Văn Kháng

Họa mi ai vẽ nên mi. Dáng thì mi đẹp hót thì mi hay”. Ôi tiếng hót của con họa mi trong vắt như tiếng vàng tiếng bạc, nó khiến cậu bé Biền có lúc mê mẩn mà quên cả học bài…

Âm nhạc

Ca khúc Họa mi hót trong mưaDương Thụ
Tiếng mưa rơi ngoài hiên
gió mưa như lạnh thêm
có con chim họa mi
hót trong mưa buồn lắm

Khi được hỏi ông sáng tác ca khúc này trong hoàn cảnh nào, Dương Thụ chia sẻ:

Tôi thường viết bài hát những lúc “im lặng” và những khi cảm thấy hơi buồn. Khi viết Họa mi hót trong mưa, tôi ở Tp HCM và sống rất khó khăn. Nghèo và ít được hiểu. Hoàn cảnh như thế không hiểu sao lại viết được bài Họa mi hót trong mưa (cười). Các bạn đừng hiểu lời bài hát theo nghĩa đen, hãy hiểu những gì ở đằng sau nó. Tôi chả bao giờ sáng tác dành cho ai cả, ngay cả khi các cô ca sĩ đặt bài.

Người viết như tôi không có khả năng viết những gì ngoài bản thân mình. Cái riêng tư ấy là của mình, chẳng để dành tặng ai. Nhưng khi bài hát được cất lên thì tự nó đi tìm người nghe. Người nào thích thì nghĩa là người ấy được tôi tặng đấy! Như bạn chẳng hạn. Nếu bạn yêu thích bài hát đó thì đấy chính là bài hát tôi tặng cho bạn.

Video trình diễn sống, Hồng Nhung:
https://www.youtube.com/watch?v=TwT4sQy6CHY

Video trình diễn sống, Khánh Linh:
https://www.youtube.com/watch?v=TJbCPwKMZRI

Loài điểu học: họa mi – hwa mei (Garrulax canorus)

25cm. Không thể nhầm lẫn, do màu nâu hạt dẻ toàn thân (đậm nhạt tùy vùng miền sinh sống), bụng thường nhạt hơn), vành mắt màu trắng kéo dài ra phía sau, mỏ vàng. Đây là loài chim nuôi để hót phổ biến.

_hoa mi

Chim hoang dã sống định cư, gặp lên tới độ cao khoảng 1.200 từ Bắc Bộ đến Bắc Trung Bộ. Có thể gặp ở Nam Bộ là do chim nuôi xổ lồng.

Họa mi chủ yếu sống ở khí hậu mát, lạnh; có thể gặp ở cây bụi, chỗ rậm rạp ven chân đồi, cạnh nương rẫy, thậm chí vườn tược.

Họa mi được xem là một trong hai loài chim có tiếng hót hay nhất; loài kia là sơn ca.

Hình ảnh và tiếng kêu:
https://www.birdwatchingvietnam.net/bird/chinese-hwamei-867

Hồng hoàng

Ký sự

Chuyện Sài Gòn từ những chú chim non gặp nạn – Trung Thanh

Với những người mới đam mê chụp ảnh chim trời, sự xuất hiện của chim thiên đường, chim hồng hoàng tuyệt đẹp thời gian gần đây ở khu vực nội thành TP.HCM là một tín hiệu vui. Nhưng lớn lên ở TP.HCM từ nhỏ, anh Nhựt lại cảm thấy bùi ngùi: “Chim thiên đường, hồng hoàng đã từng hiện diện ở Sài Gòn từ nhiều năm trước. Theo mình biết, từng có hai con chim hồng hoàng làm tổ trong hốc cây cổ thụ ở gần công viên Tao Đàn. Loài chim này chỉ làm tổ ở những tán cây rất cao. Vì thế, khi những hàng cây cổ thụ như ở đường Tôn Đức Thắng, Nguyễn Đình Chiểu không còn thì nhiều khả năng chim sẽ bay đi nơi khác. Chim thiên đường cũng vậy, phải có quang cảnh hoang sơ, nó mới ở. Thành phố mà mất dần mảng xanh thì chim đẹp cũng sẽ ít dần”.

Đảo Ngọc đã không còn bình yên… – 8saigon

Đảo Phú Quốc nằm trong chính sách khu bảo tồn quốc gia dường như chỉ là danh xưng để thu hút khách du lịch. Để xây các khu resort nghỉ dưỡng bên bờ biển, chủ đầu tư cắt xẻ các con đường núi, cạo nham nhở các cánh rừng nguyên sinh dẫn xuống biển. Công trình đô thị mọc lên như nấm với bê tông, cốt thép, đường nhựa, xe ủi…

Một đoạn dài từ thị trấn Dương Đông đến Bãi Cạn, rừng xanh bị cắt xẻ, san ủi bởi VinGroup. Hòn đảo xanh mướt bỗng trở nên xôi thịt bởi các công trình công viên nước, căn hộ theo mốt phương tây lỗi thời y như các khu vui chơi giải trí trên núi Bà Nà. Vùng bờ sông ngập mặn nơi loài chim ăn trái Hornbills – hồng hoàng thường băng rừng ghé xuống ăn cây trái nay bị con đường nhựa và một khu căn hộ cao cấp lấn chiếm toàn bộ. Loài chim quý này bay xao xác, đậu bất an trên những cành cây vắt qua đường nhựa. Cạnh đó, hàng loạt cây rừng bị tập đoàn này đốt và đốn ngã.

Loài điểu học: hồng hoàng – great hornbill (Buceros bicornis)

Hồng hoàng hay phượng hoàng đất là thành viên to lớn nhất trong Họ Hồng hoàng (Bucerotidae). Cần ghi nhận là dân gian cũng gọi giẻ cùi là phượng hoàng đất.

Thân dài 95-120 cm, với sải cánh dài tới 1,5 mét và cân nặng 2-4 kg. Đặc trưng nổi bật nhất của hồng hoàng là phần mũ mỏ màu vàng tươi và đen trên đỉnh chiếc mỏ lớn của nó. Mũ mỏ rỗng bằng keratin hay chất sừng (một protein dạng sợi) kéo dài từ phần phía trên mỏ cho đến xương sọ và chưa rõ mục đích để làm gì mặc dù người ta tin rằng nó là kết quả của chọn lọc giới tính. Chiếc mũ mỏ này chiếm 11% trọng lượng cơ thể con chim. Hồng hoàng trống rỉa lông để bôi chất nhờn màu vàng vào lông cánh cũng như mỏ để làm cho chúng có màu vàng tươi.

_hong hoang

Hồng hoàng mái nhỏ hơn và có mắt màu xanh lam thay vì mắt đỏ.

Trong mùa giao phối, đôi hồng hoàng hót rất to. Chim trống bắt đầu bằng một tiếng ‘kok’ mỗi giây, rồi chim mái phụ họa theo. Rồi cả đôi cùng hót, tạo nên âm thanh vang lừng.

Hồng hoàng mái làm tổ trong hốc thân cây lớn và cao, dùng phân làm thành vữa để bịt miệng tổ nhằm ngăn chặn kẻ thù như rắn. Chim mái chỉ chừa một khe hẹp của lớp trát cho chim trống đưa thức ăn vào. Chim mái tự giam mình trong tổ cho tới khi chim non phát triển tương đối. Trong thời kỳ này chim mái thay lông hoàn toàn. Mỗi lứa đẻ chỉ có 1-2 trứng và được ấp trong 38-40 ngày.

great hornbill feeding_Peter Crook
Chim trống mớm mồi cho chim mái trong hốc cây. Ảnh: Peter Crook

Mẹ con đều phụ thuộc vào thức ăn do chim trống đưa đến qua khe hẹp. Chim mái làm vệ sinh tổ bằng cách dùng mỏ nhặt những cục phân trong tổ đưa ra ngoài qua khe hẹp, và từ tuổi 2 tuần chim non cũng biết làm như thế.

Chim non mới nở không có lông. Khi chim non có lông khá, chim mái phá lớp trát để ra ngoài rồi bịt lại miệng tổ, chỉ chừa một khe hẹp như trước. Từ lúc này, cả chim trống và chim mái kiếm mồi về nuôi chim con ngày càng háu ăn.

Hồng hoàng tạo thành cặp một vợ một chồng nhưng sống thành bầy có thể đến 40 cá thể. Tuổi thọ: 50-60.

Một số ít hồng hoàng đã thuần hóa trong nuôi nhốt nhưng hành vi của chúng được mô tả như là căng thẳng. Rất khó cho chim mái làm tổ và ấp trứng trong điều kiện nuôi nhốt tuy đã có trường hợp hiếm hoi thành công .

Chính cái sừng của chim trống là đối tượng bị truy lùng, bởi vì giá mỏ sừng cao gấp 3 lần ngà voi. Hồng hoàng được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam để bảo vệ.

Hồng tước

Truyện ngắn

Nhạc chim – Ma Văn Kháng

… Tất nhiên cao giá nhất thì phải là họa mi, nhồng cưỡng, bạc má, hồng tước…

Loài điểu học: phường chèo đỏ lớn – scarlet minivet (Pericrocotus flammeus)

Giới nuôi chim gọi chim trống là hồng tước là chim mái là hoàng tước.

Thuộc Họ Phường chèo (Campephagidae). Thân dài 20cm. Chim trống: đầu và lưng đen, còn lại màu đỏ rực hoặc đỏ pha cam. Chim mái: đầu và bụng màu vàng nhạt nhuốm đỏ và vàng cam, phần còn lại xám sậm.

_phuong cheo do

Phân bố khắp các vùng rừng trong cả nước. Sống định cư và làm tổ, gặp ở nhiều nơi, đi thành bầy.

Sinh cảnh sống: Các vùng rừng, lên đến độ cao khoảng dưới 2.000 mét.

Tiếng kêu: ‘s-uychơ, s-uychơ’ hai âm tiết kêu ngắt quãng 2-3 giây.

https://birdwatchingvietnam.net/vietnamese-name/scarlet-minivet-258

Hút mật

Thơ

Tự tình cùng đất nước – Trần Yên Hòa
Có loài chim hút mật
Cất tiếng kêu yêu thương
Rủ tôi về vùng trời hồng
Đó là đất nước, phải không?

Tình ngọt mùa chôm chôm – Nhất Chi Mai
Như những bông cúc xanh mơn mởn
Yêu kiều như những thôn nữ dịu dàng
Mời gọi lũ chim hút mật ngó nghiêng
Nghe tiếng chân người vụt tung cánh biếc

Mùa hoa gạo – Gió Phương Nam
buổi sớm tinh sương vương hơi thở trên đồi
từng bầy chim bay về kêu lảnh lót
chích chòe, sáo nâu… râm ran đắng đót
hút mật hương hoa cho tiếng hót vang trời

Loài điểu học: hút mật đuôi nhọn – fork-tailed sunbird (Aethopyga christinae)

Họ Hút mật (Nectariniidae) gồm các loài chim nhỏ ăn mật hoa, có tên gọi chung là hút mật, bắp chuối, bảy màu…, có mỏ dài và cong thích hợp cho việc hút mật hoa. Chim trống thường có màu sặc sỡ pha ánh láng bóng; ngược lại chim mái có màu sắc rất đơn giản.

Hút mật đuôi nhọn có thân dài 9 cm (không kể đuôi chim trống). Chim trống: Như tên tiếng điểu học, đuôi nhọn và chẻ làm hai. Đầu và đuôi lam pha lục sáng bóng giống như đầu; họng, vùng tai và ngực trên đỏ thẫm; bụng màu trắng xỉn. Chim máichim non: lưng màu ô-liu nhạt hơn, chuyển màu xám ở đỉnh đầu, mặt bụng phớt vàng.

_hut mat duoi nhon

Phân bố từ Bắc Bộ đến hết miền Đông Nam Bộ.

Sống định cư, gặp tương đối phổ biến.

Sinh cảnh sống: Rừng và cây bụi thứ sinh, và còn gặp ở vườn.

Tiếng kêu: Thay đổi, giọng cao, nghe ríu rít và sôi nổi, còn có tiếng kêu âm vang ‘chí-chíp-chíp’:
https://www.xeno-canto.org/species/Aethopyga-christinae

Loài điểu học: hút mật họng tím – olive-backed sunbird (Cinnyris jugularis)

Thân dài 11 cm. Chim trống: Như tên tiếng điểu học, họng màu tím (có khi xanh lam) và lưng màu ô-liu. Ngực màu xanh ánh kim loại. Bụng và bao dưới đuôi vàng sáng. Chim mái: Ngực, bụng và bao trên đuôi vàng. Mút lông đuôi chim trống và mái trắng.

_hut mat hong tim

Loài định cư, phổ biến trên cả nước, đặc biệt ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

Sinh cảnh sống: Rừng thứ sinh, thảm cây bụi, gần làng bản.

Tiếng kêu: êm dịu ‘zwink–zwink’ và chuỗi âm thanh hơi chói:
https://www.xeno-canto.org/species/Cinnyris-jugularis

Kền kền

Truyện ngắn

Sông Gành Hào – Sơn Nam

Chiếc bè trôi lên trôi xuống theo nước lớn nước ròng. Hai cha con Tư Ðức ngồi cú rũ bên chuồng nọ. Thỉnh thoảng, chú nhắc chừng thằng bé, bảo nó chọc cho con heo, con chó kêu lên.

Trên này, ông Rốp mãi theo dõi, nhưng lần lần thất vọng. Qua ba ngày sau, miếng mồi (con heo) đã sình nổi lên, diều quạ, kên kên bu lại kêu ỏm tỏi, chú bèn thọc huyết con heo còn lại mà thay vào.

Loài điểu học: kền kền Bengal – white-rumped vulture (Gyps bengalensis)

Đây là loài kền kền bản địa của Nam Á và Đông Nam Á.

_ken kenThân cao 75-93 cm, nặng 3,5-7,5 kg, loài nhỏ nhất trong Chi Gyps. Bộ lông có màu sẫm với phần lưng và phao câu màu trắng bẩn, đầu xám phớt hồng nhạt, mỏ sậm có ánh bạc.

Tuy tài liệu chỉ ra rằng kền kền Bengal định cư ở vùng Trung Nguyên, nhưng sự hiện diện không được xác định cụ thể.

Tương tự như nhiều loài kền kền khác trên thế giới, kền kền Bengal đang bị đe dọa tuyệt chủng. Trong thập niên 1980, số lượng loài này trên thế giới ước tính khoảng vài triệu cá thể, và nó được cho là “loài chim săn mồi lớn có nhiều nhất trên thế giới”. Một thời kền kền Bengal phân bố từ Ấn Độ kéo dài đến Đông Nam Á kể cả Việt Nam. Tính đến năm 2016, dân số toàn cầu được ước tính dưới 10.000 cá thể trưởng thành. Sự sút giảm mạnh là do con người có ác cảm với kền kền, loài ăn thịt thối, nên giết vô tội vạ kền kền. Thật ra, kền kền có vai trò rất hữu ích trong hệ sinh thái: giúp dọn dẹp làm sạch môi trường và ngăn chặn dịch bệnh lây lan. Dạ dày kền kền có khả năng giết nhiều vi trùng gây bệnh trong xác thối mà nếu không được dọn dẹp hệ sinh thái sẽ gặp đại họa.

Ấn Độ đang nhân giống kền kền để thả trở lại vào hoang dã.

IUCN xếp kền kền Bengal vào hạng CE (cực kỳ nguy cấp).

Khướu

Thơ

Thu Hạ Long – Lưu Trọng Lư
Đôi hài nhè nhẹ bước ra
Màn đêm cuốn lại, mặt hoa rạng dần
Mừng sương tan, khướu hót gần
Rừng xa thông vút điệu đàn hoà âm

Cuối Thu – Bích Khê
Hồn sao không động mà say!
Chà đôi chim khướu nó bay tung trời!
Nhạc đâu bỗng vút từng khơi
Hồn theo với nhạc, hồn ơi là hồn!

Hương mùa mới – Lương Tú
Hớn hở bầy chim tung cánh lượn
Tưng bừng lũ khướu vễnh mình ngân
Làng quê thắm đượm hương mùa mới
Sảng khoái sum vầy với bạn thân.

Mặc mưa bay – Phùng Quang Thuận
Mặc bọn khỉ đùa vui tán loạn
Bầy công xoè vũ khúc kiêu sa
Mặc con khướu
Hót khúc ban chiều buồn diệu vợi
Nắng nhạt thướt tha trên thân cỏ úa mềm.

Trong phố nghe chim hót – Xuân Hoài
Giữa ban trưa nằm nghe chim khướu hót
Gác phố cao mà như ở trong rừng
Cả tiếng cu gù họa mi thánh thót
Chúng kêu van hay chúng vui mừng?

Truyện ngắn

Nhạc chim – Ma Văn Kháng

… đôi tai thẩm âm của ông vẫn nhận ra, chúng cũng không thể át được tiếng gù trầm trầm ấm áp ân tình của mấy con cu gáy cổ đeo hạt cườm, và bọn cà kiễng dẫu sao cũng vẫn là các bà phụ nữ ở nơi họp chợ lắm điều; chúng đậu trên những cành thành ngạch thưa lá, xương xẩu. Cũng vậy thôi, đối nghịch hẳn với chúng là tiếng hót của bọn khướu có chất giọng sang sảng, ngân vang.

Bóng chim – Lê Hoài Lương

Sáng đó, lúc tưới cây, anh phát hiện trong chậu nguyệt quế một con khướu đang run rẩy nép mình. Anh đưa tay về phía nó, con chim hoảng sợ cố chớp cánh nhưng không thể bay nổi. Nó bị thương và đã kiệt sức, trên cánh có vết máu, nhiều lông tã tượi. ‘‘Chim ơi đừng sợ! Tao giúp mày nhé!’’. Chắc giọng nói dịu dàng và vẻ mặt anh khiến con vật yên tâm, nó nằm yên trong tay anh tin cậy. Anh tìm thuốc, cho chim uống và lấy nghệ tươi xức vết thương rồi bỏ vào hộp giấy. Trưa về, anh mua mấy con cào cào khuyến khích chim ăn. Vài ngày, thấy dấu hiệu bình phục rõ, anh mua cho nó cái lồng. Chưa đầy một tuần, con khướu đã hoàn toàn khỏe mạnh.

Vẻ quyến luyến của con khướu khiến anh nảy ý thích nuôi chim, chơi chim, cái thú chơi trước đây anh không ủng hộ vì cho rằng dù ở lồng vàng cũng là sự giam hãm tàn nhẫn nhằm thỏa mãn sở thích con người, khi môi trường sống của chim là trời rộng. Giờ anh thấy giống vật này cũng có thể thích nghi với không gian chật hẹp, và nhất là có tình với chủ.

Loài điểu học: khướu bạc má – black-throated laughingthrush (Pterorhinus chinensis)

Có trên 20 loài mang tên khướu ở Việt Nam, thuộc Họ Khướu (Timaliidae). Các loài trong họ này đa dạng về kích thước và màu sắc, nhưng có đặc trưng chung là bộ lông mềm và xốp như bông. Chúng gồm có các nhóm khướu, họa mi, kim oanh, bồ chao…

Khi văn học–nghệ thuật Việt Nam chỉ đơn giản đề cập đến khướu, thì phần lớn đó là loài khướu bạc má – loài khướu rất quen thuộc với người Việt có phân bố rộng, tiếng hót hay và đa dạng.

27 cm. Khi bay nhìn xa có màu đen, má trắng nổi bật. Lưng nâu pha xám hoặc xám pha nâu, bụng xanh lam pha xám. Cũng có giống lông màu hung hung đỏ (vùng Phú Giáo và Lâm Đồng).

_khuou bac ma

Loài định cư ở nhiều vùng, ngoại trừ Đông Nam Bộ và Nam Bộ. Đi thành đàn nhỏ. Số lượng đang giảm do môi trường sống bị thu hẹp và cũng do nạn săn bắt.

Sống ở các loại rừng già, rừng thưa, có khi cả rừng thứ sinh, chỗ cỏ cây rậm rạp và tre nứa dưới tán rừng, những nơi có độ cao khoảng dưới 1.200 mét. Không sống ở vùng đồng bằng.

Tiếng hót đa dạng, du dương, nghe có tiếng ‘di-iơ-boi di-iơ-boi’ lặp đi lặp lại; khá giống tiếng hót của chim họa mi.

Nghe tiếng hót:
https://www.youtube.com/watch?v=67LT0Y2nth8&t=758s

Ghi chú: tên phân loại cũ là Garrulax chinensis.

Xem lại Mục Bồ chao / Khướu đầu trắng.

Le le

Ca dao

Thương chồng nấu cháo le le
Nấu canh mỏ quạ, nấu chè hạt sen.

Tiền tài như phấn thổ
Nhơn nghĩa tợ thiên kim
Le le mấy thủơ chết chìm
Ðồ tham tiền phụ nghĩa, em tìm làm chi!

Đồng dao

Bắc kim thang

Con le le đánh trống thổi kèn
Con bìm bịp thổi tò tí te tò te.

Xem video Bé Bào Ngư:
https://www.youtube.com/watch?v=dxr8CP8h7vI

Truyện ngắn

Mùa muộn – Đỗ Chu

… tháng hai tháng ba đều đặn, vẫn có từng đàn le le mồng két bay về, bước vào mùa gặt tháng 9 tháng 10 vẫn có những đàn chim ngói trốn đông. Chim trời vẫn giữ nguyên nhịp điệu đi về từ muôn thuở, chỉ cung cách sống của con người là đã khác, khác nhiều quá.

Truyện dài

Chim phóng sanh – Nguyễn Hồ

Cái bàu hoang mùa nước rộng ra mênh mông, sen trắng sen hồng tỏa ngát hương. Chim le le chọn nơi đây làm giang sơn, mỗi lần có tiếng chân người lạ đến chúng chỉ dáo dác một lúc rồi tiếp tục lặn ngụp rỉa mồi như những đàn vịt con.

Loài điểu học: le le – lesser whistling duck (Dendrocygna javanica)

Thân cao 40 cm. Là loài vịt nhỏ, chân dài màu xám pha xanh lam, hình dáng giống ngỗng. Khi bay khá chậm thì đầu thấp hơn thân, chân để dọc theo đuôi ngắn, cánh rộng và bầu.

Chim trống và chim mái giống nhau. Phần dưới cơ thể từ nâu đến nâu pha đỏ, đầu và gáy màu nâu sẫm hoặc nhạt, lưng nâu pha đen có những vệt ngang màu nâu. Mỏ xám. Chim non: pha lẫn hai màu đen trắng.

_le le

Loài định cư phổ biến khắp cả nước.

Sinh cảnh sống: Vùng đồng cỏ, đầm lầy, hồ, kênh rạch, ven rừng và cánh đồng lúa. Thường đi theo bầy đông đảo. Kiếm ăn ban ngày lẫn ban đêm. Các chỗ đậu ngủ đêm của chúng thường rất ồn ào.

Làm tổ trong bọng cây hoặc trong đám lau sậy. Chim trống ấp trứng nhiều hơn chim mái. Mỗi lứa có thể có hơn 10 con non.

Tiếng kêu: Tiếng huýt du dương thường phát ra khi đang bay.

Le le được nuôi đại trà và có thể tự sinh sản trong điều kiện nuôi nhốt.

Manh manh / Mai hoa

Đồng dao & Dân ca

[Có một bài đồng dao/ dân ca về con chim manh manh nhưng bây giờ có ý kiến cho rằng không còn thích hợp cho trẻ em vì nội dung bạo lực, và cũng vì đi ngược với việc bảo vệ loài hoang dã. Vì thế, bài đồng dao đó không được đưa ra đây.]

Thơ

Về quê mẹ – Phùng Hoàng Anh
Vẳng nghe con chim manh manh
Cất lên tiếng hót ngày xanh mái đầu
Ta cầm thương nhớ trao nhau
Nghĩa tình một thuở ngàn sau vẫn đầy

Truyện ngắn

Câu chuyện bên đất Vồng Heo – Hồ Trường An

Áp vào vách tường bên mặt, thấy đặt lồng chim với mái lợp ngói ống, vách lưới sắt chia làm ba từng: từng trên thầy nuôi chim bạch yến; từng thứ hai, thầy nuôi két phụng; từng chót thầy nuôi chim manh manh và chim áo dà.

Truyện dài

Tuấn, chàng trai đất Việt – Nguyễn Vỹ

Ðối với người Hà Nội, cái tên của cô đã là một sự lạ rồi, Nguyễn Thị Manh Manh. Sao lại đặt cái tên dị thường như thế? Phải chăng cô muốn lấy tên một giống chim ở Nam Kỳ, con chim manh manh, bé nhỏ, có giọng hót líu lo khả ái?

Tại sao cô không thích để tên thật của cô là Nguyễn Thị Kiêm mà đáng lẽ phải viết là Nguyễn Thị Kim? Người cô thấp và mập, mặt tròn vo, đôi mắt cũng tròn và to, tròng con ngươi đen nhánh, đầu để búi tóc như hầu hết các thiếu nữ Saigon 1935. Cô Manh Manh xuất hiện trên nền trời Thơ Mới Việt Nam như một ngôi sao chổi, chỉ thoảng qua rồi biến mất. Cô không để lại một bài thơ nào có giá trị, dù là thơ cũ hay thơ mới.

Đất rừng phương Nam – Đoàn Giỏi

Chúng tôi tiếp tục đi tới một cái tráng rộng. Giữa vùng cỏ tranh khô vàng, gió thổi lao xao, một bầy chim hàng nghìn con vọt cất cánh bay lên. Chim áo già màu nâu, chim manh manh mỏ đỏ bóng như màu thuốc đánh móng tay, lại có bộ lông xám tro điểm những chấm trắng chấm đỏ li ti rất đẹp mắt…

Loài điểu học: mai hoa – red avadavat, red munia, strawberry finch (Amandava amandava)

Còn được gọi là manh manh hoặc manh manh ta, mai hoa thuộc Họ Di (Estrildidae), gồm những loài chim nhỏ có thân hình trông giống sẻ.

Thân dài 10 cm. Chim trống: Lông đỏ sẫm có đốm trắng dễ phân biệt. Chim mái và chim trống mùa đông: Mỏ và hông đỏ, phần trên cơ thể nâu có đốm trắng trên cánh. Chim non: Không có hông đỏ và đốm cánh nổi bật.

_mai hoa

Loài định cư ở Bắc Bộ, Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Chủ yếu gặp ở đai thấp, nhưng có thể lên đến độ cao khoảng 1.500 mét. Thường hót thành từng tràng vào buổi sáng sớm. Không thường gặp do bị đánh bẫy nhiều.

Sinh cảnh sống: Phần lớn tìm thấy ở các vùng cây bụi thứ sinh, đồng cỏ, chỗ ẩm thấp và trống trải. Làm tổ trong các bụi cỏ, không cao quá so với mặt đất. Bay nhanh.

Tiếng kêu: ‘psip’ the thé, đặc biệt trong khi bay.

Mỏ nhác / Mỏ nhát

Tối chẳng dám ra
Là chim mỏ nhát

Đồng dao

Chơi nhà chòi
Mỏ nhác cầm chèo
Con mèo bẻ lái

Ký sự

Các giai thoại Nam Kỳ lục tỉnh – Hứa Hoành

Vào những năm cuối thập niên 1920, các văn nhơn, ký giả, các ông hội đồng, thầy cai tổng, càc công tử con nhà giàu thuờng hay lui tới Đông Pháp lữ quán là nơi bán cơm Việt và nhà hàng Quảng Hạp chuyên bán cơm Tây nổi tiếng. Chủ nhà hàng Quảng Hạp là người Hải Nam, nguyên đầu bếp chánh của Thống Đốc Nam Kỳ Cognac, sau đó xin thôi, để mở nhà hàng. Nơi đây thức ăn đúng điệu, khách sành ăn không chê vào đâu được. Các món ăn danh tiếng của nhà hàng Quảng Hạp là chim bồ câu quay, chim mỏ nhác, giỏ giẻ, óc cau, chàng nghịt… rô ti. Thuở đó vào đầu mùa khô, các loại chim ấy ăn lúa no, mập tròn, bán tràn ngập ở Sài Gòn, Chợ Lớn.

[Giỏ giẻ tức là vỏ vẻ. Xem thêm các mục Chàng nghịch, Ốc cao / Chim ốc, Vỏ vẻ.]

Loài điểu học: choắt mỏ cong bé – whimbrel (Numenius phaeopus)

Mỏ nhát hoặc mỏ nhác là tên dân gian gọi các loài choắt mỏ cong. Có hai loài choắt mỏ cong tương đối phổ biến ở Việt Nam, ở đây chỉ giới thiệu một loài biểu trưng.

Choắt mỏ cong bé thân dài 40 cm. Mặt lưng xám-nâu, mặt bụng nhạt hơn. Khi bay thấy phần lưng trên đuôi không rõ màu và nhiều sọc đậm ở dưới cánh, nhưng ở một số con lại thấy phần lưng trên đuôi có màu trắng óng ánh và phần dưới cánh có màu trắng hơn. Mắt nâu. Mỏ nâu sừng thẫm với gốc mỏ và mỏ dưới nâu hồng. Chân xám lục nhạt hay lục nhạt.

_choat mo cong be

Loài di cư đến đồng bằng Bắc Bộ, Nam Trung Bộ (trừ Tây Nguyên) đến Nam Bộ. Hằng năm vào Tháng Chín, Mười gặp hàng đàn dừng lại ở dọc bờ biển Thừa Thiên trên đường di cư xuống phương Nam.

Mồng két / Mòng két

Truyện ngắn

Bầy mòng két trở về – Nguyễn Quang Thi

Sáng qua dậy sớm, Lân nhận ra một bầy mòng két chừng dăm con trở về ăn sớm ở đầm Lai ven chân dãy đồi. Đã bao nhiêu năm nay bầy mòng két đã không trở về khu đầm Lai. Và mỗi lần mơ thấy mòng két trở về. Lân lại mơ thấy tiếng súng săn vang lên. Anh tỉnh giấc và nằm nghĩ lan man.

Mười năm trước, khi Lân đặt chân đến nông trường ở vùng đồi này, mòng két còn đông lắm. Cứ mờ sáng, Lân lại tỉnh giấc bởi tiếng đập cánh của hàng trăm con mòng két bay về đầm Lai ăn sớm. Những ngày đầu Lân cứ ngỡ trời đổ mưa. Lúc rảnh rỗi, Lân hay lang thang dọc bờ đầm xem bầy mòng két lội kiếm ăn trong những đám cỏ lác xanh rì.

“Trinh nữ” – Lê Ngọc Minh

Doãn thích thú cùng chị An lao ra sông. Chị An bơi nhanh và làm động tác hệt như nàng tiên cá trong phim. Người chị mềm mại, uốn lượn dẻo oặt trong màn nước trong suốt như kính, thật chẳng khác như nàng tiên cá. Cứ bơi được một đoạn xa chị lại dừng và đứng thẳng người lên, tay vẫy, miệng nở cười đợi Doãn. Là lần đầu bơi vượt sông Mã nên Doãn chưa có kinh nghiệm, cậu phí sức lúc đầu, khi bơi ra quá giữa sông cậu thấy oải, và nhìn trước nhìn sau, bên phải bên trái đều chỉ thấy nước mênh mang như biển. Gió thổi mạnh, có vài chấm sóng bạc đầu đã nổi, ực vào mũi Doãn. Là vậy nhưng Doãn vẫn cố để chị An khỏi cười mũi cho đấng nam nhi. Ngay lúc đó, trên trời có đàn mồng két hối hả bay về, kêu táo tác như loạn trên không. Chị An vội bảo Doãn:

– Quay vào thôi Doãn ơi! Động trời đấy! Mồng két đột ngột bay về thế này là động trời rồi.

Truyện dài

Bến không chồng – Dương Hướng

Cánh đồng làng Đông nhuộm vàng trong ánh rạng đông. Đàn chim mòng két xao xác nối nhau bay mải miết. Trên những thửa ruộng lúa sớm đã gặt nhấp nhô những mô rạ khum khum chờ đón nắng lên. Gió lao xao trên những thửa ruộng chưa gặt, lúa chín vàng óng. Hương vị đồng quê thật kỳ lạ.

Loài điểu học: mồng két – common teal (Anas crecca)

Tuy có tên nghe lạ lẫm nhưng mồng két có họ hàng gần với loài vịt nhà vì nằm trong cùng chi Anas.

35 cm. Là loài vịt cổ ngắn, chắc lẳn. Nhỏ hơn nhiều so với các loài vịt khác, trừ mồng két mày trắng. Chim trống: Có bộ lông vào hàng đẹp nhất. Đầu nâu sẫm, hai bên có viền màu lục bóng; thân xám; đuôi vàng viền đen; cánh có viền trắng. Ngực và bụng màu nhạt có vảy hoặc đốm tròn màu nâu. Khi đứng yên thường thấy có nhiều vạch trắng dài dọc trên vai, nhưng nhìn từ xa có thể khó phân biệt. Chim máichim non: Lốm đốm nâu, trên đầu có họa tiết đều đặn.

_mong ket

Bay rất nhanh theo đàn chặt chẽ và khi bị xua đuổi thì bay thẳng đứng lên từ dưới nước.

Loài di cư phổ biến đến toàn cõi Việt Nam trừ Trung Nguyên.

Sinh cảnh sống: Vùng đầm lầy, ao, hồ…

Nhồng / Yểng / Sáo đá

Vè / Đồng dao

Sáo đen là em sáo đá
Sáo đá là má bồ nông…

Thơ

Giống chim quý – Lê Gái
Bảo ngọc đôi hòn ấp giữa hông
Loài chim giống quý gọi tên nhồng
Vừa sinh má thủ lơ thơ tóc
Mới nở da bì nhẵn nhụi lông

Yểng và Người – Đỗ Anh Thơ
Suốt ngày Yểng học tiếng Người
Còn Người chán cả sự đời… ngồi chơi
Một mai Yểng học giỏi rồi
Yểng ta thuyết giảng, còn Người ngồi nghe!

Truyện ngắn

Rồi thì người ở một mình – Tô Hoài

Những người xách xâu chim túm tụm lại một nơi. Năm trước, tôi thường trông thấy mỗi chiều chủ nhật có ông đi xe máy vai đeo súng săn phóng xe từ các vùng đầm nước ở Suối Hai, ở Đại Lải về: buộc đằng trước xe những xâu chim bắn được, nào con le, con mòng, nào vịt trời, sâm cầm. Đấy là những ông đi chơi săn chim và “cải thiện” đôi chút. Nhưng bây giờ trông những người đi bán xâu chim thì thiểu não, vất vả nhiều. Chiếc xe đạp méo mó và cả người như vùi trong bùn lên. Họ vắt trước ghi đông những xâu chim chết, thôi thì chào mào, sáo đá, cả con choi choi bé tí tẹo.

Con chim quên tiếng hót – Nguyễn Quang Sáng

Ông tôi có nuôi một con nhồng. Con nhồng đẹp lạ lắm. Nó như một cô công chúa khoác chiếc áo choàng đen, ấy là bộ lông mượt mà của nó, từ mí mắt kéo đến cổ nó là một đường vàng hình lưỡi câu. Viền quanh cổ là một đường mầu trắng, như công chúa quấn qua cổ chiếc khăn bằng lông cừu, mỏ vàng và đôi chân cũng vàng. Ông tôi vốn là một thợ mộc, cho nên cái lồng của nó như một cái lâu đài. Con nhồng lúc nào cũng vui tươi, nhảy nhót trong chiếc lồng lộng lẫy treo trước hiên nhà. Vừa đẹp, lại vừa biết nói, nó là niềm vui của cả xóm, không chỉ cho trẻ con mà cho cả người lớn. Thấy có người thoáng qua, nó cất tiếng: “Chào khách.” Khi người dừng lại trước mặt nó, nó hỏi: “Khỏe không?” Ai hỏi gì thì nó dạ. Nó bắt chước giọng ông, nó gọi bà: “Em ơi, em.” Nó bắt chước giọng bà, nó gọi ông: “Anh ơi, anh.” Trong nhà đang nói chuyện, bỗng chợt nghe tiếng cười, nó cười: “Khậc khậc” y như giọng cười của ông. Thỉnh thoảng nó lại cất tiếng: “Thôi, thôi thôi” nghe như lời can gián thiết tha của một cô gái.

– Khách! – Ngồi trong nhà nghe nó nói, biết là có khách sắp vào nhà.

Người lớn hay trẻ nhỏ hàng xóm, mỗi lần đến chơi với nó cũng cho nó một trái ớt. Thò mỏ gắp trái ớt, nó mừng nó nhảy.

Trong nhà ai cũng dạy nó tiếng nói lịch sự, lễ phép. Nhưng hình như bấy nhiêu tiếng đó, nghe hoài cũng nhàm, bớt vui. Chẳng biết đứa nhỏ nào cắc cớ dạy thêm cho nó vài tiếng chửi cục cằn: “Ðồ đểu, cút, cút đi.”

Ngày đầu, nghe những tiếng lạ lùng đó, bọn nhỏ vỗ tay và nó được nhiều ớt hơn mọi ngày. Nhỏ vui đã đành, người lớn cũng vui… nghe nó chưởi “đồ đểu” người nghe không nghĩ là mình đểu nên chẳng ai giận, nghe nó bảo “cút, cút” người ta không cút mà cười và lại thưởng cho nó ớt ngon hơn, nhiều hơn. Nó nói riết thành quen không ai để ý nó quên tiếng hót từ lúc nào.

Loài điểu học: nhồng – hill myna (Gracula religiosa)

Nhồng hoặc yểng hoặc sáo đá có kích thước trung bình trong Họ Sáo (Sturnidae) với chiều dài cơ thể khoảng 25-35 cm. Thân mình thuôn gọn, bộ lông thường là màu đen hoặc nâu sẫm pha lẫn những vùng ở cổ và vai có ánh màu lam bóng. Lông cánh thường có phần chóp lông màu trắng sữa. Mỏ ngắn và to, thường màu hồng tươi ở gốc pha màu vàng ở đầu mỏ. Hai chân màu vàng hay hồng nhạt. Phần sau gáy có một lớp da sừng màu vàng hay màu trắng, kéo dài ra trước má, bao quanh phần gáy và tai. Các phân loài được xác định tùy theo họa tiết của vùng màu vàng này. Rất khó phân biệt trống mái.

_nhong

Loài định cư toàn cõi Việt Nam.

Sống ở rừng và vùng cây bụi thứ sinh. Đi với nhau thành đôi. Làm tổ trong hốc cây trên cao. Đẻ 2 trứng, trống nở ra trước, mái nở sau.

Nhồng có khả năng bắt chước giọng hót của nhiều loài chim khác hoặc cười giỡn, huýt sáo, giả tiếng mọi vật xung quanh, nếu được huấn luyện từ khi còn nhỏ có thể nói được tiếng người. Tuy vậy tiếng kêu tự nhiên của loài nhồng chẳng lấy gì làm hay, khá chói tai, tương tự như tiếng hét lớn, thường phát ra lúc bình minh hay hoàng hôn.

Oanh

Thơ

Hát trên núi – Mường Mán
Ngủ đi thôi con chim oanh
Giữ ngoan tiếng hát dỗ dành mai sau
Núi cắt rốn, đồi chôn nhau
Đi đâu cũng nhớ quay đầu về non

Nhạc

Bến Xuân – Văn Cao & Phạm Duy
Khánh Ly & Trần Thái Hòa – https://www.youtube.com/watch?v=n5gYj7vlr38

Ai tha hương nghe ríu rít oanh ca
Cánh nhạn vào mây thiết tha
Lưu luyến tình vừa qua

Loài điểu học: oanh – Japanese robin (Erithacus akahige)

Thuộc Họ Đớp ruồi (Muscicapidae), gồm những loại chim nhỏ sống trên cây, ăn sâu bọ, làm tổ trong các hốc cây. Một số tên quen thuộc là chích chòe, đớp ruồi, hoét, oanh, sẻ bụi, sẻ đá…

Oanh có thân dài 14-15 cm. Chim trống: từng vùng màu phân biệt rõ rệt: từ đỉnh đầu đến lưng màu ô-liu pha nâu; mặt và cổ màu cam hoặc nâu pha cam; ngực và bụng màu xám; có dải đen phân chia ngực và bụng. Chim mái: cũng có những vùng màu tương tự nhưng màu kém tươi; không có dải đen.

_oanh

Sống ở rừng thường xanh Đông-Bắc và Trung Trung Bộ lên đến độ cao khoảng 1.500 m. Đôi khi gặp ỏ vườn. Ít huyên náo.

Ghi chú: tên tiếng Anh “Japanese robin” đôi lúc được dùng cho một loài chim khác, còn tên loài akahige cũng là tên thông thường cho một loài oanh khác ở Nhật Bản.

Tiếng kêu:
https://www.xeno-canto.org/species/Larvivora-akahige

Oanh vàng / Hoàng oanh / Vàng anh

Thành ngữ

Thỏ thẻ giọng oanh vàng / Giọng ca oanh vàng

Truyện cổ tích

Truyện Tấm cám
Vàng ảnh, vàng anh, có phải vợ anh, chui vào tay áo

Thơ

Oanh vàng – TchyA
Giữa cơn binh lửa tơi bời
Oanh vàng bỗng tiếng hót lời thi nhân
Tình xưa lả chén phong trần
Người xưa lạo thảo mấy vần thơ xưa

Điệu buồn chiều thu – Giang Thiên Tường
Đêm văng vẳng điệu buồn “Tình Nhớ”
Giọng oanh vàng, bỡ ngỡ “Ngọc Hân”
Cho lòng xao xuyến, bâng khuâng
Mơ về dĩ vãng, lâng lâng cõi lòng

Nhớ người – Trần Bảo Kim Thư
Vọng tưởng người xưa dáng ngọc ngà
Oanh vàng trỗi nhạc khúc tình ca
Tâm hồn thục nữ còn trong trắng
Sắc đẹp thuyền quyên đã mặn mà

Nhắn người – Kim Giang
Có người buông lửng câu thơ
Để ai rấm rứt đường tơ phím đàn
Đâu rồi lời gió thở than?
Đâu rồi vút giọng oanh vàng họa theo?

Tiết trời – Dung Thị Vân
Đường mây hải lý ngàn cô quạnh
Sắc mùa trở gió ngàn dương xanh
Ta nghe xuân đến lênh loang tận
Rừng hoa tươi thắm giọng hoàng oanh

Hát tiếng đau – Hưng Nguyễn ACE
Tôi buồn nên hát tiếng đau
Thâu mưa dệt nắng gửi sầu đi hoang
Chỉ xin sau những lụi tàn
Còn trong bụi mận con vàng anh thôi.

Hương quê – Hàn Yên Tử
Vào vụ bưởi quê trái ngọt lành
Đầy vườn nhuộm nắng gọi vàng anh
Thảo thơm năm tháng ươm tình đất
Vị đượm dâng đời giữa sắc xanh

Vàng anh… – Hoangnguyen
Trăng thu lá đỏ, mầu chờ cũ
biền biệt vàng anh, một góc trời
thu sang, lá có rụng nơi đó
có thấy hoàng hôn… lốm đốm rơi?

Truyện ngắn

Hoa vông vang – Hồ Thị Hải Âu

… anh bảo:

– Cái bộ mặt thỏ non, với giọng nói líu ríu oanh vàng của em chắc là lừa được khối thằng. Quần áo, giày dép, nước hoa… chắc cũng bọn ấy cung phụng cả chứ?

Trò đùa của tạo hóa – Phạm Hoa

Vườn vắng lặng. Ao nước trong vắt. Chỉ có con chim vàng anh nhảy nhót cành xoan. Loan chợt mỉm cười khi thấy khuôn mặt của mình in trên mặt gương sáng loáng. Cô đưa mắt nhìn quanh trước khi lội xuống nước. Một thoáng nghi ngại lẫn thích thú. Ùm! nước bắn lên tung tóe.

Nhạc chim – Ma Văn Kháng

Tất nhiên cao giá nhất thì phải là họa mi, nhồng cưỡng, bạc má, hồng tước… Còn bình thường thì có thể kể cả ngày không hết. Nào hoành hoạch, mỏ chì, nào bạch khuyên, vàng ảnh vàng anh có phải vợ anh chui vào tay áo… Mỗi loài nó hót một kiểu. Sớm bửng thì tất nhiên đã có con họa mi dáng quả vả, mắt như có ánh lửa và cặp chân như của vũ nữ, chẳng khi nào chịu ở yên.

Truyện dài

Bãi gió cồn trăng – Hồ Trường An

Trong bữa ăn, ông Huyện Khải nhận thấy hai cô mỗi người một vẻ. Hai chị em gợi nên cái đẹp của bông bụp và bông lồng đèn, không bông nào trội hơn bông nào. Cả hai như chim hoàng oanh và chim bạch yến, không chim nào kém chim nào…

Loài điểu học: vàng anh, vàng anh gáy đen – black naped oriole (Oriolus chinensis)

Nguyễn Cử et al. (2000) ghi vàng anh gáy đen – hay đơn giản là vàng anh – thuộc họ Vàng anh (Oriolidae) là loài vàng anh duy nhất ở Việt Nam. Có lẽ cũng có vài loài vàng anh khác nhưng không phổ biến. Đừng nhầm với chim oanh; xem mục Oanh.

Vàng anh hoặc hoàng anh có thân dài 27 cm. Nhìn chung có màu vàng tươi. Một dải lông màu đen kéo dài từ mắt vòng quanh gáy. Mỏ màu hồng thịt, chân xám xanh, mặt trên đuôi đen. Cánh hoặc đen có vệt vàng hoặc hoàn toàn đen. Chim mái: bộ lông vàng-lục với nhiều vằn đen mảnh chạy dọc ở bụng.

_vang anh

Loài di trú ở Bắc Bộ, định cư ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Khá phổ biến.

Sống chủ yếu ở rừng, cũng xâm nhập vào vườn cây cao gần rừng.

Tiếng hót hay, lại vì bộ lông đẹp nên vàng anh bị săn bắt ráo riết.

Ó rằn

Truyện dài

Đất rừng phương Nam – Đoàn Giỏi

– Gấu cũng án con ong à?

– Không. Những con khác kia. Chuồn chuồn này, bọ ngựa này, nhện này… và còn bao nhiêu thứ chim chóc khác nữa. Cả con ó rằn cũng ăn ong. Chỉ vài con ó rằn là có thể ních trụi một tổ ong ấy!

– Thế ong không đốt họng nó à?

– Đốt thế nào được? Chim ó khôn lắm. Đớp một cái vào mỏ, là nó lừa lựa cắn nát cái kim ở đít ong ngay!

Tùy bút

Một chỗ thật tịch mịch – Võ Phiến

Một đôi khi, mắt chàng bắt gặp một bóng người ngoài đồng, trên một con đường bờ ruộng ngoằn ngoèo nhỏ xíu. Một dáng người tí teo ngọ nguậy trong nắng xế bao la. Một chiếc nón trắng lấp lánh giữa đồng trống, tận xa tít… Chiếc nón lấp lánh, di động chậm chạp, trong lúc con ó rằn giăng đôi cánh xác xơ giữa nền trời, trong lúc con cuốc phát tiếng kêu đều đều trong nắng rưng rưng… Chàng càng có cảm tưởng xa cách cuộc sống khiêm tốn của xóm làng hơn bao giờ hết…

[…]

U cảnh mỗi bạch nhật
Thanh huy chiếu y thường

Gần như mỗi nhật, thanh huy đều có chiếu y thường một lần. Hai người thủ thỉ, trong lúc con sóc trèo ngược trèo xuôi một nhánh cây thị, trong lúc đàn két hái rớt lộp độp trái cây đâu đó phía sau miếu, trong lúc con ó rằn giăng cánh xác xơ trên trời xanh…

Loài điểu học: diều mào – black baza (Aviceda leuphotes)

Xem qua nhiều truyện ngắn truyện dài nhưng người tổng hợp chỉ thấy Võ Phiến và Đoàn Giỏi đề cập đến ó rằn, lại không tìm ra tư liệu gì về người nuôi chim ó rằn. Với ba tiêu chí (1) có rằn (vằn) dễ nhận, (2) ăn côn trùng và (3) phổ biến ở Nam Bộ, tôi tìm thấy con diều mào đáp ứng đủ 3 tiêu chí này.

Thân dài 33 cm. Bộ lông màu đen và trắng, có mào lông dài thường đứng thẳng ở đỉnh đầu dễ dàng nhận diện. Cánh rộng và bầu với nhiều mảng màu trắng dễ thấy khi nhìn từ trên cao xuống. Khi bay vỗ cánh như loài quạ, thường chỉ bay những quãng ngắn ngay trong tán rừng, thỉnh thoảng nhào lộn. Kiếm ăn lúc hoàng hôn. Đậu ở những nơi quang đãng và ưa thích những chỗ trống trong rừng. Tiếng kêu: Hai tiếng ‘chu-weep’ liền nhau cả trong khi bay và đậu.

_dieu mao

Thức ăn chủ yếu là côn trùng lớn đặc biệt là châu chấu, cũng ăn bọ ngựa, bọ hung, bướm đêm, ve sầu, dế, chuồn chuồn. Nuôi con non cũng bằng côn trùng.

Loài định cư ở Trung Bộ và Nam Bộ, bay qua trong mùa đông ở Đông Bắc và Bắc Trung Bộ. Di cư theo từng đàn nhỏ. Gặp tương đối phổ biến.

Sống ở vùng rừng, kể cả rừng ngập nước trong đất liền và các sinh cảnh khác trong mùa di trú, gặp lên tới độ cao khoảng 1.500 mét.

Ốc cao

Vè / Đồng dao

Rủ nhau đi mò, là con chim ốc

Chim ốc: Có lẽ là chim ốc cao, một loại chim thường gặp ở đồng bằng sông Cửu Long.

https://cadao.me/ve/ve-chim-choc/#note-1946

Hồi ký

Hồi ký Sơn Nam

Gần ven sông, ven biển, nhiều gân đất cao ráo, người Hoa kiều từ lâu rồi biết khai thác để trồng nhãn. Dịp tựu trường, tha hồ ăn nhãn, bấy giờ chỉ có loại nhãn lớn hột; thơm tho ngọt ngào, đối với người ở U Minh, xứ không bao giờ thấy cây nhãn. Lại còn các loại chim ở đồng lúa vùng nước ngọt, nay hãy còn như ốc cao, vỏ vẻ, chằng nghịt, cuốc.

Loài điểu học: gà nước họng nâu – red-legged crake (Rallina fasciata)

Gà nước họng nâu có các tên trong dân gian là ốc cao, ốc cau, chim ốc (đừng nhầm với cò ốc tức cò nhạn), rẽ đất, rẽ hoa.

Lưng nâu, ức màu nâu nhạt hơn hoặc đỏ thắm, bụng có những vệt trắng đen nằm ngang, mỏ lam pha xám, chân đỏ. Con non xám đậm với những vệt nâu nhạt.

_ga nuoc hong nau

Loài trú đông khá phổ biến ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

https://www.birdwatchingvietnam.net/science-name/red-legged-crake-522

Quạ

Hát ru

Ầu ơ!
Con quạ nó đứng đầu cầu
Nó kêu bớ má, têm trầu khách ăn!

Ầu ơ!
Con quạ nó đứng chuồng heo
Nó kêu bớ má, bánh bèo chín chưa?’

Ca dao

Gởi con cho bác quạ già
Biết là bác quạ thương là chẳng thương

Con quạ nó đứng đầu cầu
Nó kêu bớ má ghe bầu vô chưa?

Quạ đen lông xuống sông mà tắm
Bậu không chồng, khó lắm bậu ơi!

Giơ tay bắt lươn, lươn trườn vô cỏ
Giơ tay bắt quạ, quạ bỏ quạ bay
Từ ngày chàng bỏ thiếp đây
Bưng bát cơm đôi hàng lụy nhỏ, dạ buồn thay hỡi buồn!

Quạ kêu nam đáo nữ phòng
Người dưng khác họ đem lòng nhớ thương
Chỉ điều ai khéo vấn vương
Mỗi người mỗi xứ mà thương nhau đời.

Thơ

Bến khuya – Ngọc Thạch

Cách biệt nhau rồi mấy mùa trăng
Con đò trên bến đợi sương giăng
Ngẩn ngơ tiếng sóng bờ xưa ấy
Xạc xào lá gọi nhớ My Lăng

Bến vắng thuyền mơ giấc mơ êm
Bèo trôi theo nước, quạ kêu đêm
Trăng tắm sương ngàn quên khách tục
Gió tỏ tình qua kéo động rèm.

Dân ca

Lý quạ kêu – Hương Thủy
https://www.nhaccuatui.com/bai-hat/ly-qua-keu-huong-thuy.w82RxU1wgtwD.html

Truyện ngắn

Sông Gành Hào – Sơn Nam

Hai căn chòi nằm lú trên mặt nước. Khói cơm bay tỏa cuồn cuộn, tản mác trở về phía mặt trời mọc. Quạ đậu sắp hàng trên nóc nhà, há mỏ kêu rồi bay bổng vòng quanh xuồng.

Bà lão lòa – Vũ Trọng Phụng

Một ngày kia, trời tháng ba nắng gay gắt, bà lão lòa dưới gốc cây gạo, ngồi từ sáng đến quá trưa, bụng đã đói mềm mà chẳng thấy người khách đi đường nào vứt cho lấy một đồng trinh. Trên cành cây, thỉnh thoảng lộp độp rơi xuống đường đê một vài bông hoa gạo, mỗi khi quạ cái tha mồi về tổ cho con lại đập cánh sập sè vươn cổ kêu: quà! quà…! như gợi một mối thương cho người ngồi dưới gốc.

Chiếc chiếu hoa cạp điều – Doãn Quốc Sỹ

Chiều ngả màu xẫm. Gió bấc rít trong bụi tre già làm nền cho tiếng khàn khàn của lũ quạ lục đục trong ổ, gió bấc xoáy từng vòng cuồng loạn dứt từng vốc lá tre, lá bưởi vàng úa rồi lại nhào vút mất hút ra ngoài cánh đồng bát ngát hiu quạnh.

Đêm tối bao la – Nguyễn Thị Thụy Vũ

Nhà tôi nằm bên dòng sông Long Hồ. Trước nhà là con đường cẩn đá xanh không tráng nhựa. Chỉ một chiếc cyclo máy vượt qua cũng đủ làm cho lớp cát bụi có dịp bốc lên và bay tản mác vào thềm nhà. Bên kia đường, một thửa vườn hoang xen lác đác vài mẩu rẫy chạy dài hút mắt. Những ngôi mộ nằm rải rác dưới mấy tàng dương thưa lá. Vào ngày nắng ráo, vài con quạ đứng rỉa lông. Thỉnh thoảng chúng cao hứng kêu thét lên. Tiếng kêu khàn, chát khuấy động bầu không khí oi ả, lặng lẽ.

Loài điểu học: quạ đen – large-billed crow (Corvus macrorhynchos)

Nếu văn học chỉ đề cập đến cái tên đơn giản “quạ” thì phần lớn đó là loài quạ đen khá quen thuộc với người Việt.

Thuộc Họ Quạ (Corvidae). Một số loài quạ họ này có trí thông minh cao. Chúng biết theo dõi các loài chim khác, ghi nhớ nơi cất giấu thức ăn và sau đó mò tới khi con chim kia rời khỏi nơi đó. Chim Họ Quạ cũng di chuyển thức ăn của chính chúng giữa các nơi cất giấu để tránh bị ăn trộm, nhưng chỉ khi chúng trước đó đã từng bị trộm cắp. Khả năng cất giấu thức ăn đòi hỏi trí nhớ về không gian rất chính xác.

_qua denQuạ đen có thân dài 51 cm. Bộ lông, mỏ và chân toàn màu đen; lông ánh màu lam sậm hoặc tím sậm dưới ánh nắng. Mỏ rất khỏe. Thường đi lẻ hoặc đôi, song thỉnh thoảng tụ tập thành đàn đông, kể cả khi ngủ.

Sống định cư, gặp phổ biến toàn cõi Việt Nam lên tới độ cao khoảng 2.100 mét.

Sống ở các sinh cảnh khác nhau, từ vùng núi đến đồng bằng, vùng ven biển và rừng ngập mặn, thậm chí công viên trong khu đô thị. Dạn dĩ, biết đến gần người để tìm kiếm thức ăn thừa.

Tiếng kêu: Nghe rõ có tiếng ‘quạ quạ’, khá ồn ào.

Quyên

Ca dao

Chim quyên ăn trái nhãn lồng
Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi

Chim quyên xuống đất cũng quyên
Anh hùng lỡ vận cũng nguyên anh hùng

Chim quyên xuống đất ăn trùn
Anh hùng lỡ vận lên nguồn đốt than

Thơ

Chim quyên từ độ bỏ thôn Đoài – Phạm Thiên Thư
Chim quyên từ độ bỏ thôn Đoài
Quyên chẳng buồn thảm thiết gọi ai

Nàng Xuân đến – Hoàng Hiện
Mỗi lần thấy lộc xanh, chồi biếc
Lúc chim quyên da diết gọi tình

Truyện ngắn

Tiếng chim buổi sớm – Huy Phương

… loài “chim quyên” khác ta thường thấy là một loài chim nhỏ, có bộ lông óng ánh, nâu pha nốt đỏ, có tiếng hót rất hay, thường vào ban trưa ở trong bụi hay đầu hồi nhà.

Chim quyên là chim gì?

Điều lạ là chim quyên được thể hiện nhiều trong ca dao và dân ca chứng tỏ sự lan truyền rộng rãi trong xã hội, nhưng không có mô tả rõ về con chim này, và giới nuôi chim không nhắc gì đến chim quyên. Tôi đã hỏi một số địa điểm bán chim nhưng không ai bán chim quyên; nhiều người còn không biết chim quyên là chim gì.

Có một số ý kiến và trang web Wikipedia cho rằng chim quyên là tu hú; một vài người ở các cửa hàng bán chim cũng nói với tôi như thế. Đặc biệt tiếng Hán-Việt “táo quyên” chỉ con tu hú.

Có ý kiến cho rằng chim quyên là đỗ quyên, nói gọn từ tên tiếng Hán đại đỗ quyên, tức cu cu thông thường. Một số ý kiến khác cho rằng chim quyên là tu hú, cũng thuộc nhóm chim cu cu.

Diễn dịch ý nghĩa trong ca dao:

  • “Chim quyên ăn trái nhãn lồng”: cu cu thông thường và tu hú thường ở trên cao và ăn các loại quả, và dây nhãn lồng thường bò lên cao mang trái trên cao.
  • “Chim quyên xuống đất cũng quyên”: cu cu thông thường và tu hú thường ở trên cao nên khi xuống đất là sự kiện đặc biệt.
  • “Chim quyên xuống đất ăn trùn”: có lẽ đây là cu cu thông thường hoặc tu hú, với lý do nêu trên.

Diễn dịch ý nghĩa trong hai câu thơ đương đại

  • “Quyên chẳng buồn thảm thiết gọi ai”: tiếng kêu của cu cu thông thường và tu hú gồm hai âm lặp đi lặp lại vang vọng, hợp với ý nghĩa “thảm thiết”.
  • “Lúc chim quyên da diết gọi tình”: tiếng kêu của cu cu thông thường và tu hú cũng hợp với ý nghĩa “da diết”.

Tiếng kêu của tu hú:
https://www.xeno-canto.org/species/Eudynamys-scolopaceus

Tiếng kêu của cu cu thông thường:
https://www.xeno-canto.org/species/Cuculus-canorus

Mặt khác, theo mô tả của Huy Phương nêu trên, quyên là một loài chim nhỏ: có bộ lông óng ánh, nâu pha nốt đỏ, tiếng hót rất hay.

Nói rằng “tiếng hót rất hay” thì hẳn không là “thảm thiết” hoặc “da diết”, trừ khi thơ văn theo khuôn sáo, ước lệ chứ không mang ý nghĩa chính xác.

Người tổng hợp bài này tham khảo quyển sách của Robson (2000) minh họa 1251 loài chim ở Đông Nam Á thì không thấy mô tả nào về một loài “chim nhỏ” có bộ lông “nâu pha nốt đỏ” và “hót rất hay”.

Có phải tác giả này nhầm lẫn, giống như đã nhầm lẫn mà gọi tìm vịt là “gà gô”?

Tóm lại, với nguồn thông tin hạn chế ta đành tin rằng quyên là tu hú. Xem mục Tu hú.

Rẻ quạt

Thơ

Trở về – Hồ Trường An
Theo chim rẻ quạt tôi về
Một vùng ruộng trũng nối đê ruộng gò
Ngọt bùi củ ấu, củ co
Mặn mà ơi dĩa cá kho thuở nào

Truyện dài

Bãi gió cồn trăng – Hồ Trường An

Hôm nay là ba mươi tháng bảy âm lịch. Mấy khóm bông tang đỏ, trang trắng, trang hường trổ thôi ê hề, từng chùm lún phún như pháo bông. Và dễ thường chưa, cây diệp tơ bên hông nhà cũng đơm bông đỏ rực. Rồi mắc mớ chi không biết, lũ chim rẻ quạt, chim chèo bẻo cùng bay về xẻo lá dừa nước kế nhà hót thôi véo von! Bông trổ thạnh như vầy, chim về huyên náo như vậy, có phải đây là điềm đất phước trổ bông, đất lành chim đậu đó chăng?

Loài điểu học: rẻ quạt họng trắng – white-throated fantail (Rhipidura albicollis)

Rẽ quạt là tên chỉ chung hơn 50 loài trong Chi Rẽ quạt (Rhipidura). Đây là các loài chim nhỏ, 12-20 cm, lông màu trắng và đen, bình thường đuôi tạo thành hình tròn ở cuối thân, nhưng khi bay trên không các lông đuôi xòe ra tạo thành hình rẻ quạt đặc trưng.

Rẻ quạt họng trắng chỉ 19 cm, bộ lông có màu xám đen nhạt. Họng, lông mày và mút đuôi màu trắng.

Sống định cư phổ biến ở Việt Nam ngoại trừ đồng bằng Sông Hồng, Đông Nam Bộ và Nam Bộ.

Sinh cảnh là rừng thường xanh, tìm thấy ở tầng cây thấp và tầng dưới tán vùng cao.

_re quat

Loài điểu học: rẻ quạt Java – pied fantail (Rhipidura javanica)

Sinh cảnh là rừng bán nhiệt đới hoặc nhiệt đới, gặp ở cao độ thấp.

Sống định cư phổ biến ở Đông Nam Bộ và Nam Bộ.

Loại dạn dĩ: chúng thường đến bay nhảy ở vườn nhà tôi thuê ở Bangkok, thậm chí đi đến tận cửa chính, nhưng tôi chưa bao giờ nghe chúng hót! Những người nuôi chim cảnh cho biết chúng siêng hót và có thể hót rất lâu, có lẽ vì qua huấn luyện từ nhỏ.

Rẽ giun

Truyện ngắn

Đi săn khỉ – Vũ Trọng Phụng

Xưa kia tôi chưa biết “đi săn” là thế nào. Nhưng mà từ thuở nhỏ, tôi vẫn ao ước có một khẩu súng để có thể được đi săn luôn luôn. Những khi trông thấy hoặc một chiếc xe hơi sau lưng có buộc một con hổ, một con nai, với bọn người đội mũ cát két tay giữ súng ngồi trên, hay là một nhà thiện xạ đeo súng sau lưng cưỡi xe “bình bịch” có đèo một chùm giẽ giun ở tay lái, vênh vang đi qua các phố xá thì lòng tôi lại nao nao lên kính phục và thèm muốn.

Những trưa Tháng Sáu – Lê Na

Đó là thời điểm giữa mùa hè. Học sinh không phải đến lớp. Lũ chúng tôi và đàn trâu túa ra đồng. Đang giữa vụ gặt, các thửa ruộng đã thu hoạch xong, trơ trụi chân rạ, ngỏng lên trời. Thửa ruộng chưa gặt, nắng uốn bông đỏ đuôi. Bầy trâu tha hồ đằm tắm. Bùn phết lên mình chúng một lớp dày cộp chống nắng. Trẻ trâu đầu trần, chân đất chạy khắp ruộng không biết mệt. Tóc vàng màu lúa chín. Đứa nào cũng thích mò cua, bắt ốc. Có lẽ là gien di truyền từ ông bà, bố mẹ. Cua cá, ốc ếch, lươn chạch, tôm tép… cứ xuống ruộng là có bữa ăn. Sau mỗi trận mưa rào cá tôm từ sông Lô ngược theo Ngòi Chả vào đồng. Chúng vượt thoát từ các ao chuôm, hồ đập. Bầy cò trắng, cò lửa, giẽ giun cũng từ đâu mò đến. Chúng là cư dân của ruộng, cần mẫn trên những đồng trắng nước hoặc mới bừa ngả rạ. Ở đó, tôm cá không lối thoát trước cái mỏ nhọn, xăm soi và đôi mắt nhỏ tinh quái.

Loài điểu học: rẽ giun – common snipe (Gallinago gallinago)

Đây là loài mà ngành điểu học chấp nhận tên thông thường của một nhóm làm tên riêng biệt cho một loài.

Thật ra, rẽ giun hoặc dẽ giun hoặc giẽ giun là tên gọi trong dân gian để chỉ một số loài chim lội nước khá giống nhau trong 3 chi của Họ Dẽ (Scolopacidae).

_re giunThân dài 25-27 cm. Mỏ mảnh, thẳng, rất dài so với thân. Màu lông nâu sáng với những vệt màu vàng rơm trên lưng, bụng nhạt hơn. Một vệt đậm chạy qua mắt, với vệt nhạt hơn phía trên và phía dưới. Giò ngắn, màu xám pha lục.

Khi bị xua thì bay lên theo đường dích dắc và thường phát ra một tiếng kêu kèn kẹt khô khốc. Giống như tất cả các loài rẽ, rẽ giun thường sống chui lủi cho đến khi bị xua mới bay lên.

Loài di cư phổ biến đến cả nước ngoại trừ Bắc Trung Bộ. Có thể phân bố lên độ cao khoảng 1.200 mét.

Sống ở vùng đầm lầy, cánh đồng lúa.

Sáo

Thành ngữ

Tỉnh như sáo / Vui như sáo / Tung tăng như sáo

Câu đố

Để nguyên tên một loài chim
Bỏ sắc thường thấy ban đêm trên trời
– Là chữ gì?

– Giải đáp: chữ “sáo”.

Ca dao

Ai đem con sáo sang sông
Để cho con sáo sổ lồng bay xa?

Thơ

Cho một nụ cười – Mạc Phương Đình
cám ơn em buổi chiều qua đó
gởi nụ cười sau liếp cửa che
con sáo bay mang câu hát dạo
ta chào em mượn lối đi về

Lý con sáo – Phanxipăng
Chẳng ai đem con sáo cũng sang sông
Buồn nẫu gan ước chi khóc được
Ta ngông nghênh chơi một ván tơ hồng
Rút cả xuân xanh ra đặt cược.

Dân ca

Có nhiều bài dân ca mang tên “Lý con sáo” kèm theo đó là tên địa phương như Bạc Liêu, Bắc Ninh, Bến Tre, Huế, Đồng Tháp, Gò Công, Hải Dương, Long An, Nam Bộ, Thanh Hóa, Trà Vinh, Vĩnh Phú, v.v Có nhiều làn điệu đến nỗi cho người ta không rõ đâu là dân ca nguyên thủy lưu truyền từ ngày xưa và đâu là sáng tác thời hiện đại.

Lý con sáo sang sông (Bắc Ninh) – Mạnh Khang:
https://www.nhaccuatui.com/playlist/dan-sao-bay-xa-va.8DF0CbVae6S9.html?st=2

Bài dân ca Lý con sáo Thu Hiền:
https://www.youtube.com/watch?v=24Nkhtaiby0

Cải lương hoặc đờn ca tài tử

Nghệ thuật cải lương hoặc đờn ca tài tử sử dụng nhiều loại điệu, trong đó có một điệu là “Lý con sáo”. Ban đầu ca từ của điệu này dựa theo hai câu ca dao trên. Dần dà có những phiên bản ca từ khác mà nội dung không liên quan gì đến con sáo. Có một phiên bản nổi tiếng trong vở cải lương Lan và Điệp, như trình bày dưới đây:

Điệu Lý con sáo trong vở cải lương Lan và Điệp – Út Bạch Lan:
https://www.youtube.com/watch?v=17T8nmTF58o

Trăng thu dạ khúc theo điệu Lý con sáo trong đờn ca tài tử – Thanh Hương:
https://www.nhaccuatui.com/bai-hat/ly-con-sao-trang-thu-da-khuc-thanh-huong.dares23mDfdX.html

Âm nhạc

Lý con sáo, dựa theo Điệu Lý con sáo:
Phi Nhung https://www.nhaccuatui.com/bai-hat/ly-con-sao-phi-nhung.-DB9MLBXF4.html

Chim sáo ngày xưa – Nhất Sinh
Quang Linh https://nhac.vn/bai-hat/chim-sao-ngay-xua-quang-linh-soykN9k

Ngày xưa em như chim sáo
Sống vô tư hay mộng mơ nhiều
Nhìn em đi qua cuối xóm
Làn tóc mây bay má ửng hồng.

Bài tình ca đất phương Nam – Lư Nhất Vũ & Lê Giang
Phi Nhung – https://www.youtube.com/watch?v=TFo4ZmhGS2M

Nhắn ai đi về miền đất phương Nam
Trời xanh mây trắng, soi dòng Cửu Long Giang
Mênh mông rừng tràm, bạt ngàn dừa xanh
Nhìn dàn mướp đong đưa, nhớ người xưa từng ở nơi này
Cho ta thêm yêu dấu chân ngàn năm đi mở đất
Cho ta thêm yêu bầy chim sáo sổ lồng

Điệu buồn phương Nam – Vũ Đức Sao Biển
Phi Nhung – https://nhac.vn/album/dieu-buon-phuong-nam-phi-nhung-abeXJL?st=so3Qaj0

Về phương Nam lắng nghe cung đàn
Thổn thức dưới trăng mơ màng
Rồi theo sông Cửu Long nhớ nhung dâng tràn
Chợt thương con sáo bay xa bầy
Sương khói buồn để lại lòng ai

Truyện ngắn

Lý con sáo sang sông – Nguyễn Ngọc Tư

Chúng tôi đều cười. Cái mất mất rồi, cái còn hình như vẫn còn đó. Tôi cảm thấy hơi ấm từ lòng mình ấm phừng đến mặt. Chắc tại rượu ngon. Thà về, xuống tới bến còn quay lại phân trần:

– Sao tự nhiên em qua đây lãng xẹt vậy không biết?

Cô cười giòn. Tôi có cảm giác cái cười níu chật vật làn nước mắt chực rơi ra. Thì là người mà, có phải cây cỏ đâu. Phi không tiễn Thà mà ngồi trên nhà gõ chén ca, giọng ca thêm rượu thần sầu.

“Ở ở… Ai xui mà con sáo nò sang sông cái nò sang sông. Cho nên mà con sáo ở ở sổ lồng cái kìa bay xa cái kìa bay xa, cái lý em ở, cái lý chàng đi…”

Tôi xin thề với thiên thần thổ địa rằng chưa bao giờ được nghe một bài Lý con sáo sang sông điệu Bạc Liêu đứt ruột như vậy. Nó mênh mang, sâu rứt những nỗi nhớ thương từ tim, từ máu. Tôi buột miệng: “Thì mày đưa con sáo của mày sang sông chớ ai”. Phi ngưng hát, miệng lầm bầm: “Chớ bắt người ta chờ mình tới chừng nào?”

Loài điểu học: sáo nâu– common myna, Indian myna (Acridotheres tristis)

Sáo nâu thuộc Họ Sáo (Sturnidae). Tên gọi phổ biến cho các loài trong họ này là sáo và yểng (nhồng, cà cưỡng). Các loài Họ Sáo có chân khỏe, đường bay khỏe và thẳng, và thích sống thành bầy. Môi trường sinh sống ưa thích của chúng là vùng nông thôn tương đối thoáng. Một vài loài sống xung quanh nơi sinh sống của người. Nhiều loài tìm kiếm thức ăn bằng cách há mỏ sau khi thăm dò nó trong bụi cây rậm; thói quen này được gọi là “thăm dò mỏ há”. Bộ lông thường sẫm màu với ánh kim. Phần lớn các loài làm tổ trong các hốc, lỗ và đẻ các trứng màu xanh lam hay trắng.

Sáo nâu là loài chim phổ biến nhất trong hoang dã ở Việt Nam chỉ sau chim sẻ, định cư trên toàn cõi. Vì thế, nếu ca dao và thơ văn chỉ gọi sáo thì phần lớn đó là sáo nâu, dân gian còn gọi là sáo nghệ.

Thân dài 25 cm. Chim trưởng thành có bộ lông màu nâu tối, khi bay cho thấy mảng trắng lớn ở cánh. Đầu và đuôi màu đen. Mỏ, da vùng mắt và giò có màu vàng. Chim non có màu xỉn hơn. Khi bay thấy rõ vạt lông trắng ở cánh. Thường đi theo đàn.

_sao nau

Sống ở chỗ trống trải, vùng trồng trọt, vườn làng, thích nghi rất tốt với môi trường đô thị: thường kiếm ăn ở công viên, nhà hàng…

Vì sáo nâu khá dạn dĩ và ăn tạp, nếu thấy nó ở xa bạn có thể dụ nó đến gần bằng cách đặt ít thức ăn như chuối, táo, vụn bánh mỳ, ngay cả cơm… trên sân nhà, trước ban công… Nó khá tinh khôn: nếu bạn hoạt động trong nhà bình thường thì nó sẽ đến gần cửa cái hoặc cửa sổ mà vừa ăn thức ăn của bạn vừa nhìn vào trong, nhưng nếu bạn nhìn ra, nó sẽ nhận biết ngay và bay mất.

Sáo nâu có khả năng bắt chước tiếng người.

Màu trứng sáo

Hai đoạn truyện ngắn dưới đây đề cập đến màu trứng sáo.

Tóc chị Hoài – Nguyễn Tuân

Thể đến cái lòng yêu đẹp, muốn gần gũi cái đẹp, hiểu đến cái tình lành của tôi và luôn thể muốn cho tôi được thỏa thê ở cặp mắt đang cầu khẩn – Chị Hoài vốn là người tinh ý lắm, – chị giả vờ kêu mỏi, ngả lưng xuống chiếc giường rủ buông nửa lá màn the màu trứng sáo.

Thổ địa – Dương Kỳ Anh

Lài mặc một chiếc áo màu xanh trứng sáo, quần xanh sĩ lâm, đôi dép cao su mới toanh và trong tay cầm một cái bong bóng lợn.

Khi văn học đề cập đến trứng sáo thì đó là trứng sáo nâu, loài sáo mà người Việt quen thuộc nhất. Thật ra trứng của một số loài sáo khác cũng có màu tương tự. Màu của trứng sáo khá độc đáo và dễ gây ấn tượng đối với các nhà văn. Chỉ khổ cho người đô thị chưa từng thấy trứng sáo nên không thể mường tượng ra màu này!

Sáo đá mỏ đỏ

Truyện ngắn

Đội quân Hoa và Cỏ – Hoàng Văn Bổn

Ngày nào Huỳnh cũng cùng con trâu Chãn ấy ra đây sau giờ làm lụng mệt nhọc. Con Chãn thong dong gặm cỏ, đùa nghịch cùng lũ bướm, đàn sáo trâu nhảy nhảy nhót nhót, mổ rận dưới cằm, trên lưng… Đàn sáo mỏ đỏ, chân đỏ, cánh đen pha mặt trăng trắng…

[Về sáo trâu, xem mục Sáo sậu / Cà cưỡng]

Nhà văn nuôi chim – Quang Lập

Thằng Tiến nói với anh Nam, các cháu đâu cả rồi, anh gọi chúng nó vào ăn cả thể. Anh Nam lắc đầu xua tay, nói ăn đi, có ai nữa đâu, các cháu nhà tôi đều có gia đình, ra ở riêng cả rồi. Mình ngạc nhiên, nói lúc nãy có đứa con nít nào gọi anh đấy? Anh Nam cười chỉ tay ra hiên nhà, cái lồng chim treo lủng lẳng, trong đó có con sáo mỏ đỏ rất đẹp.

Mình khen con chim nói sõi tiếng người, y chang tiếng con nít. Thằng Tiến nhảy ra ngay, nó đi đi lại lại quanh lồng chim tấm tắc khen con sáo đẹp. Nó là thằng mê chim, đến nhà ai thấy chim hay là chân nó mọc rễ dưới lồng chim ngay.

Loài điểu học: sáo đá mỏ đỏ – red-billed starling (Sturnus sericeus)

Các tên khác trong dân gian là sáo đá đầu trắng, sáo bạch hỏa, sáo đầu bạch, sáo mỏ đỏ, sáo mỏ đỏ đầu trắng, hét xoan hoặc hoét xoan.

21-24 cm. Cánh và đuôi từ xanh lam đến xám sậm, toàn thân còn lại màu trắng-xám. Mỏ đỏ. Chim trống và chim non: màu nâu-xám xỉn.

_sao da mo do

Loài trú đông ở Bắc Bộ và Trung Nguyên từ đồng bằng đến đồi núi.

Thích vùng trống trải có cây bụi, đồng bằng, vùng trồng trọt và vườn nhà, rừng ngập mặn ven biển. Kiếm ăn trên cây lẫn trên mặt đất. Đi theo đàn.

Làm tổ trong hốc một thân cây, thậm chí dưới mái hiên hoặc hốc tường nhà nếu có không khí yên bình. Trứng màu lam-lục.

Sáo mỏ ngà

Bút ký

Con sáo mỏ ngà – Nguyễn Tuấn Vũ Trường

Quê tôi có hàng trăm loài chim đẹp mà tôi rất thích. Tiếng chim hót đã lưu giữ trog tâm hồn tôi nhiều kỉ niệm sâu sắc, cảm động. tôi quên sao được con chim sáo mỏ ngà.

Cuối xuân, cây đa đình làng tôi, cây đề chùa Long, cây gạo bến đò Mai, cây thị, cây muỗm đền Sùng… là nơi hội tụ của đàn chim trời, của bầy sáo mỏ ngà hót ríu ran, hót líu lo suốt ngày suốt buổi.

Trên đường đi học, tôi thường đứng lại say mê ngắm nhìn bầy sáo mỏ ngà. Chim mẹ bay trước, ba, bốn chim non bay theo, chim bố bay sau cùng, vừa bay vừa hót giục giã: “Cố lên! Các con cố lên!”

Sáo mỏ ngà khoác bộ áo màu đen, óng ánh xanh, điểm đôi ba sợi trắng ở cánh. Trên đầu đều có mao lông như răng cưa. Mắt màu nâu viền vàng. Mỏ nhọn vàng óng, phía trong cùng đỏ sẫm, tưởng như quết bã trầu, cốt trầu. cặp chân dài, màu vàng chanh, có móng nhọn màu nâu. Mùa sinh sản, chim mái như đi bít tất tơ óng ả, trông rất dịu dàng, yểu điệu….

Truyện dài

Dế Mèn phiêu lưu ký – Tô Hoài

Song dù nhờ đất thấm nước khoẻ thế, cũng không phải cách bền vững. Quả nhiên, chẳng mấy chốc, đất cát cũng đã ngấm no nước, không chịu thấm nữa, vậy là nước lại ứ lên. Tôi lo quá, phen này phải bò ra mất. Ôi thôi, nếu bò ra bây giờ, đời tôi còn gì! Hai đứa trẻ kia sẽ bắt tôi đem về làm miếng mồi béo cho con gà chọi, con họa mi, con sáo mỏ ngà của chúng xơi ngon.

Nhạc chim – Ma Văn Kháng

Sáo đen kẻ vạch trắng hai bên cánh trông thật duyên dáng. Trong khi sặc sỡ như một gã đồng cô thì phải kể đến mấy con vẹt già mỏ đỏ lông xanh động tí lại vỗ cánh phàm phạp rất vô duyên nhưng lại sở hữu chất giọng khan rè vô cùng đặc sắc của ca sĩ Nam Mỹ.

Loài điểu học: sáo mỏ ngà, sáo đen – crested myna (Acridotheres cristatellus)

Thân dài 26 cm. Còn được gọi là sáo ngà, chim trưởng thành trên đỉnh đầu có mào khá rõ, nhưng chim non không thấy rõ. Bộ lông màu đen.

_sao mo nga

Định cư từ Bắc Bộ đến Nam Trung Bộ. Di chuyển và ngủ theo đàn.

Sống ở khu vực trồng trọt, vùng đất trống trải, làng bản và đồng ruộng, thường tìm mồi quanh đàn gia súc, trên lưng trâu bò, nhưng không thấy ở vùng đô thị như sáo nâu.

Loài được nuôi làm chim hót phổ biến ở miền Bắc.

Sáo mỏ vàng

Truyện ngắn

Đội quân Hoa và Cỏ – Hoàng Văn Bổn

Ngày nào Huỳnh cũng cùng con trâu Chãn ấy ra đây sau giờ làm lụng mệt nhọc. Con Chãn thong dong gặm cỏ, đùa nghịch cùng lũ bướm, đàn sáo trâu nhảy nhảy nhót nhót, mổ rận dưới cằm, trên lưng… Đàn sáo mỏ đỏ, chân đỏ, cánh đen pha mặt trăng trắng…

Nhạc chim – Ma Văn Kháng

Thú vị thật vì nằm bất động trong tâm thái tĩnh tại dưới bóng rừng già, lắng tai nghe một chút, ông Biền vẫn nhận ra, từng tiếng hót riêng biệt của mỗi loài chim. Líu lo ỏm tỏi trên vòm trám rậm kia là tiếng bầy sáo mỏ vàng đông cả trăm con

Loài điểu học: sáo mỏ vàng – great myna (Acridotheres grandis)

Dân gian thường gọi loài này là sáo đen hoặc sáo trâu.

Thân dài 25 cm. Tương tự như sáo mỏ ngà nhưng mỏ vàng, mút đuôi trắng rộng và lông bao dưới đuôi trắng, thân còn lại là màu đen hoặc đơn điệu hoặc bụng phớt nâu.

_sao mo vang

Định cư trên toàn cõi Việt Nam. Bị săn bắt mạnh

Sáo sậu / Cà cưỡng

Thành ngữ

Tỉnh như sáo sậu

Đồng dao / Vè

Tiếng con sáo sậu
Gọi cậu, gọi cô

Chim ri là dì sáo sậu
Sáo sậu là cậu sáo đen…

Ca dao

Buồn chẳng nói, gọi không trông
Nói đến lấy chồng, tỉnh như sáo sậu

Con chim sáo sậu
Ăn cơm nhà cậu
Uống nước nhà cô
Đánh vỡ bát ngô
Bà cô phải đền.

Cà cưỡng bay cao
Chào mào bay thấp
Cu bay về ấp
Quạ bay về trời
Nghe tiếng chủ mời
Ra ăn thịt chuột
Thịt gà đang luộc
Thịt chuột đang hâm
Dọn thầy một mâm
Thầy ăn kẻo tối

[Cà cưỡng tức là sáo sậu. Xem các mục khác: Chào mào, Cu gáy, Quạ]

Thơ

Khúc hát – Lưu Quang Vũ
Tôi bắt ông trăng rằm
Bỏ vào trong áo
Tôi thương con sáo sậu
Chết rũ giữa lồng nan

Bình minh quê mẹTamMuội
Lảnh lót chàng kê rộn mé mương
Lim dim sáo sậu đậu trên tường
Hoa nghiêng lất phất niềm lưu luyến
Cỏ ngửa lay phay nỗi vấn vương

Hãy gửi vào thơ Nguyễn Thành Sáng
Tất cả qua dần chuỗi dấu yêu
Rêu phong, cỏ úa, tím tiêu điều
Khu vườn xuân thắm giờ hoang quạnh
Sáo sậu lạc tình sáo sậu kêu

Truyện ngắn

Chim sáo có sang sông? – Hoàng Khánh Duy

Nhân nhớ hồi nào con sáo còn ở bên kia sông, chiều nào nó cũng đứng hót dưới rào giậu đổ trước hiên nhà. Mỗi lần Nhân muốn qua thăm con sáo chỉ cần đi ngang cây cầu khỉ lắt lẻo, nhịp bên này đã gãy sau đợt mưa giông kéo dài, người xóm Đậu Biếc thấy vậy lấy khúc cây ken vào đó rồi đóng đinh. Thế là chiều nào Nhân cũng đứng bên này sông ngó sang tìm con sáo. Mấy thằng nhỏ trong xóm nhìn Nhân, hát hoài:

Chiều chiều, anh đứng ở bên sông
Buồn thương con sáo sậu
Khi lúa mùa trổ đòng đơm bông
Buồn cho con sáo sậu
Nó lẻ bầy sổ lồng mà bay…

Tụi nó biết con sáo sậu của anh là người mà tụi nó gọi bằng hai tiếng thân thương: “Chị Hoài”.

Mối tình đầu của tôi – phan ni tấn

Hồi nhỏ, anh nhà quê ở núi như tôi có biết gì là yêu với đương. Thấy mấy thằng bạn hàng xóm hỉ mũi chưa sạch có đứa làm bộ như có bồ lên mặt dợt le, tôi cứ tỉnh bơ con sáo sậu…

… Từ ngày con nhỏ bỏ đi tui vẫn cứ tỉnh bơ như con sáo sậu,…

Nhạc chim – Ma Văn Kháng

… đôi tai thẩm âm của ông vẫn nhận ra, chúng cũng không thể át được tiếng gù trầm trầm ấm áp ân tình của mấy con cu gáy cổ đeo hạt cườm, và bọn cà kiễng dẫu sao cũng vẫn là các bà phụ nữ ở nơi họp chợ lắm điều; chúng đậu trên những cành thành ngạch thưa lá, xương xẩu. Cũng vậy thôi, đối nghịch hẳn với chúng là tiếng hót của bọn khướu có chất giọng sang sảng, ngân vang.

Âm nhạc

Buồn con sáo sậu – Minh Vy
Võ Hoàng Huy – https://www.youtube.com/watch?v=P-0reY3uiQQ

Loài điểu học: sáo sậu – black-collared starling (Gracupica nigricollis)

Sáo sậu còn được gọi là sáo cỏ đen, sáo trâu, cà cưỡng, cà cưởng, cà cượng, cưỡng, cà kiễng, thuộc Họ Sáo (Sturnidae).

Sáo sậu có thân dài 28cm. Kích thước lớn hơn so với các loài sáo khác. Bộ lông chủ yếu là trắng và đen lẫn lộn, vòng cổ đen, đầu trắng, mặt bụng trắng, lưng đen. Mỏ đen, dài và nhọn. Khó phân biệt trống và mái. Chim non: màu đen và xám nhạt.

_sao sau

Phân bố toàn cõi Việt Nam. Sống định cư, gặp phổ biến lên đến độ cao khoảng 1.500 mét.

Sống ở vùng trống trải, làng bản, chỗ trồng trọt, đồng ruộng và khu vực cây bụi.

Có thể dạy nói tiếng người và hót một điệu nhạc. Xem:
https://www.youtube.com/watch?v=zVIhtO-Klu0

Hình ảnh và tiếng kêu:
https://www.birdwatchingvietnam.net/science-name/black-collared-starling-148

Sâm cầm

Thơ

Đượm hương sắc nhớ – Vũ Kim Thanh
Luyến nhớ nhành hoa sắc lá rơi
Sâm cầm nhỏ bé cánh chơi vơi
Hồ xanh bóng nước mây vời vợi
Ðỏ mắt người thương đợi tím trời

Thu kỷ niệm – Quách Tỉnh Xuân Trường
Em còn nhớ chiều hồ Tây mê mải
Sâm cầm buồn bơi mãi chẳng về đâu
Trời vào thu lắc rắc những giọt ngâu
Trong tâm tưởng tình đầu thường chia cách

Em mang nắng về – Nguyễn Ngọc Giang
Tây Hồ một cõi thực mơ
Sâm cầm vỗ cánh giờ chưa thấy về
Mây chiều rong ruỗi trên đê
Để con diều thả câu thề đầy vơi

Ký sự

Địa ngục của chim trời – Vũ Mừng

Một “địa ngục chim trời” khác nằm ở Bắc Bộ. Không giống như những khu chợ tự phát khác chỉ lưa thưa dăm ba lều hàng, ở đây cả một dãy đường biến thành chợ. Hàng chục con người lấy việc buôn bán động vật hoang dã làm kế sinh nhai, thả sức tràn ra đường chèo kéo người mua hàng. Lều hàng nào cũng tràn ngập chim ngói, cuốc hoa, cò, vạc, thậm chí cả những loài quý hiếm như: vịt trời, le le, sâm cầm… cũng bị nhốt hàng đàn.

Mùa le le bồng bồng năm nay – Huỳnh Văn Ba

Xưa kia Hồ Tây có rất nhiều sâm cầm và hoa sen. Dân Hà Nội có câu: “Dưa La, húng Láng, ngổ Đầm/ Cá rô Đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây”.

Trước đây, chim sâm cầm là sản vật để tiến vua. Sau nầy hết vua rồi ai bắt nó ăn không biết mà Hồ Tây dần dần không còn con nào nữa.

Tôi có một người bạn chụp ảnh sống ngoài đó nhiều năm than rằng: “Ngày nay người từ hành tinh nào đến không biết họ bắt chim ăn và cắt hoa sen đem bán…”

Hồi còn sống nhạc sĩ Trịnh công Sơn có đến thăm Hồ Tây, and có làm 1 bài ca khá hay:

Hồ Tây chiều thu
Mặt nước vàng lay
Bờ xa mời gọi
Màu sương thương nhớ
Bầy sâm cầm nhỏ
Vỗ cánh mặt trời…
(Nhớ mùa thu Hà Nội – Trịnh Công Sơn )

Tôi không rõ anh Sơn thấy con sâm cầm thật hay trong giấc mơ hồi trước giải phóng. Nếu không thì anh có phải là “người mù đi xem chim” như tôi có diễm phúc gặp một ngày nào đó năm trước chăng?

Truyện ngắn

Người không chiêm bao – Nhật Chiêu

– Cháu đợi sâm cầm nhưng không thấy.

– Dạo này hiếm hoi lắm!

– Sao thế ạ?

– Hàng quán xáo xác, du thuyền lung tung, săn bắt bừa bãi, chim biết trú vào đâu? Sâm cầm chỉ thích những nơi thanh vắng như cửa sông, bờ biển và đại hồ, nơi chim có thể bơi lặn thỏa thích và sống qua mùa đông.

– Cháu ngỡ mình về đúng mùa sâm cầm. Hóa ra không có gì hết!

– Nhớ những mùa trước, sâm cầm thường lặn dưới vạt sen của tôi tìm ăn những hạt sen rơi rớt, thực vật thủy sinh và tôm ốc nhỏ.

Âm nhạc

Nhớ mùa thu Hà Nội – Trịnh Công Sơn
Hồng Nhung – https://www.youtube.com/watch?v=thPsZQJwI_g

Loài điểu học: sâm cầm – Eurasian coot (Fulica atra)

Sâm cầm thuộc họ Gà nước (Rallidae), là loài chim di cư, hằng năm bay dọc trái đất.

Đầu và cổ màu đen tuyền, mắt nâu đỏ, mỏ nhọn dài màu vàng nhạt, mào là một cục thịt rộng màu trắng ngà, hơi nhô lên. Lông ở lưng và bụng màu xám, đuôi màu thẫm hơn. Đôi cánh ngắn phớt tím. Chân cao màu lục xám nhạt, có 4 ngón, các ngón đều có màng mỏng khá rộng. Trọng lượng trung bình 400-500gr, nhưng cũng có con nặng 700 gr. Chim non: lông màu nâu, mỏ đỏ.

_sam cam

Sâm cầm sống bằng thực vật tìm thấy dưới đáy ao hồ.

Loài chim này từng di cư về Việt Nam trú đông ở vùng Hồ Tây, Hà Nội, vì thế được đưa vào nhóm đặc sản của Hà Nội:

Dưa La, húng Láng, ngổ Đầm
Cá rô Đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây.

Tuy nhiên sau này, vì nạn săn bắt vừa bãi, nên sâm cầm còn không trở lại Hồ Tây.

Dân gian cho rằng thịt sâm cầm rất bổ dưỡng, nên mới gọi tên chim là “sâm”, ý nói đem lại lợi ích cho sức khỏe tương tự như củ sâm. Vì thế mà có một số trang trại nuôi sâm cầm để cung cấp cho các nhà hàng tạo ra “món ăn giá tiền triệu”.

Sẻ

Ca dao

Con chim se sẻ nó đẻ cột đình
Bà ngoại đẻ má, má đẻ tụi mình

Thơ

Hội An mưa – Nguyễn Vân Thiên
Mưa qua sân chùa cổ
ướt cả tiếng chuông chiều
Đàn sẻ vụt bay,
hoàng hôn vỡ rơi trên mái ngói
Thấy em không dám gọi
Sợ mưa ướt tên người

Như bình minh trở lại – Hồ Trường An
Hoa vông đồng nở đỏ
Mùa chim sẻ liên hoan
Chào nắng vàng đầu ngõ
Bông điệp nhắn bông trang

Truyện ngắn

Mười giờ – Võ Phiến

Cây trúc thế mà khỏe. Cành lá nó tỏa rộng ra sum suê. Nhiều buổi trưa vắng, lũ chim sẻ kéo đến ríu rít trong tàn lá ấy. Mỗi lần nghe tiếng khua động trong nhà, chúng bay tán loạn. Trưa mùa hè, nhiều lúc không được trông đến, trúc khô nước, lá cuốn cả lại. Múc một lon nước đổ vào gốc cho nó, thử lắng tai, có thể nghe tiếng lá khô mở ra rào rào, khe khẽ. Chừng vài giờ lá lại cuốn queo, lại cần thêm lon nước nữa.

Ngày thángNguyễn Đình Toàn

Lúc tôi trở ra ngoài phòng thì trời đã tối. Những con chim sẻ đã bay về ngủ trên cây ngọc lan khu vườn bên cạnh, chúng yên lặng bay vờn chung quanh ngọn cây và chỉ còn là những chấm đen di chuyển, tôi nhận ra chúng vì đã nhìn thấy nhiều lần chứ không còn trông rõ gì nữa.

Bài hát biệt ly – Phan Cao Toại

Vào thời điểm đêm và ngày giao nhau, ánh hoàng hôn đỏ thẫm phía xa xa hiện qua cửa sổ căn phòng như một bức tranh tuyệt diệu của thiên nhiên. Tôi thường đứng bên cửa sổ ngắm những con chim sẻ bay vội vã vào các mái nhà, và những tán lá xanh trong khuôn viên bệnh viện đang chuyển thành mầu tím.

[…]

… Một sự vắng lặng dâng tràn. Tôi vẫn đứng nhìn khung trời và hoàng hôn tím sẫm ngoài cửa sổ. Mọi ngày, anh Hoàng vẫn hát vào lúc này. Khi anh cất tiếng hát cũng là khi chim sẻ từng đôi trên ngọn phi lao ríu rít sà vào những tổ ấm của chúng dưới mái ngói của những ngôi nhà.

Ðến giữa giờ giao thừa – Nguyễn Thị Châu Giang

Một con chim sẻ từ đâu bay lại, đậu trên bậu cửa. Nó mổ tóc tóc cái mỏ nhỏ xíu vào cửa kính, tò mò nhìn vào trong nhà.

Người đàn bà đứng dậy, cũng chống tay vào nạnh tò mò nhìn lại nó, miệng mỉm nụ cười thân thiện. Nhưng khi chị tiến lại gần, con sẻ hốt hoảng bay đi mất, để lại những dấu chân mờ mờ như hình chiếc lá ba cánh.

Gác cửa ký ức – Tiến Đạt

Chúng tôi cùng chung niềm đam mê bắt các chú chim sẻ con đem về nhà nuôi tử tế. Chim sẻ có nhiều nhất tại chợ Trung Nghĩa. Chúng làm tổ trên các bụi tre, cây dừa, phổ biến nhất là trên các cây cau. Tổ của chúng làm bằng rác, lá lúa tha về từ cánh đồng Châu cách chợ khoảng hai cây số. Những chú sẻ con được đem về nuôi cho đến ngày đủ lông khỏe cánh rồi mới được chúng tôi xổ lồng.

Chúng tôi cũng luôn tìm cách giải vây những chú chim sẻ lớn bị người lớn săn bắn làm món ăn cải thiện (đây là phong trào rộ nhất thời bấy giờ ở khu chợ). Những chú chim bị què chân, gãy cánh, bể đầu được chúng tôi đem về băng bó vết thương, thay phiên nhau chăm sóc tử tế chờ ngày khỏe mạnh thả ra.

Nhiều chú không chịu rời chúng tôi mặc dù biết mình đã được tự do. Những chú chim xấu số được chúng tôi chôn cất tử tế, cũng nhang đèn, lạy vái, tẩm liệm bằng các tờ giấy học trò. Sáng sớm mùng một tết hằng năm, trong khi những người lớn xóm chợ đến gò mả đốt nhang cho những người thân quá cố, bốn đứa chúng tôi cũng nhang đèn, trái cây tìm đến khu nghĩa địa chim sẻ tưởng nhớ những người bạn. Năm tôi mười một tuổi, khu nghĩa địa chim có năm mươi tám ụ đất nhỏ.

Bà cụ Cần và bầy chim sẻ – Ma Văn Kháng

Những con chim sẻ bé nhỏ quen thuộc từ hốc nhà bay xuống khi bà cụ Cần sàng sảy gạo. Những con chim sẻ hằng ngày ríu ran trong các mảnh vườn ổi, vườn cam, vườn nhãn. Những con chim có bộ lông nâu pha xám treo mình như những quả chuông trên những cọng lúa đang chín vàng. Những con chim mỏ sừng đen nhánh túc tích trong những chân rạ ải tìm bắt sâu bọ. Những con chim tụ họp cả bầy, đông như một nắm bụi bay tung tóe lên từ những vườn hoa thành phố, từ những thảm cỏ xanh trên dải phân cách giữa đại lộ mỗi khi có một chiếc ô tô rú còi inh ỏi chạy qua. Những con chim sẻ từ các khu đồng sau vụ gặt ở ngoại thành bay về, đậu cả loạt làm thành một hình tượng trang trí trên các mái nhà cao tầng, yên bình rỉa lông cánh, để lộ lớp lông tơ trắng mờ ở phần bụng. Những con chim sẻ tắm cát, một dấu hiệu của cơn bão lũ sắp về…

Truyện dài

Mắt biếc – Nguyễn Nhật Ánh

Ði một hồi, đến trường, Hà Lan ngồi dựa lưng vô tường nghỉ mệt, còn tôi thì đi tìm tổ chim. Ngày nghỉ, các lớp học vắng hoe. Tôi đi rảo dọc theo những bờ tường, mắt nhìn chăm chăm lên đầu hồi. Chim sẻ thường làm tổ trên đầu hồi. Chỗ nào có tổ chim sẻ, chỗ đó bao giờ cũng có rơm rác lòi ra ngoài. Chúng không biết che giấu chỗ ở của mình như những loài chim khác.

Loài điểu học: sẻ – Eurasian tree sparrow (Passer montanus)

Tuy có nhiều phân loài, sắc lông không thay đổi mấy.

_se

Ở Châu Á sẻ thích nghi với môi trường thôn làng và đô thị, hầu như không còn hiện diện trong rừng rậm; nhưng ở Châu Âu sẻ sống ngoài đồng trống (ở đô thị có một loài sẻ khác), còn ở Úc sẻ bị xem là loài gây hại cho mùa màng.

Làm tổ một cách cẩu thả trong một hốc của một tòa nhà, đình chùa, vách núi, thân cây…, thậm chí đẻ vào tổ của loài chim khác như chích chòe, cò, diệc…

Sẻ đồng

Truyện ngắn

Trên đỉnh non Tản – Nguyễn Tuân

… Lúc trở về đi qua dưới cây đại cổ kính đầu cành chàng nạng nhẵn nhịu như những cặp nhung hươu, thấy có chim, ông phó Sần bèn phóng một mũi tên vàng, dây cung kêu đánh phựt một tiếng. Rồi mũi tên lướt rơi qua lùm cây tóc tiên và rớt xuống cỏ thạch sương bồ bóng loáng nước sơn then. Lại cũng đủ sáu con chim xiên vào mũi tên như một que chả chim nướng cả con. Mà thực là một xiên chả. Mùi thơm ở sáu con chim sẻ đồng bị tên vàng cắm suốt, thơm phưng phức…

Nhạc chim – Ma Văn Kháng

Ông Biền thân thiết với các loài chim từ thời ấu thơ. Ôi cái thời chăn trâu đốt lửa ngoài đồng. Thế nào mà bên cạnh tuổi thơ nơi ruộng đồng ngày ngày lại không có chiếc lồng tre gài mấy bông thóc lúc nào cũng lích rích mấy gã sẻ đồng tham ăn nổi tiếng …

Truyện dài

Bến không chồng – Dương Hướng

Bây giờ là mùa xuân, mùa trồng đậu. Khắp cánh đồng mầu rực lên những dây cờ xanh, đỏ, trắng vàng và những thằng người nộm. Chúng đứng im phắc như những bóng ma đội nón mê, áo quần tả tơi giương roi doạ dẫm lũ chim sẻ. Lũ chim sẻ khôn như ranh, sà xuống chén những mầm đậu non mới nhú lên khỏi mặt đất.

[…]

Thằng Hà vừa nói vừa cởi quần áo nhảy phốc xuống ao. Nước ao sủi bùn đục ngầu. Thằng Hiệp xách xâu chim sẻ vừa bẫy được đến khoe mẹ.

– Chúng con quây được cả đàn đến hai chục con! Con đã đem cho chú Vạn và cái Hạnh một chục.

Chị Nhân nhìn mãi xâu chim, có con đang giãy chết run lẩy bẩy rã cánh rũ rượi.

Loài điểu học: sẻ đồng hung – chestnut bunting (Emberiza rutila)

Thuộc Họ Sẻ Đồng (Emberizidae), gồm các loài chim ăn hạt, mỏ hình chóp. Phần lớn lẩn lút trong tầng cây bụi thấp, đôi khi kiếm ăn trên mặt đất. Chim trống trong thời kỳ sinh sản dễ nhận biết.

14 cm. Chim trống: Đầu và lưng nâu-đỏ, mặt bụng vàng. Mùa đông có màu hung nhạt lẫn các vằn nhỏ lốm đốm, đa dạng, ngực có dải vàng và hung. Chim mái, chim non, và chim trống ở mùa đông đầu tiên: Phía lưng nâu có kẻ sọc, mặt bụng vàng nhạt. Chim non có kẻ sọc trên ngực nổi bật hơn.

_se dong hung

Phân bố: Các vùng trong cả nước. Di cư đến vào mùa đông, khá phổ biến.

Sinh cảnh sống: Thích vùng bìa rừng và đôi khi thấy ở vùng đất trồng trọt..

Sếu

Thơ

Một mùa đông – Lưu Trọng Lư
Trời hết một mùa đông
Gió bên thềm thổi mãi
Qua rồi mùa ân ái
Đàn sếu đã sang sông.

Truyện ngắn

Một gia đình – Hoàng Đạo

Những ngày hè oi nồng đã hết, và cũng đã hết những ngày trong sáng của mùa thu ngắn ngủi. Gió bấc đã bắt đầu đuổi lá bàng trên những con đường vắng, và tiếng sếu kêu lạnh đã vang động trong đêm khuya. Con gái nhà giàu mặc thử những bộ áo nhung ấm, con nhà nghèo rét run trong mảnh áo rách.

Sếu cổ đen, sếu xám – black-necked crane (Grus nigricollis)

Họ Sếu (Gruidae) gồm các loài chim lớn có cổ dài và chân dài. Con trống của hầu hết các loài sếu có vũ điệu tán tỉnh con mái. Sếu xây các tổ trên búi ngọn nhiều cây trong vùng nước nông, và thường đẻ hai quả trứng tại một thời điểm. Cả chim bố lẫn chim mẹ đều cùng chăm sóc chim non, con non vẫn ở với cha mẹ cho tới mùa sinh sản tiếp theo.

Sếu trong thi ca Việt Nam rất có thể phần lớn là loài sếu cổ đen, còn sếu đầu đỏ chỉ mới được biết đến nhiều trong vài thập kỷ trở lại đây.

Sếu cổ đen có kích thước trung bình trong số các loài sếu: cao 139 cm. Đầu và phần trên cổ đen. Phần dưới cổ, lông bao cánh, lông trên đuôi và nói chung toàn thân xám nhạt.

_seu co den

Ở Việt Nam đã gặp sếu cổ đen trú đông ở đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.

Sếu đầu đỏ

Truyện ngắn

Con sóng Đồng Tháp Mười – Nguyễn Thị Phước

Có lần ông đỡ cây đờn kìm trên vách, định chơi lại bản nhạc ông viết cho Thoan mười tám năm trước, bản nhạc nhờ nó cả nước biết tên ông, trong đó có tiếng sóng Đồng Tháp Mười mùa nước nổi, có cánh cò trắng lạc mẹ đậu nhờ vai áo đen cô du kích trên chiếc xuồng ba lá, có ánh trăng lung linh đồng nước cỏ cây, có câu vọng cổ da diết quấn quít với tiếng đờn kìm lão luyện như có ma nhập, có tiếng sếu gọi bạn ở Tràm Chim…

Loài điểu học: sếu đầu đỏ – Sarus crane (Antigone antigone)

Tiếng sếu gọi bạn ở Tràm Chim có thể cũng là sếu cổ đen nêu trên. Còn sếu đầu đỏ chỉ mới trở lại Tràm Chim từ 1986 và từ lúc đó mới được biết đến trong dân gian.

Sếu đầu đỏ, còn được gọi là sếu cổ trụi, có thân hình cao nhất trong các loài chim bay được: 120-160 cm.

Không thể nhầm lẫn: đầu cổ, thân xám, đuôi trắng, chân hồng. Trống và mái giống nhau nhưng mái nhỏ hơn một chút, chim non màu nâu xám, mọc lông vũ đầy đủ.

_seu dau do

Sếu đầu đỏ sống trên đất ngập nước hay những mảng đất bỏ hoang giữa đồng lúa ngập lũ. Mỗi năm chúng về Tràm Chim (Đồng Tháp) và Hòn Lương (Rạch Giá) để tìm thức ăn chính là củ năng, nhưng số lượng hiếm dần từng năm do sinh cảnh bị thu hẹp và nhu cầu giữ nước để phòng chống cháy rừng tràm.

Sinh sản chủ yếu ở Ấn Độ và Campuchea. Đẻ 1-2 trứng, hiếm khi 3 hoặc 4. Hầu hết các đôi nuôi thành công 1 hoặc 2 con non.

Trong điều kiện nuôi nhốt, sếu đầu đỏ có khả năng sống lâu đến 42 năm.

Sếu đầu đỏ được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam để bảo vệ, và được IUCN xếp vào cấp độ VU (gần bị đe dọa).

Sơn ca

Bút ký

… Quê hương của sơn ca phổ biến ở những vùng nhiệt đới. … Cứ cánh đồng nào có nhiều đồi, gò, lắm bụi cây hoang dại, triền sông rậm rạp là ở đó có chim sơn ca trú ngụ.

Cũng như họa mi, trời phú cho sơn ca có một giọng hót tuyệt diệu nên trời cũng bắt sơn ca phải mang một vẻ bề ngoài rất “quê mùa”; trông bề ngoài sơn ca còn thô mộc hơn cả họa mi. Hoạ mi còn có cái lưng, cái đuôi màu xám, cái bụng vàng ong óng, nhìn kỹ có chút duyên ngầm; còn sơn ca thì toàn thân màu nâu xám nhờn nhợt, trên lưng lại có những chấm, sọc đen, gần giống với bộ lông của con rẽ giun, con cò lửa, con gà đồng. Trông sơn ca lúc nào cũng lem luốc như vừa từ bùn đất nhoi lên vậy.

Suy cho cùng thì sơn ca phải mang bộ lông xấu xí như thế cũng là hợp lẽ, bởi phải có màu lông ấy sơn ca mới dễ lẫn với màu đất đai, cây cỏ, kẻ thù mới khó phát hiện. Sơn ca có giọng hót quá hay nên rất lắm kẻ thù. Rắn, chuột, cò, diều hâu, chim cắt, cáo, cầy hôi, chồn, kỳ đà… đều là những kẻ thù nguy hiểm của sơn ca. Chúng phát hiện ra tổ sơn ca là mò đến ăn mất trứng, giết chết sơn ca con.

Chính vì nhiều kẻ thù như thế, ngoài bộ lông xấu xí để nguỵ trang, thiên nhiên còn ban cho sơn ca một trí khôn hơn hẳn nhiều loài chim khác. Sơn ca không làm tổ trên cây, vì trên cây thì kẻ thù nào cũng nhìn thấy, chúng làm tổ ngay dưới mặt đất đồi, gò; nơi có những gốc cây, thảm cỏ. Sơn ca chọn những cái hốc nhỏ như vết nứt giữa hai tảng đất hay một vết chân người để làm tổ. Bên trên tổ, sơn ca ngụy trang rất khéo. Tinh ranh như rắn, chuột đi qua cũng khó mà phát hiện. Mỗi khi sơn ca bay lên trời để hót hay bay đi kiếm ăn trở về, không bao giờ chúng sà xuống chính cái nơi có tổ của chúng. Bao giờ chúng cũng sà xuống một nơi cách xa tổ, để đánh lừa kẻ thù, rồi khi chân chạm đất chúng mới lủi rất nhanh, theo cách lủi của con chim cuốc. Về đến gần cửa tổ, quan sát xung quanh, cảm thấy an toàn, chúng mới khẽ khàng chui xuống tổ. Xuống tổ rồi, chúng dùng mỏ kéo những sợi rác lấp cửa tổ. Khi ra khỏi tổ, chúng cũng lủi một quãng xa rồi mới bay vọt lên bầu trời. Nhiều hôm những người nông dân quê tôi đi làm đồng sớm, trông thấy đôi chim bé tí, lông xỉn như màu đất, lủi rất nhanh từ vệ gò vào bụi cây, người ta chẳng hiểu là chim gì, liền gọi liều là con sẻ đất, con sẻ đồng. Thực ra đấy chính là đôi vợ chồng sơn ca.

Đàn sơn ca con vừa chui ra khỏi vỏ trứng đã được thừa hưởng sự khôn ngoan lanh lẹ từ bố mẹ. Đang còn ở trong tổ, bị kẻ thù phát hiện quấy phá, sơn ca bố mẹ vọt ra khỏi tổ, đàn sơn ca con cũng vọt theo sau, lủi rất nhanh bám đuôi bố mẹ…

Thơ

Sơn ca hót giữa đồng – Từ Kế Tường

Ôi cái thời thơ dại
Ngây ngất giọng sơn ca
Con chim của bao la
Nhỏ nhoi như nắm cỏ

Áo vướng đầy bụi cỏ
Tha phương trở gót về
Giũ mộng trên triền đê
Thấy sơn ca lồng lộng
Hót giữa trời cao rộng
Gọi lúa chín vàng thêm

Đan sợi tóc kết vần thơ – L

Gọi gió mùa thu hoa lá rũ
Chiều vang gót nhỏ nét đoan trang
Mây dài suối tóc hồn ngơ ngẩn
Vương vấn tình ai phút ngỡ ngàng

Gọi tiếng sơn ca về rộn rã
Em đan sợi tóc kết vần thơ
Anh về chân vướng dây tơ ước
Cuốn trọn tim hồng buộc giấc mơ

Truyện ngắn

Bên đập đồng cháy – Võ Hồng

Bao nhiêu công lao, bao nhiêu nhọc nhằn mới làm nên cái nhà này. Từng gánh đất ruộng gánh đổ chồng chất hàng mấy tháng trời mới làm được cái nền nhà này. Vợ chồng ra công gánh, chiều mát và đêm trăng. Có tiếng con chim sơn ca hát rung rinh ở đỉnh đầu. Có ngọn gió nồm thổi ngã ngọn cỏ. Rồi sau đó chan chát tiếng chàng tiếng đục, cắt cưa bào khoét, cây cột cây kèo, cây xà cây trình. Rồi rui rồi mè, rồi mầm tri rồi rơm nhào với đất bùn, rồi từng tấm tranh chụp lên, rồi sắp nóc. Chồng bà hiện diện ở khắp nơi trên mái, ở dưới nền, mồ hôi chảy thành dòng ở giữa ngực.

Âm nhạc

Như bầy sơn ca – Y Vân

Líu lo, nghe buổi sáng chim ca líu lo
Líu lo, líu lo, chim trên cành
Rộn ràng theo bước chân em
Líu lo, theo từng bước chân thơ ngây bước đi
Líu lo, líu lo chim trên cành
Cùng ngày mai hát ca

Bé Trang Thư – https://www.nhaccuatui.com/bai-hat/nhu-bay-son-ca-be-trang-thu.iiySkvEGhDSE.html

Loài điểu học: sơn ca – Oriental skylark (Alauda gulgula)

Có thân hình nhỏ bé, chỉ to ngang một nắm tay của người lớn. Toàn thân màu nâu pha xám nhạt, đầu vàng, lưng có những chấm và sọc đen, bụng trắng, nhìn từ xa người ta có thể nhầm với chim sẻ.

_son ca

Sơn ca trống có tiếng hót hay, ngoài hoang dã chỉ hót khi ra khỏi tổ, vừa bay vừa hót. Sơn ca hót cả ngày lẫn đêm, thường nhất là vào lúc tảng sáng.

Te te

Thành ngữ

Chạy te te / Đi te te

Truyện ngắn

Cú vẫn còn kêu – Trần Quang Khanh

… Bởi đã có tên biết bao loài chim mà người đời dùng từ tượng thanh qua tiếng kêu để đặt, chẳng hạn như: quạ, cuốc, quách te te, bắt cô trói cột,…

Bởi yêu thương – Nguyễn Ngọc Tư

Sân chật đầy lá rụng có bữa bỗng dưng biến thành sân triều. Sáu Tâm gọi “Cung nữ!”, San dạ, te te đi ra tay dâng chén rượu ngang mày…

Tình lỡ – Nguyễn Ngọc Tư

Xong dì sai con đem tờ giấy cho dượng. Đi te te về, dượng nạt: “Ý cô nói tui đi nhậu không biết đường về nhà hả?…”

Đau gì như thế – Nguyễn Ngọc Tư

Ngày nào cũng vậy, ông già Tư Nhỏ đi làm từ sáng sớm, khi người chưa tỏ mặt người, quen chân nên te te qua quãng đông nhà mới dám đứng lại, thở.

Mối tình năm cũ – Nguyễn Ngọc Tư

Mấy ông già dội ra, chống gậy te te về, bụng chửi, cái thằng, coi mặt chữ điền bự vậy, cái miệng rộng vậy mà ích kỷ, hẹp hòi.

Loài điểu học: te vặt – red-wattled lapwing (Vanellus indicus)

Đây là một loài chim đặc biệt ở chỗ dáng đi, dáng chạy được gọi theo tên chim: “đi te te”, “chạy te te”. Đặc ngữ này được Nguyễn Ngọc Tư dùng trong một số truyện ngắn đến mức không cần viết “đi” hay “chạy”, người đọc vẫn hiểu động từ “te te” có nghĩa là gì.

Te vặt là một loài chim trong Họ Choi choi (Charadriidae).

Thân dài 33 cm. Chim trưởng thành có đầu, cổ và ngực trên màu đen tương phản với màu trắng ở phần dưới cơ thể và vệt trắng chạy từ dưới mắt xuống hai bên cổ. Mỏ đỏ, chóp mỏ màu đen; phần trên cơ thể màu nâu lục có ánh bóng màu tím và xanh lá cây. Giò và ngón chân màu vàng.

_te vat

Loài định cư phổ biến từ Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa) đến Nam Bộ.

Sống ở đầm lầy, sông, hồ, cánh đồng lúa và những nơi trống trải trong rừng. Gặp tới độ cao khoảng 1.500 mét.

Thầy chùa / Cu rốc

Đồng dao

Gõ mõ lốc cốc, là chim thầy chùa(1)

(1) Chim thầy chùa: Tên chung của các loài chim có tiếng kêu ‘cốc, cốc’ như tiếng gõ mõ, còn gọi là họ cu rốc.

https://cadao.me/ve/ve-chim-choc/#note-1947

Loài điểu học: cu rốc cổ đỏ – coppersmith barbet, crimson-breasted barbet (Psilopogon haemacephalus)

Thuộc Họ Cu rốc (Megalaimidae). Họ này có 10 loài ở Việt Nam, rất khó quan sát, nhận biết nhờ tiếng kêu liên tục không ngớt.

Ghi chú: Chi Psilopogon trước đây mang tên Megalaima.

15-17 cm. Không thể nhầm lẫn: thân màu lục, đầu và ức đỏ tươi, họng vàng, bụng trắng xỉn có những vệt xám, chân đỏ hồng. Khi làm tổ, lông có thể xơ xác nên trông như có màu lam nhạt.

Loại định cư phổ biến toàn cõi Việt Nam trừ Bắc Bộ. Sống ở rừng cây gỗ, cũng đi vào đồn điền và vườn có cây cao. Đục thân cây thành bọng để làm tổ đẻ trứng và cũng làm chỗ ngủ. Chim chưa trưởng thành ban ngày đi kiếm ăn, chiều về sớm hơn chim bố mẹ để giành trước chỗ ngủ.

Tiếng kêu đúng nghĩa giống thầy chùa gõ mõ: chỉ một âm ‘cốc’ lặp đi lặp lại đều đặn và liên tục. Tôi vẫn thường nghe tiếng kêu này khi đi khảo sát thực địa ở miền Trung, và hiện vẫn nghe hầu như hằng ngày ở khu Phú Mỹ Hưng, Quận 7. Lúc nào cũng chỉ nghe tiếng kêu vọng lại từ xa chứ chưa hề trông thấy con chim này.

Tiếng kêu:
https://www.xeno-canto.org/species/Psilopogon-haemacephalus_cu rocLoài điểu học: cu rốc đầu xám, thầy chùa đầu xám – green-eared barbet (Psilopogon faiostrictus)

Đây là loài cu rốc thứ hai mà tôi cũng thường nghe ngoài hoang dã.

Thân mập mạp, dài 25-27 cm. Cổ ngắn, đầu to, đuôi ngắn. Bộ lông nói chung màu lục, đầu xám hoặc vàng nhạt có những vạch nâu, bụng lục nhạt có những vạch nâu, chân xám. Trống, mái và con non giống nhau.

Loài định cư phân bố trên cả nước.

Sinh cảnh sống: các vùng rừng thưa thường xanh hoặc thay lá. Gặp lên độ cao khoảng 1.000 mét. Làm tổ trong hốc của thân cây khô.

Tiếng kêu: đúng như tên cu rốc, thường là từng chuỗi 3 âm ‘rốc’ cao ngang nhau và thật ngắn đi liền nhau; đôi lúc chuỗi 2 âm ngắn dịu hơn:
https://www.xeno-canto.org/species/Psilopogon-faiostrictus

Thiên đường

Ký sự

Xôn xao chim thiên đường xuất hiện ở Sài Gòn – Trung Thanh

Khoảng một tuần nay, giới săn ảnh động vật hoang dã ở TP.HCM xôn xao rủ kéo đến quán cà phê Đông Hồ (khu du lịch Kỳ Hòa, Q. 10, TP.HCM) để ăn ảnh một con chim lạ vừa xuất hiện ở khu vực này.

Sau hai ngày “phục kích”, dù đã chụp được một số bức ảnh về con chim lạ nhưng anh Tiếng (nhà ở Q.1, TP.HCM) vẫn muốn chụp thêm..

“Ngày 23/10 mình có chụp được một vài tấm nhưng chưa ưng ý lắm. Đó là con chim thiên đường trống có đuôi dài rất đẹp. Chim này xuất hiện ở Sài Gòn là chuyện khá hy hữu. Trước đây, muốn chụp loài chim này mình phải sang tận Thái Lan”, anh Tiếng chia sẻ.

Theo một số nhiếp ảnh gia chuyên săn ảnh chim hoang dã, trước đây chim thiên đường từng xuất hiện ở khu vực hồ Kỳ Hòa trong một thời gian ngắn nhưng chưa có ai chụp được hình ảnh rõ ràng. Do đó, lần này, rất nhiều tay săn ảnh quyết tâm phục kích để chụp cho bằng được. [Ảnh cho thấy đó là chim trống dạng màu nâu]

Trao đổi với phóng viên Phụ Nữ TP.HCM, một chuyên gia về động vật hoang dã thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho biết, ở Việt Nam chim thiên đường thường sinh sống trong rừng, nơi ghi nhận nhiều nhất là rừng Nam Cát Tiên.

Phát hiện chim thiên đường ở Lào Cai – Tân Trung

Một người ở tỉnh Lào Cai bắt được một con chim có đầu màu xanh, lông ở thân có màu trắng, mà theo chuyên gia đó là chim Thiên Đường.

Anh Hoàng Văn Lĩnh, ở xã Lương Sơn, huyện Bảo Yên cho biết, anh thấy con chim “kỳ lạ” trên xuất hiện ở bụi tre gần nhà anh vài ngày trước. Sau đó, anh và một số người đuổi bắt nhưng không được, phải chờ đến tối, anh Lĩnh dùng lưới mới bắt được nó, trang Khám phá đưa tin.

Con chim có đầu màu xanh, toàn bộ lông ở thân màu trắng nhưng phần đuôi cánh lại màu đen. Đặc biệt, nó có đuôi dài khoảng 40 cm…

Trao đổi với VnExpress, chuyên gia động vật, giáo sư Võ Quý khẳng định đây là loài chim có tên tiếng Việt là thiên đường, tên khoa học là Terpsiphone paradisi.

“Chúng có bộ lông trắng giống như loài mà người ở Lào Cai bắt được, nhưng cũng có loài có màu nâu thẫm. Con trống có đuôi dài, còn con mái có đuôi ngắn. Thiên Đường sống phổ biến ở rừng của nước ta”, giáo sư Quý nói.

Loài điểu học: thiên đường đuôi phướn – Asian paradise-flycatcher (Terpsiphone paradisi)

Đây là loài chim vừa đẹp vừa có màu sắc đa dạng thuộc Họ Thiên đường (Monarchidae), đặc biệt là có đuôi dài tha thướt trông rất lạ mắt.

Thân dài 19-22 cm không kể đuôi của chim trống có thể dài tới 25-40 cm (có một số cá thể dài bình thường).

Chim trống: Có hai dạng: dạng màu trắng có cánh và đuôi trắng (có khi màu xanh lam hẳn), lưng trắng phớt màu lam; dạng màu nâu có cánh và đuôi màu nâu hạt dẻ. Trong cả hai dạng: đầu và cổ sáng bóng màu lam pha đen, có mào đen rất rõ, mỏ xam lam sẫm.

_thien duong duoi phuon

Chim mái: Gần tương tự chim trống dạng nâu, nhưng lông đuôi ngắn như chim thông thường, mào ngắn hơn.

Tiếng kêu: To, ít âm điệu.

Sống ở rừng thường xanh, rừng ngập mặn, cây bụi thứ sinh và nương rẫy.

Hiện trạng: Sống định cư trên cả nước, tuy nhiên có cả quần thể di cư. Gặp tương đối phổ biến lên đến độ cao khoảng 1.200 mét. Có lẽ vì giới chơi chim không muốn nuôi loài chim có đuôi quá dài trở nên bất tiện nên chim không bị săn bắt mạnh.

Tràu trảu

Tư liệu

Biên Hòa xưa- Gò Công Trao Trảo  – Nguyên- Phong Lê Ngọc Quốc

Địa danh này không phải là Gò Công của tỉnh Tiền Giang nay hay của tỉnh Định Tường năm xưa, mà nó thuộc dinh Trấn Biên năm xưa, nằm bên hữu ngạn sông Đồng Nai. Vùng đất có cái tên là lạ này nay thuộc địa bàn 2 phường Long Thạnh Mỹ và Trường Thạnh (quận 9, TP. Hồ Chí Minh).

Từ ngã tư Thủ Đức quẹo vào đường Lê Văn Việt, rẽ qua đường Lã Xuân Oai, rẽ tiếp qua đường Nguyễn Xiển thì sẽ gặp 2 cầu Gò Công và Trao Trảo, bắc qua 2 con rạch cùng tên.

Lý giải về địa danh Gò Công Trao Trảo.

Lưu dân xưa kia khi đến khai phá, lập xứ mới thì một trong những việc quan trọng ban đầu là đặt tên cho cuộc đất ấy. Theo nghiên cứu của Lê Trung Hoa về cách đặt địa danh, và dựa theo ghi chép của thư tịch xưa, chúng ta có thể đoán vùng đất Gò Công Trao Trảo này xưa kia, khi lưu dân đến khai phá có rất nhiều chim công và chim trảo trảo (người phương Tây gọi là chim ăn ong).

[Ghi chú: thay vì “Trao Trảo”, có tư liệu khác ghi “Trau Trảu” thì đúng hơn để chỉ chim ăn ong]

Truyện ngắn

Tìm xưa duyên hải – Vũ Dy

Bầy tràu trảu đuôi xanh đã bỏ đi rồi. Gò hoang bây giờ thành khu dân cư. Phố đã trên sông, phố cả trên gò. Không còn ai nhớ đến giọng chim líu lo buồn trên những ngôi mộ ngày mưa. Những con chim đem lại xúi quẩy vì dám sống nơi nghĩa trang. Ai cũng lánh xa. Chỉ có chúng tôi là đợi chờ chúng bên những bụi xương rồng. Chờ bay lên để màu lông lục biếc khoảng trời.

Con chim bìm bịp – Trương Hoàng Minh

Hồi đó, ở nông thôn lúa thóc vàng đồng, vườn cây trĩu quả, tôm cá đầy sông, là môi trường lý tưởng cho vô số chim chóc sinh sống. Nhỏ có chim sâu, chim sắc, chim sẻ, lớn có trau trảu, sáo sậu, cu gáy, cò trắng, cúm núm, tu hú, quạ diều… Trong vườn, ngoài ruộng, ven sông rạch, kinh mương nơi nào cũng có. Hồi đó bắn chim cũng thoải mái lắm, không ai ngăn cấm, không ai bảo vệ, không ai cho là phá hoại môi trường, không ai cảnh báo loài này loài kia đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, được đưa vào Sách đỏ cần phải bảo tồn. Tôi xách nạng giàn thun đi chừng vài tiếng đồng hồ là có chim rô-ti cho cả nhà ăn thoải mái.

Loài điểu học: trảu đuôi xanh, trảu ngực nâu – blue-tailed bee-eater (Merops philippinus)

Tên trong dân gian là trau trảu hoặc tràu trảu, đừng nhầm với trao trảo tức là hoành hoạch.

Thuộc Họ Trảu (Meropidae) gồm các loài chủ yếu ăn côn trùng, đặc biệt là ong. Trảu đuôi xanh là loài trảu phổ biến nhất ở Việt Nam.

_trau duoi xanhThân thon, dài 30 cm kể cả lông đuôi (riêng hai lông giữa rất mảnh và dài). Trống mái giống nhau. Bộ lông nói chung màu lục, trừ họng vàng-cam, ngực nâu, viền đen chạy qua mắt, và đuôi màu xanh lam. Đây là một trong những loài chim đẹp nhất của Việt Nam. Tuy nhiên ngoài hoang dã ít người nhận ra vẻ đẹp đó, vì thế trảu đuôi xanh không bị săn bắt gắt gao lắm.

Chim non: không có lông đuôi dài, bộ lông nói chung có màu xỉn hơn.

Phân bố: Các vùng trong cả nước (riêng Tây Bắc chưa rõ).

Định cư phổ biến ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ, cũng như ở vùng ven biển của Bắc và Trung Trung Bộ. Có thể mùa đông bay qua vùng Đông Bắc, phổ biến.

Sinh cảnh sống: Vùng đồng bằng quang đãng, rừng tràm và ngập mặn, ven sông suối ở chỗ trống trải, cũng đi vào thôn làng nơi có nước. Có thể gặp đến độ cao khoảng 1.500 mét. Thường đi theo đàn. Đào hang khá sâu để làm tổ ở bờ đất cát hoặc bờ sông đất bùn, đẻ 5-7 trứng. Cả đàn thường làm tổ kế nhau.

Như tên gọi tiếng Anh, loài chim này thích ăn ong nhưng không gây đe dọa đến cơ sở nuôi ong vì chủ yếu ăn ong vò vẽ và ong bắp cày, cũng ăn nhiều loại côn trùng khác như chuồn chuồn mà chúng ăn với số lượng ngang ong.

Tiếng kêu: ríu rít liên tục.

Trích / Trích cồ / Xít

Thơ

Xuân chưa thành – Vũ Thị Huyền
Mùa xuân đi yểu điệu
Giỡn hoài gái muộn chồng
Bao nhiêu bầy con xít
Đã tình bằng qua sông

Truyện ngắn

Bác vật xà bông – Sơn Nam

Đôi mươi mái nhà lá, vài ba gốc dừa không trái: ngọn Xẽo Bần xơ rơ như vậy đó. Chung quanh là cánh đồng cò bay thẳng cánh nhưng dầy năng kim, ô rô, cỏ ống. Cò lông bông, trích, cúm núm bay lượn tối ngày.

Bầy vịt trời – Hồng Chiến

Xinh đẹp nhất là đám xít, con nào con ấy to như chú gà trống lớn, khoác trên mình bộ lông xanh biếc, đầu đội  mũ đỏ chót, nhọn hoắt như mũ ông già Nô – en, xúm xít bên nhau trên các đám cỏ nằm gần mép nước đào bới, lôi, kéo… Đôi chân chúng mới khỏe  làm sao, bao nhiêu loại cỏ cứng đầu đều bị kéo xuống một cách khéo léo, đan thành tấm nệm đứng chơi, ca hát, nô đùa.

Dân ca

Bài dân ca quan họ Bắc Ninh Lý trống cơm dựa theo bốn câu dân ca quan họ:

Trống cơm khéo vỗ nên bông
Một đàn con xít lội sông đi tìm
Thương ai con mắt lim dim
Một bầy con nhện đi tìm giăng tơ.

Bản ghi âm, Thanh Thảo, remix theo phong cách hiện đại:
https://www.nhaccuatui.com/bai-hat/trong-com-thanh-thao.dCMhX5sGgmCA.html

Video trình diễn sống, Ngọc Mai:
https://www.youtube.com/watch?v=uCGhxIWFxQY

Video trình diễn sống, dân vũ theo điệu bài hát Trống cơm:
https://www.youtube.com/watch?v=B6ShJhfD65o

Loài điểu học: xít, trích cồ – western swamphen (Porphyrio porphyrio)

Trích cồ, còn được gọi đơn giản là trích hoặc xít, thuộc Họ Gà nước (Rallidae).

Xít có thân dài 43 cm, loài có kích thước lớn nhất trong họ, lớn gần bằng con gà, nặng trên dưới 800 gam. Hình thái không thể nhầm lẫn: lông có ánh láng bóng màu lam pha tím sẫm trên lưng, phần dưới xanh lam đậm nhạt 2-3 sắc độ, vài lông đuôi màu trắng, mỏ to và đỏ tươi, chân hồng (có khi xám), ngón chân rất dài. Chim non: toàn thân đen tuyền, mỏ xám sậm.

_xit

Phân bố phổ biến toàn cõi Việt Nam. Sống ở vùng đầm lầy nước ngọt, ruộng lúa.

Nếu có đủ nguồn thức ăn, xít đẻ quanh năm. Tổ làm ở bụi rậm, trong các đám cỏ trôi nổi. Mỗi lứa đẻ 4-7 trứng. Chim trống ấp nhiều hơn chim mái, và cũng siêng năm hơn chim mái trong việc tìm mồi mớm cho con non.

Loài này khá dạn dĩ. Khi tôi đi khảo sát các loài chim nước trong một khu bảo tồn ở Thái Lan, chiếc thuyền chở tôi nhẹ nhàng và êm lặng lướt dọc những bờ nước, nhiều loài chim nước thấy người đến gần thì bay lên. Riêng những con xít vẫn cho tôi đến gần quan sát cách 3-4 mét.

Từ lâu dân gian đã thuần dưỡng xít vì con vật trông đẹp, dễ nuôi, ăn đủ loại thức ăn dễ tìm như cơm, giá, dưa chuột.., cả xít bố và mẹ đều ấp trứng và mớm mồi cho con, lại vì thân thiện với chủ nuôi và thói quen “giữ nhà”: khi thấy người lạ đến thì xù lông xua đuổi. Khi nuôi từ nhỏ, xít có thể được thả tự do cho đi quanh nhà như gà mà không bỏ đi, thậm chí khi chủ đi ra ngoài xít thích chạy theo như con cún.

Trích ré / Kịch

Bút ký

Gia Định xưa – Sơn Nam

Mùa lụt, cá nước ngọt trôi theo nước ra khá xa vàm biển. Ngược lại, tới mùa khô, cá biển và cá nước lợ lại theo thủy triều mà vào sâu trong lòng sông. Cá rô với vảy cứng có thể lóc đi trên bùn đất khô. Cá trê, rùa, lươn có thể sống trong bùn mà không ăn uống trong vài ba tháng nắng. Cá sặt đẻ trứng trên khô, mùa nắng trứng bay tung theo gió rồi đáp xuống như hạt bụi để nở ra trong vùng nước đầu tiên của cơn mưa đầu mùa. Con cò quắm, nhan sen, trích ré, trích cồ là chim trời nhưng đậu và ngủ trên bùn. Chim bồ nông, già sói ở mũi Cà Mau quen bay từng đàn đến tận Biển Hồ đất Campuchia để ăn cá mùa lụt rồi trở về rừng cũ

Truyện ngắn

Con trích ré – Sơn Nam

Con trích, gọi nôm na là”trích ré” thuộc vào loại chim rừng đẹp nhứt. Nói đúng hơn, nó là loại chim sống ở nơi đồng cỏ hoang dại. Trích bay rất thấp, lủi trong cỏ rất khéo một khi lâm nguy, bay không kịp. Thịt trích ăn khá ngon, nào kém thịt gà.

Qua lúc sa mưa, nếu lội bộ qua vùng cỏ mênh mông, ta có thể gặp hàng chục ổ trích, trong mỗi ổ có năm sáu trứng. Như người, trích cất cánh bay bổng hoặc chui xuống cỏ, đứng như chết.

Trích lại có tài đá lộn như gà. Nhiều người nuôi trích để giữ nhà. Mỗi khi gặp người lạ, trích”ré” lên inh ỏi để báo động, rồi chạy tới, vừa cắn, vừa đá, vừa bay… Bị tấn công thình lình, khách lạ khó bề xoay trở, thường chịu rách quần áo, trầy da hoặc đui mắt.

Loài điểu học: kịch – Eurasian moorhen (Gallinula chloropus)

Người ta phân biệt hai loài trích: trích cồ, còn được gọi đơn giản là trích hoặc xít; và trích ré, còn được gọi là kịch. Chúng thuộc Họ Gà nước (Rallidae).

Thân dài 33 cm. Đặc điểm nhận dạng: có các vạch trắng ngang hông và lông bao dưới đuôi màu trắng. Con non: lông đen tuyền toàn thân, dần dần đổi thành nâu sẫm.

_kich

Loài định cư ở đồng bằng Sông Hồng, Nam Trung Bộ đến Nam Bộ; trong mùa đông có thể gặp ở Bắc Trung Bộ. Phân bố lên tới độ cao khoảng 1.000 mét. Không phổ biến.

Sống ở đất ngập nước ngọt như đầm lầy, ao hồ, đồng cỏ, ruộng lúa. Bơi giật cục. Lội dọc theo mép nước để kiếm mồi. Làm tổ trong cỏ cây bụi rậm.

Tiếng kêu: từng âm đơn lẻ ‘quéc’ hoặc hai âm liền ‘quéc quéc’, có lúc chát chúa.

Tiếng kêu:
https://www.xeno-canto.org/species/Gallinula-chloropus

Trĩ

Đỏ mỏ xanh lông
Là con chim trĩ

Truyện ngắn

Rừng mắm – Bình Nguyên Lộc

Thằng Cộc là một đứa bé bạc tình. Một đàn cò lông bông bay qua đó, đủ làm cho nó quên thằng chài ngay. Là vì đầu cò chởm chởm những cọng lông bông, nhắc nhở nó những kép võ hát bội gắn lông trĩ trên mão kim khôi mà nó đã mê, cách đây mấy năm, hồi gia quyến nó còn ở trên làng.

Hương rừng – Sơn Nam

Nhà cất xong. Bây giờ tới lượt lợp lá, lót sàn. Lá dừa mọc sẵn dựa mé. Tràm nhỏ cây, ở đâu mà chẳng có, cứ đốn về lót thế cho ván. Ðêm hát ra mắt, vui quá đỗi là vui! Ðào kép thì áo mão xanh đỏ, đầu giắt lông trĩ, ngặt hai bàn chân thiếu hia, thiếu hài. Trống đánh thùng thùng. Kèn thổi tò ti te.

Loài điểu học: trĩ đỏ khoang cổ – ring-necked pheasant (Phasianus colchicus)

Còn được gọi là trĩ đỏ khoang cổ trắng hay trĩ đỏ khoang Bắc Bộ, loài này thuộc Họ Trĩ (Phasanidae).

Chiều dài 60-90 cm (kể cả đuôi dài tới 50 cm của chim trống). Chim trống: đầu, họng và trước cổ xanh lục, các phần còn lại có màu nâu đỏ và nâu vàng với các chấm đen, phần ngực có màu tối hơn. Chim mái: lông có vằn, màu nâu điểm các chấm đen, mắt nâu đỏ, da trần ở mặt đỏ tươi, mỏ và chân màu ngà.

_tri do khoang co

Chim trĩ thường sống ở vùng đồi núi thấp, có độ cao lên tới 800m, nơi có nhiều cây cỏ, bụi rậm và rừng thông. Ở Việt Nam, trĩ phân bố tại Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Quảng Ninh, Yên Bái… Ở Lâm Đồng, loài chim trĩ này xuất hiện trong những cánh rừng ở BiDoup Núi Bà, trước đây còn thấy xuất hiện ở vùng đồi núi thấp huyện Đức Trọng – Lâm Đồng.

Số lượng ngoài thiên nhiên ngày càng hiếm do nạn phá rừng, săn bắt, và cũng do trĩ đỏ không có khả năng tự ấp trứng, phải đẻ nhờ vào các tổ chim khác nên khi các loài chim khác giảm sút thì trĩ cũng bị ảnh hưởng theo.

Trĩ đỏ đang được thuần hóa và nuôi khá nhiều.

Tu hú

Đồng dao / Vè

Tiếng con tu hú
Gọi chú, gọi dì

Sáo đen là em tu hú
Tu hú là chú bồ các

Thơ

Cuối Tháng BaNguyễn Bính
Chưa hè trời đã nắng chang chang
Tu hú vừa kêu, vải đã vàng
Hoa gạo tàn đi cho sắc đỏ
Nhập vào sắc đỏ của hoa xoan.

HỏiTrần Mạnh Hảo
Nhà thơ sao giống chim tu hú
Cả đời không tổ cứ lang thang
Em hỡi lòng em còn chỗ trú
Để đổi thi ca lấy đá vàng?

Quê hương – Hồ Trường An
Hàng cây vông đỏ bên bờ rạch
Lớn mạnh cùng ngưòi mến đất quê
Sáng rực đầy cành hoa nở rộ
Cùng chim tu hú báo xuân về

Con chim tu hú – Anh Thơ
Nắng hè đỏ hoa gạo
Nước sông Thương trôi nhanh
Trên đường đê bước rảo
Gió nam giỡn lá cành

Bỗng tiếng chim tu hú
Đưa từ vườn vải xa
Quả bắt đầu chín lự
Ngọt như nỗi nhớ nhà

Truyện ngắn

Làm mẹ – Nguyễn Ngọc Tư

Mấy bà bạn bàn ra bàn vô, nói chuyện tò vò nuôi con nhện, chuyện con quạ nuôi tu hú nhằm lung lạc dì, nhưng dì Diệu vẫn khăng khăng chắc lòng chắc dạ, làm như dì đã thấy ràng ràng một tương lai chắc chắn rồi vậy.

Loài điểu học: tu hú Châu Á – Asian koel (Eudynamys scolopaceus)

Tên “tu hú” là dựa theo tiếng kêu của loài tu hú Châu Á, tuy sự thể hiện này không đúng lắm. Người Thái gọi loài chim này là ‘kawao’ thì tên đúng với tiếng kêu hơn.

Loài này thuộc họ Cu cu (Cuculidae).

Ở Việt Nam, tu hú Châu Á phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, người ta rất ít gặp loài này ở miền Bắc và miền Trung vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét.

Chim trống: bộ lông đen với ánh xanh thẫm, mắt đỏ tươi. Chim mái: lông lốm đốm đen nhạt và trắng. Chim non: lông đen toàn thân, nhưng sau kỳ thay lông đầu tiên chuyển thành bộ lông gần như chim mái.

_tu hu

Hình ảnh và tiếng kêu:
https://www.birdwatchingvietnam.net/bird/asian-koel-308

Tập tính ký sinh trong tổ

Gần 60 loài (kể cả tu hú và tìm vịt) thuộc Họ Cu cu đẻ trứng vào tổ chim khác, để nhờ “bố mẹ nuôi” ấp trứng rồi kiếm mồi về nuôi cu cu non. Tập tính này được gọi là ký sinh trong tổ (brood parasitism), và được khảo sát kỹ ở loài tu hú.

Đến mùa đẻ trứng, trong khi bao nhiêu loài chim khác lo làm tổ thì tu hú chẳng làm gì cả. Bản năng đặc biệt thứ nhất là tu hú mái đang mang trứng có thể nín đẻ để bay qua các vùng tìm một tổ chim thích hợp. Tu hú mái thường đẻ trứng vào tổ chim chích hoặc thậm chí tổ quạ khoang. (Tìm vịt thường tìm tổ chim chèo bẻo hoặc chim chích.)

Khi thấy một tổ chim thích hợp đã có sẵn trứng, tu hú lộ bản năng thứ hai: lập tức đẻ một trứng của mình vào tổ đó, có khi tha trứng của chim chủ ném ra ngoài. Việc ký sinh thành công nhờ bản năng yếu kém của chim chủ: trứng tu hú có thể rất khác biệt về màu sắc với trứng chim chủ nhưng chim chủ vẫn tiếp tục ấp trứng trong tổ.

Bản năng đặc biệt thứ ba là trứng tu hú thường nở ra sớm hơn trứng chim chủ cho dù đẻ ra sau. Nhờ đó, tu hú non chiếm lợi thế so với con của chủ nhà.

Tu hú non nở ra còn yếu, nhưng tỏ lộ ngay bản năng thứ tư: khi bố mẹ nuôi đi vắng, tu hú non cố gắng dùng thân mình đẩy từng quả trứng chim chủ ra khỏi tổ. (Đó là trứng chim chủ đẻ sau, hoặc còn sót khi tu hú mẹ đẻ trứng vào.) Công việc này không hề dễ dàng, nhưng nhờ nỗ lực vượt bậc, tất cả trứng chim chủ lần lượt bị đẩy ra ngoài tổ. Nếu chim non của chủ đã nở thì tu hú non cũng đẩy con chim đó ra khỏi tổ. Bản năng này nhằm giúp tu hú non chiếm độc quyền thức ăn mà chim chủ mang về mớm cho nó.

Từ đây, con chim chủ vẫn tiếp tục tha mồi về mớm cho tu hú non độc chiếm tổ. Tu hú non lớn nhanh, đến lúc thân hình bao trùm cả tổ chim chủ nhỏ xíu. Con chim chủ vẫn tiếp tục có bản năng yếu kém, có lúc phải đậu trên lưng tu hú non có thân hình lớn gấp hơn nó nhiều lần để mớm mồi cho chim ký sinh. Đến ngày tu hú non quá to so với tổ nên phải ra bên ngoài, đậu trên một cành cây, chim chủ tìm cách đậu trên cành cây kế bên mà tiếp tục mớm mồi.

Xem diễn tiến quá trình tu hú ký sinh:
https://www.youtube.com/watch?v=odcdijBT2Vw

hoặc:
https://www.youtube.com/watch?v=yA7crxkFhZQ

Parasitic cuckoo
Cảnh tượng thường thấy: “mẹ nuôi” chăm sóc cu cu ký sinh trong tổ

Ở Singapore, tu hú Châu Á thường đẻ trứng vào tổ quạ, qua mặt con quạ chủ thông minh bởi vì trứng tu hú và trứng quạ rất giống nhau vì vỏ có cùng màu xanh nhạt và những chấm nâu lớn nhỏ. Nhiều người hiểu chuyện lấy làm căm ghét tu hú. Vì thế, chính phủ Singapore đặt tu hú vào hạng bảo vệ và kêu gọi dân chúng đừng gây hại cho loài chim này. Dù sao đi nữa, đó chỉ là một trong những cách thức mà loài vật hoang dã tranh đấu để sống tồn.

Uyên ương

Thành ngữ

Đôi uyên ương.

Thơ

Khói hương tan – Hàn Mạc Tử
Mộng uyên ương đang khi tim rào rạt
Thuyền anh neo đậu trước bến Hàn Giang
Nhưng uyên ương khi trăng sao bàng bạc
Biến mất rồi, anh thấy khói hương tan.

Đưa em tìm động hoa vàng – Phạm Thiên Thư
Ðôi uyên ương trắng bay rồi
Tiếng nghe tha thiết bên trời chớm đông
Nửa đêm đắp mảnh chăn hồng
Lại nghe hoa lạnh ngoài đồng thiết tha.

Uyên ương – Thiết Dương
Để đóa yêu thương còn ngát tỏa
Cho dòng giận dỗi sẽ nhòa rơi
Dìu nhau mãi nhé đường hoa mộng
Sóng bước uyên ương một góc trời.

Xuân hoan – Trương Văn Tú
Đôi uyên ương xuân hoan nghịch thủy
Trời rạng đông vạch ý nồng xuân
Tình chàng ý thiếp miên man
Hương thư giáng ngọc dặm trường nhớ ai!

Âm nhạc

Ngày trở về – Phạm Duy
Duy Quang – https://www.nhaccuatui.com/bai-hat/ngay-tro-ve-pham-duy-duy-quang.EIrfsdkowv.html

Ngày lại ngày có em vui tươi xách gạo bếp nước
Có nắm cơm ngon, ôi trời lạnh lùng
Có đôi uyên ương sống đời mặn nồng.

Loài điểu học: uyên ương – Mandarin duck (Aix galericulata)

Thân dài 41-49 cm.

Con trống: còn được gọi là uyên, có bộ lông sặc sỡ khó nhầm lẫn. Mỏ đỏ, vệt lông hình lưỡi liềm lớn màu trắng phía trên mắt và mặt đỏ cùng “ria”. Ngực màu tía với hai sọc trắng theo chiều dọc, hông hung hung đỏ, lưng có hai cụm lông giống như hai lá buồm màu da cam. Con mái: còn được gọi là ương, có vành khuyên màu trắng quanh mắt và sọc nhạt dần về phía sau từ mắt, sọc nhỏ màu trắng bên hông, đầu mỏ nhạt màu.

_uyen uong

Tục ngữ Trung Quốc dùng uyên ương làm phép ẩn dụ để chỉ các cặp đôi yêu nhau khắng khít, có lẽ vì người ta thường thấy những đôi uyên ương bơi bên nhau. Thực tế kém lãng mạn: chim trống không chăm lo gì đến việc ấp và bảo vệ trứng, nó để mặc cho con mái tự làm lấy việc này, thậm chí còn rời bỏ con mái trong thời gian ấp trứng và chỉ quay trở lại khi trứng đã nở.

Văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng từ ý niệm uyên ương của Trung Quốc, chứ thật sự giới văn nghệ sĩ Việt khó có cơ hội nhìn thấy uyên ương, lại càng khó tìm gặp “uyên ương trắng”. Uyên ương rất hiếm ở Việt Nam, người ta chỉ từng gặp và thu một mẫu vật ở vùng Tây-Bắc. Sau này, với sự giao lưu quốc tế, một số vườn thú và trang trại nhập uyên ương từ nước ngoài về nuôi thì ta mới có cơ hội được thấy uyên ương thực sự.

Vành khuyên / Chim khuyên

Thơ

Nói với chim vành khuyên nhỏ – Như Khuyên

Tinh sương có con chim nhỏ
Bay qua khung cửa sổ gương
Ríu rít chim con hót mổ
Bóng mình, nho nhỏ thương thương

Chim ơi! Ta phải đến trường
Cho ta đóng khung cửa sổ
Ngày mai vẫn còn khung cửa
Cho mày đến mổ và thương

Vành khuyên nhỏ – Thiên Nhất Phương

Ta như vành khuyên nhỏ
Ðến giữa trời bao la
Hót chơi dăm ba tiếng
Ðịnh góp cỏ làm nhà.

Em nợ đời dâu bể
Ta như người tù xa
Xuân sang nhìn mây trắng
Ðường về quê thật xa.

Ta như vành khuyên nhỏ
Từ núi rừng bao la
Hót chơi dăm ba tiếng
Xuân sang chạnh nhớ nhà.

Em thả lời hoa cỏ
Ta một đời phong ba
Bao buồn vui trần thế
Ðã quên và đã qua

Ta như vành khuyên nhỏ
Ðến giữa đời hoang vu
Hót chơi dăm ba tiếng
Xuân sao buồn như thu!

Một mình tôi tìm lại… – Võ Văn Trực
Nghe tủi buồn một giọng hót chim khuyên
Đủ thức dậy ái tình lên tiếng hát
Bông hoa ép lặng thầm trong sách
Đủ cho lòng bay dậy một mùi hương

Truyện dài

Nửa chừng xuân – Khái Hưng

Có lúc hai chị em ngồi yên lặng cùng mỉm cười trong đêm tối. Cái hạnh phúc vẩn vơ, mơ màng hình như đương làm rung động hai tấm lòng son mà không ai có thể nói cho ai biết, không ai có thể tả cho ai hay, không ai dám cất tiếng, sợ cái hạnh phúc đương âm thầm trong tâm trí nó vụt bay đi mất, nó bay vụt vào cảnh mộng, như con chim vành khuyên thấy tiếng động bay ẩn vào trong bụi rậm um tùm.

Đường phượng bay – Từ Kế Tường

Phải chăng từ lúc đặt chân lên con đường thứ nhất trong tỉnh lỵ, nhìn thấy chiếc lá đầu tiên long lanh trong nắng, nhìn thấy đôi mắt mở lớn, tròn xoe như mắt chim khuyên của dì Hạnh, những gì đến với tôi đều trở thành kỷ niệm, trở thành một thứ mùi hương không phai nhạt. Ngôi nhà này có những âm thanh thật lạ lùng của nó, gần như sự rung động, và ngào ngạt hương thơm.

Tôi và em – Hoàng Ngọc Tuấn

Cứ thế. Chỉ cần dòng chữ tháu trong chiếc bì thư gửi vội vàng đôi khi quên cả dán tem, em trao cho tôi từng chút lời chim khuyên hót reo vui, là từng chút tiếng đời rộn rã.

Loài điểu học: vành khuyên họng vàng – Oriental white-eye (Zosterops palpebrosus)

Khuyên là tiếng dân gian miền Bắc và khoen là tiếng dân gian miền Nam để chỉ vành khuyên nói chung, do vòng trắng bao quanh mắt gợi nhớ vòng khuyên (vòng khoen).

Họ Vành khuyên (Zosteropidae) gồm những chim nhỏ tựa như chim sâu, rất khó phân biệt theo bề ngoài. Vài loài có khả năng bắt chước giọng hót của một số loài chim khác như chích chòe. Chúng là những loài ăn tạp, cũng ăn sâu bọ, vì thế giúp bảo vệ mùa màng.

Chiều dài cơ thể 8-10 cm, tối đa khoảng 15 cm. Vành khuyên họng vàng có đặc điểm phân biệt như tên gọi: họng màu vàng rõ rệt. Thân trên vàng nhạt hoặc vàng nghệ, vì vậy giới chơi chim gọi là “vành khuyên vàng” để phân biệt với “vành khuyên xanh”. Nhưng cũng có những cá thể có thân trên màu ô-liu trông giống “vành khuyên xanh” (hoặc là do nhà nhiếp ảnh nhận định nhầm?) Đặc điểm phân biệt khác là bụng màu xám nhạt, đôi khi gần như trắng. Trống mái giống nhau.

Vành khuyên họng vàng là loài định cư trên toàn cõi Việt Nam, sống thành từng nhóm nhỏ. Không loại trừ một số cá thể sổ lồng ra định cư trong hoang dã.

Sinh cảnh: ở bìa rừng thay lá, rừng thường xanh lá rụng, rừng đầm lầy, rừng ngập mặn. Chủ yếu sống trên cây, ít khi xuống đất.

Tiếng hót cất lên trong mùa sinh sản. Làm tổ bằng những cành cây nhỏ kết lại bằng tơ nhện. Đôi lúc lấy cắp vật liệu từ tổ của loài chim khác để mang về làm tổ cho mình. Cả chim bố và mẹ chăm sóc con non.

_vanh khuyen

Loài điểu học: vành khuyên Nhật Bản – Japanese white-eye, warbling white-eye (Zosterops japonicus)

Vành khuyên Nhật Bản có thân dài 10-12 cm. Là một trong những loài vành khuyên được nuôi làm chim hót từ lâu ở Nhật Bản và được du nhập vào nhiều nước. Phần dưới cằm và đuôi vàng, phần trên màu xanh ô-liu, vì vậy giới chơi chim gọi là “vành khuyên xanh” để phân biệt với “vành khuyên vàng”. Đặc điểm phân biệt khác là bụng màu xám đậm hơn, hoặc nâu nhạt.

Vành khuyên Nhật Bản là loài trú đông từ Tây Bắc đến Trung Bộ, nhưng không loại trừ một số cá thể sổ lồng ra định cư trong hoang dã.

Sống trên cây, hiếm khi xuống đất. Kiếm ăn theo đàn, nhưng mỗi lần ghép đôi chỉ một vợ một chồng. Rất thường rỉa lông để làm sạch cơ thể, thậm chí vành khuyên khác loài cũng rỉa lông cho nhau. Trong mùa giao phối, chim trống cất tiếng hót để đánh dấu lãnh thổ và đánh đuổi chim cùng loài đến gần, nhưng lại cho phép chim loài khác làm tổ trên lãnh thổ của mình. Thường đi ăn cắp vật liệu làm tổ của chim khác để mang về xây tổ cho mình.

Hoàng khuyên

hoang khuyen_HuongNguyenVành khuyên (không rõ đích xác loài nào) được cho là do đột biến gien nên có chân hồng, mỏ hồng, mắt màu hồng ngọc (ruby), mà giới chơi chim gọi là “hoàng khuyên”.

Một số ít cá thể chủng đột biến này được cho là từ tổ chim non bắt được ở Ninh Binh năm 2011, sau đó thêm một tổ chim non hoàng khuyên được cho là bắt được ở Tuyên Quang.

Sau đó thêm một tổ chim non hoàng khuyên được cho là bắt được ở Tuyên Quang.

Vạc

Ca dao

Cái cò cái vạc cái nông
Sao mày giẫm lúa nhà ông hỡi cò?
Không, không! Tôi đứng trên bờ
Mẹ con nhà vạc đổ ngờ cho tôi
Chẳng tin ông đứng ông coi
Mẹ con nhà nó còn ngồi đấy kia!

Câu hát ru

Cái vạc mày ngủ cho ngon
Mai sau mày lớn, tìm cho ra gái ngoan mà hẹn hò…

Âm nhạc

Như cánh vạc bay – Trịnh Công Sơn
Khánh Ly – https://nhac.vn/bai-hat/nhu-canh-vac-bay-khanh-ly-sovlPxe

Gió sẽ mừng vì tóc em bay
Cho mây hờn ngủ im trên vai
Vai em gầy guộc nhỏ
Như cánh vạc về chốn xa xôi

Truyện ngắn

Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu

… Trong những đêm như thế, thằng nhóc tận trên rừng xuống và tôi như hai nhà hiền triết nằm kê đầu trên mười ngón tay đan vào nhau, nằm ngửa sóng đôi bên nhau, mắt nhìn đăm đăm vào khoảng mờ trắng của sương đêm, cùng hồi hộp chờ một tiếng vạc rất nhỏ kêu thảng thốt trong bầu sương tít trên cao, nghe như vọng về từ một thời hồng hoang nào đó, cái thời chung quanh vùng biển này chỉ có lau lách và tiếng sóng vỗ, chưa có người.

Cái cò cái vạc cái nông – Đỗ Đức

1- Ngày bé mẹ nghe ầu ơ: Cái cò cái vạc cái nông/ Ba cái cùng béo vặt lông cái nào?/ Vặt lông con cốc cho tao/ Ta nấu ta nướng ta xào ta ăn.

Nghe mãi, nghe mãi thành thuộc từ thuở nằm nôi, lớn lên nhớ nằm lòng.

Sau đó mấy câu ca dao đến lượt ru em tôi. Thời gian trôi, tôi lớn lên có gia đình. Đến lượt “cái cò cái vạc cái nông” lại lần nữa đem tặng vào giấc ngủ các con tôi…

Bầy vịt trời – Hồng Chiến

Có thân hình khổng lồ, nổi trội nhất phải kể đến lũ vạc cao kều; con nào, con ấy đứng như bó rạ lâu ngày cắm ven hồ. Chúng lười nhác đứng im một chổ, thỉnh thoảng mới vươn cái cổ dài ngoằng chọc xuống mặt nước lôi lên từng con cá trắng bạc, sáng lấp lánh làm bữa điểm tâm.

Bút ký

Vạc và diệc, bồ nông – Lương Thư Trung

Vạc, diệc và bồ nông đều là những giống chim gần gũi với ruộng đồng . Những giống chim này không thể sánh kịp với hạc và sếu nhưng thiếu chúng những người già mà mê cánh đồng lúa sẽ thấy đời không còn gì thú vị nữa . Nếu ai đã từng mê chim chóc vào những mùa chim ở đồng lúa miền Nam không thể không mê tiếng vạc vào lúc đêm hôm khuya khoắc, không thể không nhớ màu xám của những chú diệc cồ và cái dáng bồ nông “đạp lúa” ngày nào !!! Nhớ những mùa chim, nhớ ơi là nhớ…

Thú vị vườn chim Tư Sự – Băng Thanh

Theo anh, chim cò “thương mến” chủ nhà, nên mở đất đến đâu, chúng lũ lượt kéo về làm tổ đến đó. Hiện vườn quy tụ nhiều giống loài với số lượng hàng chục ngàn con, chủ yếu là cò, còng cọc, vạc, điên điển…

Loài điểu học: vạc – black-crowned night heron (Nycticorax nycticorax)

61 cm. Kích thước cơ thể trung bình với đôi chân tương đối ngắn. Chim trưởng thành: Màu xám sậm (có con pha xanh lam), trắng và xám nhạt dễ nhận. Mỏ xám đen; chân vàng nhạt. Trong mùa sinh sản: Có hai hoặc ba chùm lông dài màu trắng kéo dài từ gáy. Chim non và chim một năm tuổi: Có nhiều vết đốm nâu sẫm rõ. Phần trên cơ thể màu nâu xám xịt và phần dưới cơ thể có viền sọc (khác với cò lửa). Vào năm thứ ba vết đốm mất dần, trở nên xám xịt hơn.

_vac

Tiếng kêu: Có âm lượng thấp từng tiếng rời rạc ‘quoạc’ thường nghe lúc hoàng hôn.

Loài định cư phổ biến từ đồng bằng Bắc Bộ đến Nam Bộ.

Sống ở vùng đầm lầy, rừng tràm và rừng ngập mặn. Gặp làm tổ ở nhiều sân chim miền Tây.

Hình ảnh và tiếng kêu:
https://www.birdwatchingvietnam.net/science-name/black-crowned-night-heron-323

Vẹt / Két

Thành ngữ

Học vẹt / Nói như vẹt

Truyện ngắn

Tiếng chim buổi sớm – Huy Phương

… Một loài chim khác chỉ biết kêu hay nói, là giống vẹt. Chúng mang màu sắc sặc sỡ như xiêm áo của bà đồng cốt, tiếng kêu chát chúa chói tai mà nhiều người vẫn thích do cái tài bắt chước ngọng nghịu tiếng nói của loài người, đó là “nói như vẹt”. Ðến thăm nhà nuôi vẹt, nghe tiếng vẹt nói ngộ nghĩnh, chúng ta thường cất tiếng cười hỉ hả, nhưng giống vẹt lại cho đó là tiếng cười tán thưởng vì giọng nói ngô nghê, sao chép vô nghĩa của nó. Ta có bao nhiêu giọng nói quen thuộc, chúng ta chưa đến nỗi thiếu giọng người, thế mà cũng có người thích giọng vẹt-người.

Loài điểu học: vẹt ngực hồng, vẹt ngực đỏ, két ngực hồng – red-breasted parakeet (Psittacula alexandri)

Vẹt ngực hồng là một trong các loài vẹt phổ biến rộng rãi trong chi Psittacula và là loài có nhiều biến thể địa lý nhất. Hầu hết các phân loài được giới hạn ở các đảo nhỏ hoặc quần đảo ở Indonesia. Một phân loài ở quần đảo Andaman, một phân loài ở phần đất liền Đông Nam Á, và một phân loài khác mở rộng đến phía đông-bắc Nam Á. Một số phân loài ở các quần đảo có thể bị đe dọa bởi việc lùng bắt ráo riết chim hoang dã để bán làm chim cảnh. Ví dụ, một phân loài của Java gần như tuyệt chủng và được đưa vào Sách Đỏ của quốc gia sở tại.

_vet nguc hongChiều dài 20 cm, kể cả đuôi. Đặc điểm xác định: khoảnh lông màu hồng trên ngực khi vẹt trưởng thành. Lưng màu lục sáng, cánh phớt vàng, đầu trắng hoặc xám nhạt, họng đen. Mỏ to và khỏe, khoằm xuống như móc câu, màu đỏ khi chim còn nhỏ, màu đen khi chim lớn lên. Nhưng khi trưởng thành hẳn, mỏ chim trống sẽ chuyển về màu đỏ còn chim mái vẫn giữ mỏ màu đen.

Định cư phổ biến khắp các vùng, số lượng nhiều. Thường đi theo đàn, có khả năng phá hoại mùa màng.

Vẹt ngực hồng rất thông minh, được huấn luyện để làm xiếc. Cũng có thể được huấn luyện để nói tiếng người.

Vẹt nuôi có thể sống đến 25 tuổi.

Ghi chú: ngoài loài vẹt ngực hồng, Việt Nam còn có loài vẹt thứ hai là vẹt đầu hồng (Psittacula roseata), không phổ biến. Thị trường chim cảnh bán nhiều loại vẹt khác có mầu sắc rực rỡ, đều là ngoại nhập.

Vịt nước

Xuống nước ưa mò: con vịt nước, le le

Ca dao

Le le, vịt nước, bồng bồng
Em đi lấy chồng anh ở lại quê.

Truyện ngắn

Đêm Tháp Mười – Lê Văn Thảo

Tôi lội xuống, nước lạnh khiến tôi rùng mình, bỗng dưng có cảm giác bơ vơ như thường lúc phải đi một mình như vầy. Nhưng chỉ chút sau tôi đã quen đi, chân đều bước không một ý nghĩ nào trong đầu. Như có con đường mòn khá trống trải nhưng một lúc không thấy đâu nữa, trước mặt chỉ có trời nước cỏ cây bờ bụi. Lau sậy quất vào mặt tôi rát rát. Những con cò ma, vịt nước giật mình kêu ‘oác’ lên một tiếng vụt cánh bay đi.

Loài điểu học: vịt cổ xanh, vịt nước – common mallard (Anas platyrhynchos)

Loài vịt có kích thước lớn: 58 cm. Chim trống: Bộ lông có nhiều màu sắc tương phản; đầu và cổ xanh biếc, vòng cổ màu trắng, ngực màu nâu, đuôi đen, thân màu trắng xám. Mỏ màu vàng. Chim mái và chim non: Bộ lông màu nâu lốm đốm, trên mỏ có nhiều vệt vàng cam. Có thể có bộ lông màu khác, chẳng hạn chim đực có bộ lông giống như chim mái nhưng mỏ vàng, lông trên đầu tối màu, ngực màu hung nâu đậm.

_vit co xanh

Loài lang thang miền Đông Bắc, hiếm gặp.

Vùng đầm lầy, các sông lớn và hồ ao.

Ghi chú: vì lẽ vịt cổ xanh là loài hiếm gặp, không loại trừ dân gian gọi những loài vịt nước hoang dã khác bằng tên chung là “vịt nước”.

Vịt trời

Truyện ngắn

Con cò bay lả bay la – Ma Văn Kháng

Cậu xem kìa! Theo tay ông lão Thục chỉ, tôi đã trải qua hết ngạc nhiên nọ đến sửng sốt kia. Và tôi đã tự hỏi, ở đâu có được cái cảnh sông nước đông vui như hội hè giống vùng quê tôi? Kìa đàn vịt giời đang trở về. Không ít hơn ngàn con đâu! Chúng lượn vòng ngay trên đầu ta như một dải lụa mềm.

Bầy vịt trời – Hồng Chiến

… Nhưng đông đúc nhất là đám vịt trời. Không biết chúng từ đâu đến mà nhiều đến vậy, đậu kín cả mặt hồ, luôn mồm trò chuyện ầm ĩ. Từ sáng sớm tinh mơ khi ông mặt trời còn chưa kịp tỉnh giấc, chúng đã gọi nhau vỗ cánh rào rào, nhào lượn trên bầu trời  xanh sẩm chào đón bình minh. Chúng bay thành một đám dày đặc che lấp cả bầu trời; thỉnh thoảng lại đồng loạt kêu lên những tiếng du dương, êm ái như tiếng nhạc. Lúc mặt trời lười nhác thức dậy đưa những ngón tay hồng vén nhẹ màn đêm cũng là lúc chúng đáp xuống mặt nước lặn hụp kiếm ăn, trò chuyện ồn ào. Khi no, cả bầy kiếm cây khô ven hồ hay  đám đất bằng phẳng đứng tắm nắng, rỉa lông y như bầy vịt nhà.

Bút ký

Vàng-thau và câu chuyện vịt trời – Anh Vũ

Có một câu chuyện ngụ ngôn kể về lão quan lang tham lam ham của rẻ mua phải đàn vịt trời dẫn đến mất tiền vào tay anh nông dân láu cá khi mà cuối ngày đàn vịt đã bay về trời, còn cục tức thì ở lại với kẻ tham lam.

[…]

Giờ thì câu chuyện về đàn vịt trời và lòng tham của lão quan lang không còn câu thúc được lương tri của nhiều người sản xuất, kinh doanh nữa.

Nhiều nông dân, những chủ trang trại nuôi vịt trời đang bị những gian thương xâm hại bằng một thứ sản phẩm vịt trời giả mạo đầy rẫy trên thị trường khiến họ lao đao vì mất lòng tin của người tiêu dùng…

Loài điểu học: vịt trời – spot-billed duck (Anas poecilorhyncha)

Ghi chú: dân gian thường gọi le le là “vịt trời”, nhưng tên vị trời nên dành cho tên điểu học ở đây.

Vịt trời có thân dài 60 cm. Loài vịt lớn, vằn nâu ở khắp thân với đầu và cổ màu nhạt hơn thân khá tương phản. Đầu có ánh lục, có viền đen và trắng. Mỏ đen hoặc xám sậm, chóp mỏ vàng hoặc nâu, gốc mỏ đỏ (có phân loài không có). Chân đỏ màu ớt chín. Chim trốngchim mái: màu giống nhau, chim non: chỉ có màu xám xịt phần lưng, xám nhạt ở bụng.

_vit troi

Loài định cư, rất phổ biến toàn cõi Việt Nam.

Sống ở các vùng đầm lầy, đồng cỏ ngập nước, hồ và kênh rạch. Làm tổ ở bụi rậm ven bờ, đặc biệt trên các đám cỏ cây thủy sinh.

Vịt trời được thuần hóa nuôi phổ biến để cung cấp thịt mà không cần nhốt. Được cho ăn ngày hai bữa đầy đủ, vịt trời dù bay đi không thể kiếm ăn phải trở về nơi cũ. Buổi tối, chủ trại nuôi vịt trời bật đèn chiếu sáng khắp cùng để vịt không còn bản năng bay đi.

Vỏ vẻ

Bút ký

Chim đồng – Tiêu Đức Linh

Hồi đó mỗi lần qua bắc Cần Thơ hay Mỹ Thuận, 2 bên sông có rất nhiều quán bán đồ ăn, gánh cũng có, xe đầy cũng có bán mọi thứ cho những người chờ bắc. Cái món mà tôi mê nhất là chim ốc cao hay vỏ vẻ rô ti…

Chim đồng có khá nhiều loại. Không kể cò, sếu vạc, bồ nông, là giống chim phiêu bạt vùng nào cũng có nhưng ốc cao, chàng nghịch, cúm núm, trích, quốc lại là đặc sản chỉ riêng vùng sông Tiền, sông Hậu mới sẵn.

Loài điểu học: cuốc lùn – Baillon’s crake (Zapornia pusilla)

Rất có thể cái tên “vỏ vẻ” là biến thể của một tên khác trong dân gian là “gỏ ghẽ”, để nói về loài chim theo điểu học có tên cuốc lùn.

Đây là loài gà nước rất nhỏ, thân chỉ dài 19 cm. Bộ lông nâu-xám có nhiều vạch đen. Đôi khi bộ lông có nhiều màu lẫn lộn. Bay thấp với cánh đập ‘vù vù’ và chân để thõng; lộ rõ một mảng lông mút cánh có màu xám bạc và ở một số con còn có một vệt dài màu trắng chạy theo mép cánh. Phía bụng của chim non có màu nhạt hơn, một số không có vằn. Bơi và lặn giỏi.

_cuoc lun

Phân bố: Vùng Đông Bắc đến Nam Bộ, chưa gặp ở Bắc Trung Bộ.

Loài di cư. Gặp không thường xuyên.

Sinh cảnh sống: Vùng đầm lầy nước ngọt, bãi lau sậy. Thường sống chui lủi.

Tiếng kêu đa dạng: từng âm đơn lẻ ‘réc’ hoặc ‘k…rẹc – k…rẹc’ hoặc nhiều âm liền nhau tựa như tiếng két.

Yến

Thơ

Lời ru chim yến – Lệ Thu
Mẹ xây tổ – mẹ xây đời
Nuôi con dưới một vòm trời đầy sao
Linh đình yến tiệc mâm cao
Nỗi đau sợi yến ai nào biết đâu!

Tư liệu

Có phải ‘Con người tàn ác với chim yến’ và ‘chim yến đập đầu tự tử, nhả ra máu…’ – Hello Nest

Mỗi khi sắp đẻ trứng, yến mẹ lại nhả nước dãi làm tổ. Nếu không ai thu hoạch tổ yến thì yến sẽ xây chồng lên. Có nghĩa là lúc này chim non không nằm ở lớp tổ cũ của anh, chị nữa mà là trên một lớp mới. Do đó, nếu thu hoạch tổ yến khi chim non đã bay đi thì không hề ảnh hưởng tới cuộc sống của loài chim này.

Nói rằng khi yến mái sắp đẻ trứng mà bị lấy mất tổ, nó sẽ đâm đầu vào vách đá tự tử, rồi yến trống cũng đâm đầu vào vách đá chết theo, là chuyện hư cấu. Thật ra nếu bị mất tổ, yến mẹ thường kiếm một cái tổ nào đó (thường là tổ đang có trứng bên trong) để đẻ ké. Vậy nên đôi khi sẽ thấy có những tổ có tới 3 con chim non thay vì 2 như bình thường (điều này ít khi gặp vì người thu hoạch tổ yến thường biết chọn thời điểm để hái, chỉ xảy ra khi có sơ xuất).

Yến sào huyết là do phản ứng hóa học tạo thành màu đỏ, chứ không phải là “yến thổ huyết ra để làm tổ”. Chim yến vốn bé tẹo teo như chim sẻ, có cắt tiết của nó thì cũng không biết rớt ra được bao nhiêu giọt máu, nên không thể nhuộm nguyên một cái tổ đỏ đều rực rỡ như vậy. Hơn nữa, máu ở ngoài không khí khi đông lại sẽ có màu đen, chứ không phải màu đỏ như màu của yến sào huyết.

Đúng thật chim yến là loài rất chung thủy, một khi đã kết đôi với nhau thì chúng sẽ sống bên nhau trọn đời. Tuy nhiên khi một trong hai con chết, một thời gian sau con còn lại sẽ tìm con khác để duy trì nòi giống chứ không có chuyện tự tử.

Ngành yến bây giờ đã hình thành như một ngành khoa học, có nghiên cứu, phân tích. Được US Fish & Wild Life ở Mỹ công nhận là an toàn cho hệ sinh thái, và cho kinh doanh tiêu thụ ở Mỹ. Nếu chim yến mất tổ đập đầu tự tử, nhả máu ra làm tổ để phục vụ con người thì các nhà bảo tồn, nhà khoa học đã lên tiếng từ lâu.

Loài điểu học: yến hàng – edible-nest swiftlet, white-nest swiftlet (Aerodramus fuciphagus)

Họ Yến (Apodidae) gồm những loài chim có bề ngoài rất giống với những loài thuộc Họ Én (Hirundinidae) nhưng thực ra chúng không có quan hệ với nhau. Sự tương tự giữa yến và én là do tiến hóa hội tụ, phản ánh kiểu sinh sống tương tự dựa trên việc bắt các côn trùng làm thức ăn trong khi đang bay.

Tên khoa học của Họ Yến có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ đại có nghĩa “không có chân”, do yến có các chân rất ngắn và không bao giờ đậu trên mặt đất mà chỉ bám vào các bề mặt thẳng đứng.

Yến là những loài chim ở trên không nhiều nhất và một số thậm chí ngủ và giao phối khi bay.

Yến hàng có thân dài 11-12 cm, nặng 15-18 gam. Bộ lông nâu xám phía lưng, màu nhạt hơn phía bụng. Đuôi chẻ nông. Cánh dài và hẹp. Mỏ và chân đen.

_yen hang

Bắt côn trùng trong khi bay, thường lẫn với các loài yến khác và én.

Tổ được kết dính trên bề mặt dốc đứng bằng nước bọt. Chỉ dùng nước bọt để làm tổ, và đây là cơ sở của món yến sào.

Phân bố chủ yếu tại các tỉnh duyên hải Trung Bộ và Nam Bộ.

Tại Việt Nam, chim yến nằm trong Danh mục động vật nguy cấp, quý, hiếm.

Yến cảnh

Thơ

Âm hưởng – Đinh Hùng
Hôm nay chim yến vui ca
Ran ríu bên sườn núi trắng
Xuân này có nắng gieo hoa
Ta sẽ cùng ra biển lặng.

Đưa em tìm động hoa vàng – Phạm Thiên Thư
Mai nào thơm ngát thu đông
Lược em chải rụng đôi dòng tơ xanh
Đôi chim hồng yến trên cành
Ngẩn ngơ quên rỉa lông mình điểm trang

Truyện ngắn

Nhạc chim – Ma Văn Kháng

Xem ra thì tiếng chim sớm mai ở khu phố này quả là một dàn ca nhạc đủ các bè trầm bổng tầm cỡ đáng gọi là giao hưởng thật. Thì đấy, trong khi con sáo mỏ vàng nhà ông Tôn líu lo thì con yến xanh nhà chú Bao cất giọng non nỉ.

Con chào mào nhà bác Thu giọng líu ta líu tíu như giọng ca sĩ nhí thì lũ “chích chòe học dốt có chuôi, bởi chưng nhí nhoẻn nên đuôi phất cờ” nhà cô Hoa lại có kiểu hót cót két như tiếng xa chỉ quay. Mỗi con một vóc hình, một sắc màu mà sắc màu, vóc hình nào cũng ưa nhìn, cũng đẹp. Nho nhỏ là chim yến lông xanh pha vàng mượt mà…

Khoảng trống sau lưng – Võ Hồng

Tuyết đột nhiên hiện đến với tôi một tháng trước. Căn gác nhỏ thuê lại của chủ nhà dưới làm nàng tưởng đã đi lầm nhà.

– Vô lý! Chẳng lẽ anh lại ở một nơi kém tiện nghi như thế này sao? Nếu không thấy anh hiện ra đón em thì nhất định là em không dám leo lên một cái thang gác khả nghi như vậy.

– Tại anh không bao giờ giàu nổi để thuê một căn nhà có vườn rộng, có cuội trắng rải trên lối đi, có một giàn nho nơi đó người ta ngồi uống rượu để đợi trăng lên.

– Nếu kể ra những cái anh không có thì biết bao giờ cho hết! Những cái lồng chim bạch yến hót… những lẵng hoa lan, những chậu hoa huệ… một cái xe hơi…

Thương nhớ Hoàng Lan – Trần Thùy Mai

Mấy hôm sau, Lan thấy sư huynh ra tưới vườn, còn tôi thì chẻ củi.

“Anh không thích phong lan nữa sao?”

“Không. Muôn hồng nghìn tía, chẳng qua cũng chỉ để nhìn trong chốc lát. Một đời tôi chỉ riêng nhớ hoàng lan.”

Tôi giảng cho cô bé biết hoa hoàng lan cánh mảnh mai, vàng như màu chim hoàng yến. Thuở trước, cứ rằm, mồng một, các bà hàng hoa lại đến mua, họ gói hoa trong lá chuối, từng gói nhỏ xinh xinh tỏa thơm ngây ngất.

Loài điểu học: yến Đại Tây Dương – Atlantic canary, island canary, common canary (Serinus canaria)

Yến Đại Tây Dương thuộc Họ Sẻ thông (Fringillidae) gồm những loài chim nhỏ có thân trông giống sẻ nhưng mỏ mạnh hơn và bộ lông có nhiều màu sắc hơn.

Đừng nhầm với những loài yến trong Họ Yến (Apodidae). Xem Mục Yến ở trên.

Còn yến phụng – budgerigar (Melopsittacus undulatus) là loài khác nữa, có nguồn gốc ở Úc, được nhân giống thành nhiều chủng có màu sắc khác nhau, và được du nhập vào nhiều nước kể cả Việt Nam.

_yen DTDYến Đại Tây Dương sống hoang dã ở đảo Canaries thuộc Đại Tây Dương và đảo Acores thuộc Bồ Đào Nha, không hiện diện ngoài hoang dã ở Việt Nam.

Dài 10-12 cm. Chim trống: đầu màu lục pha vàng, phần dưới pha thêm vàng, lưng và hông có những vệt sậm. Chim mái: tương tự nhưng có màu nhạt hơn. Chim non: màu nâu với những vệt sậm.

Loài yến hoang dã này hót hay nhưng bộ lông không tạo ấn tượng nào. Vì vậy, từ thế kỷ 17 người ta có nhiều nỗ lực nhằm lai tạo, phối giống để cho ra những chủng có màu lông đẹp. Cuối cùng, các chủng này trở thành yến cảnh và mang tên khoa học chung là Serinus canarius domesticus.

Yến cảnh được được du nhập vào Việt Nam khoảng 100 năm nay. Ba loại yến cảnh phổ biến nhất là bạch yến, hoàng yến, và hồng yến, khác nhau chủ yếu qua màu lông, và cũng có những sắc lông trung gian.

Hồng yến là biến thể của yến cảnh mang yếu tố gien màu đỏ (Anh ngữ: red factor). Khi được cho ăn với thức ăn có màu đỏ, bộ lông chim sẽ mang một ít sắc đỏ, thành màu hồng. Điều này tương tự như hồng hạc (flamingo), có sắc hồng là do thức ăn mang màu đỏ như tôm. Nếu hồng hạc không ăn loại thức ăn nào có màu đỏ thì bộ lông của chúng sẽ có màu trắng. Tóm lại, phải có hai yếu tố là gien và thức ăn thì bộ lông hồng hạc mới có màu hồng. Hồng yến cũng thế. Tùy thể trạng của chim và loại thức ăn mà bộ lông có những sắc đỏ khác nhau, và đó là nét hấp dẫn đặc biệt của hồng yến so với bạch yến và hoàng yến.

_yen hong

Yến xanh tức thanh yến có màu lục pha vàng thành giống như màu nghệ, không phổ biến lắm. Đừng nhầm với thanh tước.

Tệ nạn săn bắt chim hoang dã

Mặc cho những nỗ lực bảo tồn, việc săn bắt chim hoang dã ngày càng quy mô và tàn khốc với những loại bẫy tinh vi, lưới vô hình hiện đại… đi kèm máy phát tiếng kêu và những hình nộm của chim để dẫn dụ chim trời bay đến. Vì thế mà chỉ trong một lần người ta có thể bắt nguyên bầy chim đông đúc; số chim trốn thoát được rất ít. Và hầu như người ta đều có cách bắt cho mỗi loài chim; không loài nào có thể trốn thoát.

Một địa điểm mà báo Phụ Nữ làm phóng sự gọi là “địa ngục chim trời” bày bán rất nhiều loài chim hoàn toàn hoang dã, chưa có nơi nào nuôi được, hoặc không thể nuôi sinh sản với số lượng lớn. Những con chim còn sống bị vặt lông, khò lửa, giãy giụa rồi lịm dần trong tiếng kêu yếu ớt trước khi bị chủ hàng bán cho người mua. Trong khi đó, hàng ngàn con chim bị nhốt trong những chiếc lồng lớn được chở đi khắp các tỉnh, thành, cũng để giết thịt.

Điều khá bất ngờ là người bán hầu như không cảnh giác gì, vô tư tiết lộ nguồn gốc của các loại chim trời bán giết thịt. Một chuyên gia từng làm việc cho một tổ chức bảo vệ động vật hoang dã giải thích rằng chợ chim này đã tồn tại nhiều năm rồi, người bán tinh ranh trà trộn chim hoang dã và chim nuôi hầu khi bị kiểm tra, họ nói đó là chim nuôi nên không bị tịch thu, xử phạt.

Một điều phối viên chương trình đất ngập nước của Tổ chức Quỹ quốc tế Bảo vệ thiên nhiên (WWF) tại Việt Nam cho biết, nhiều lần đi qua khu vực này, thấy cảnh chim, cò bị giết thịt, mua bán công khai, rất bất bình: “Hình ảnh đó quá phản cảm. Chợ nằm ngay trên đường đi đến hai khu Ramsar nổi tiếng của phía nam nên các chuyên gia nước ngoài rất ngạc nhiên và bức xúc. Tại một số hội thảo về bảo vệ động vật hoang dã, tôi cũng từng đề cập chuyện này, nhưng những người có trách nhiệm ở địa phương nói rằng, chim bán không nằm trong danh mục động vật hoang dã quý hiếm nên không xử phạt được. Do đó, chợ chim cứ tồn tại, tạo hình ảnh phản cảm cho công tác bảo tồn các loài chim đặc hữu tại các vùng đất ngập nước”.

Một tiến sĩ chuyên giám định động vật hoang dã ở Việt Nam nhận định, trong số các loài được bày bán ở chợ chim này có các loài hoang dã quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam như cò ốc (Anastomus oscitans), trĩ đỏ (Phasianus colchicus).

Một “địa ngục chim trời” khác nằm ở Bắc Bộ. Không giống như những khu chợ tự phát khác chỉ lưa thưa dăm ba lều hàng, ở đây cả một dãy đường biến thành chợ. Hàng chục con người lấy việc buôn bán động vật hoang dã làm kế sinh nhai, thả sức tràn ra đường chèo kéo người mua hàng. Lều hàng nào cũng tràn ngập chim ngói, cuốc hoa, cò, vạc, thậm chí cả những loài quý hiếm như: vịt trời, le le, sâm cầm… cũng bị nhốt hàng đàn.

Ở đây còn có cả giống diệc mỏ vàng, lông bạc lấp lánh, sải cánh dài tới hàng mét, được kẻ bán trưng ra ngay trước những sạp hàng. Nếu để ý một chút thì người qua đường có thể nhận ra mắt của những con vạc đã bị kẻ bán dùng kim khâu chặt, màng mắt từng con đều bị lộn ra ngoài. Hai chân bị buộc cứng, từng đôi diệc hoảng loạn vỗ cánh liên hồi. Đây cũng là cách mà kẻ bán dùng để thu hút mời chào khách qua đường.

Lâu lâu, người bán lại cho lũ diệc ăn bằng cách banh mỏ rồi ấn từng con cá khô vào trong cổ họng. Con diệc vươn cổ dài ngoẵng, rướn diều cố nuốt. Cá chưa kịp xuống diều, đã bị từng đoạn dây sắt cuốn chặt vòng quanh mỏ. Máu từ cổ ứa ra, con diệc rũ cánh nằm bẹp, hai chân xõng xoài. Trong khi đó vừa làm, người bán vừa oang oang: “Như này thì chúng nó mới sống, thịt mới tươi”.

Xem một số video về tệ nạn săn bắt chim trời:

https://www.youtube.com/watch?v=2xVxvNRkHss

https://www.youtube.com/watch?v=QYPNWzLPavg

https://www.youtube.com/watch?v=TBV6utcfmYg

Chừng nào người dân và các cơ quan công quyền còn chưa có ý thức thì công việc bảo tồn vẫn còn lắm gian nan, chim chóc lần hội bị tận diệt. Khi đó, ta không còn có những buổi sáng nghe chim hót như các nhà văn và nhà thơ kể lại. Cuối cùng, tiếng kêu và hình cảnh của chim chỉ tồn tại trong nỗi nhớ của thế hệ đi trước, còn thế hệ trẻ không biết gì hết. Các con chim trở thành những món nhậu không phục vụ nhu cầu dinh dưỡng như ngày xưa, hoặc trở thành vật nuôi nhốt trong lồng, Cuộc sống mất đi nét thi vị khi môi trường hoang dã không còn tiếng chim hót, không còn thấy cánh chim tung bay…

Kết luận

Bài này trình bày các loài chim trong kho tàng văn học–nghệ thuật của người Việt. Phải ghi nhận rằng tên trong dân gian khá lộn xộn và tùy tiện. Một tên có thể chỉ hơn một loài và nhiều khi có sự nhầm lẫn, trong khi mỗi loài khác có nhiều tên. Thêm nữa, một số văn nhân thi sĩ phóng bút khá bạo, chẳng hạn có người viết về chim tìm vịt “có mỏ giống vịt” và tiếng kêu “vịt vịt vịt vịt”. Tiếng kêu của tìm vịt vang vọng ở nhiều thôn làng, thị trấn và khu đô thị, lẽ nào nhà văn đó chưa từng nghe qua? Lại có người rập theo ước lệ khuôn sáo, như viết về chim bằng và chim quyên mà hẳn các tác giả không biết những con chim đó trông ra sao.

Vì thế mà người tổng hợp bài này phải cố gắng xác định để độc giả có thể vừa thưởng thức một ít văn học–nghệ thuật vừa chiêm ngưỡng những sắc màu của thiên nhiên bởi vì tôi có chủ đích chọn những hình ảnh đẹp nhất.

Rồi khi bạn có dịp đi ra ngoài, tản bộ hoặc ngồi xe, ngồi thuyền, trong công viên thành phố hoặc vùng rừng ở xa, hãy phóng tầm mắt ra xa gần, nghe ngóng tiếng chim đây đó. Nhờ sự chú tâm như thế mà bạn có thể khám phá ra nhiều loài chim hơn là bạn nghĩ. Nếu trang bị một ống nhòm hoặc máy ảnh có tiêu cự ít nhất 300 mm thì bạn có thể quan sát được nhiều hơn nữa. Hãy vui mà thưởng thức cuộc sống trong hoang dã kẻo cuộc sống đó sẽ biến mất nếu dân Việt vẫn chưa có ý thức bảo vệ môi trường!

Nhưng tôi vẫn luôn mong mỏi những sắc màu và cuộc sống có liên quan sẽ còn mãi cho các thế hệ sau này, thay vì là hoang dã vắng tiếng chim và sắc màu chỉ còn trên Internet!

Nguồn tham khảo

Anon. (2015). Nghĩa của tiếng Việt 10: Chim nhạn – Hãy trả lại tên cho ngỗng. http://soi.today/?p=178195

Badkar, M. (2013). An Amazing 1,300-Year Old Way Of Fishing Involving Birds Diving Underwater Is Going Extinct. https://www.businessinsider.com/cormorant-fishing-in-china-is-dying-2013-12

Băng Thanh (2017). Thú vị vườn chim Tư Sự. http://baocamau.com.vn/du-lich/thu-vi-vuon-chim-tu-su-47750.html

Bắc Vũ & Ha Na (2016). Hơn nửa thế kỷ canh giữ vườn cò. http://daidoanket.vn/xa-hoi/hon-nua-the-ky-canh-giu-vuon-co-tintuc88765

Bồng Sơn (2013). Vườn cò Bằng Lăng: Đủng đỉnh ngắm “cò bay thẳng cánh”. http://danviet.vn/que-nha/vuon-co-bang-lang-dung-dinh-ngam-co-bay-thang-canh-26850.html

Ca dao mẹ. https://cadao.me/the/chim-vit/

Diệp Minh Tâm (2019). Câu chuyện của dòng sông. https://tamdiepblog.wordpress.com/2019/11/07/chuyen-ke-cau-chuyen-cua-dong-song/

Dungnd (2017). Đặc sản chim mía Thạch Thành. http://thanhhoa.tintuc.vn/am-thuc/dac-san-chim-mia-thach-thanh.html

Đ.T.S. (2018). Nhớ tiếng chim đa đa. https://baotayninh.vn/nho-tieng-chim-da-da-a101824.html

Đại Dương (2013). Tiếng chim hót ngập tràn đảo Bồng Lai. https://dantri.com.vn/xa-hoi/tieng-chim-hot-ngap-tran-dao-bong-lai-1379729730.htm

Đặng Anh Tú (2009). Đồng dao Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin. https://www.thivien.net/Khuy%E1%BA%BFt-danh-Vi%E1%BB%87t-Nam/V%C3%A8-chim-ch%C3%B3c-Hay-moi-hay-m%C3%B3c-v%E1%BB%91n-thi%E1%BB%87t-con-d%C6%A1i/poem-YOgBWkRPR55YrCP8YHW3og

Đoàn Xá (2018). Về miền Tây săn cúm núm. http://daidoanket.vn/kham-pha/ve-mien-tay-san-cum-num-tintuc414301

Đông Ngàn Đỗ Đức (2011). Chim khách. http://www.dongngandoduc.com/2014/09/chim-khach/

Gia Bảo (2013). Các ‘thợ săn’ tận diệt chim trời ở miền Tây. https://vnexpress.net/thoi-su/cac-tho-san-tan-diet-chim-troi-o-mien-tay-2880079.html

Hà Trang (2018). Choáng ngợp bộ sưu tập chim “khủng” giá 10 tỷ đồng của “vua chim màu Việt Nam”. https://dantri.com.vn/doi-song/choang-ngop-bo-suu-tap-chim-khung-gia-10-ty-dong-cua-vua-chim-canh-viet-nam-20180404224248485.htm

Hoàng Tuấn Công (2019). Giẻ cùi tốt mã. http://tuancongthuphong.blogspot.com/2019/07/gie-cui-tot-ma.html#more

Hello Nest (2015). Có phải ‘Con người tàn ác với chim Yến’ và ‘chim Yến đập đầu tự tử, nhả ra máu…’ https://ivyblue.vn/co-phai-con-nguoi-tan-ac-voi-chim-yen-va-chim-yen-dap-dau-tu-tu-nha-ra-mau/

Legakul, B.; Round, P.D. (1991). A guide to the birds of Thailand. Saha Karn Bhaet Co., Bangkok, Thailand.

Lê Hoài Nam (2019). Sơn ca, bụi cỏ và bầu trời. https://trithucvn.net/van-hoa/chim-son-ca-bui-co-va-bau-troi.html

Lê Mạnh Chiến (2013). “Cớ sao đổi tên chim én thành chim nhạn?” Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 9 (107). http://www.vjol.info/index.php/ncpt-hue/article/viewFile/14391/12918)

Lương Thư Trung (no date). Có những mùa chim. http://thatsonchaudoc.com/banviet2/LuongThuTrung/HoiKy/CoNhungMuaChim.htm

Lương Thư Trung (2007a). Hạc, sếu và cò. http://thatsonchaudoc.com/banviet2/LuongThuTrung/HoiKy/HacSeuCo.htm

Lương Thư Trung (2007b). Vạc và diệc, bồ nông. http://thatsonchaudoc.com/banviet2/LuongThuTrung/HoiKy/VacDiecBoNong.htm

Lý Thị Minh Châu (2019). Chim vịt kêu chiều.  https://baomoi.com/chim-vit-keu-chieu/c/30525230.epi

ngnghai (2008). Đầm Thị Nại – bán đảo Phương Mai: Bức tranh sơn thủy trong lòng thành phố. http://baobinhdinh.com.vn/viewer.aspx?macm=22&macmp=22&mabb=91397

Nguyễn Hoàng Ân (2017). Mùa chim lá rụng. http://thst.vn/t/mua-chim-la-rung-nguyen-hoang-an

Phan Công Tuấn (2018). Đa đa đậu nhánh đa đa. https://baodanang.vn/channel/5433/201805/da-da-dau-nhanh-da-da-2596782/

Phạm Văn Tuấn (2017). Con chim sơn ca và âm nhạc. https://caoniendc.com/con-chim-son-ca-va-am-nhac/

Phú Lãm (2017). Nuôi con độc lạ: Hái ra tiền nhờ nuôi yến cảnh – loài chim quý tộc. http://danviet.vn/nha-nong/nuoi-con-doc-la-hai-ra-tien-nho-nuoi-yen-canh-loai-chim-quy-toc-759828.html

Nguyên Thảo (2009). Trong những cánh rừng Miền Đông. http://hoiquanbancau.vn/index.php?threads/trong-nh%E1%BB%AFng-c%C3%A1nh-r%E1%BB%ABng-mi%E1%BB%81n-%C4%90%C3%B4ng.771/

Nguyễn (2018). Có một loài chim… https://baotayninh.vn/co-mot-loai-chim–a99235.html

Nguyễn Chí Thành (2012). Ca dao dịch ra Anh Ngữ. https://thanhchinglg.violet.vn/entry/ca-dao-dich-ra-anh-ngu-7023468.html

Nguyễn Cử; Lê Trọng Trãi & Phillips, K. (2000). Chim Việt Nam. Nhà Xuất bản Lao động–Xã hội.

Nguyễn Hào Quang (2011). Điên điển – loài chim tráo cá. https://thvl.vn/nhin-ra-the-gioi/the-gioi-dong-vat/dien-dien-loai-chim-trao-ca/

Nguyễn Hoàng Ân (2017). Mùa chim lá rụng. http://thst.vn/t/mua-chim-la-rung-nguyen-hoang-an

Nguyễn Thị Thọ (2011). Hát vè – Nét văn hóa đặc sắc của trẻ Việt. https://www.nhandan.com.vn/hangthang/chinh-tri/item/17032502-.html

Phan Trung Nghĩa (2008). Miền chim hát. https://thvl.vn/trang-van-nghe/mien-chim-hat/

Phạm Ngôn (2019). Mùa hải âu săn mồi ở miền Tây. https://news.zing.vn/mua-hai-au-san-moi-o-mien-tay-post922100.html

Phúc Lộc (2015). Quê hương đẹp quá vườn cò. http://danviet.vn/net-viet/que-huong-dep-qua-vuon-co-609254.html

Robson, C. (2000). A field guide to the birds of Thailand and South-East Asia. Asia Books, Bangkok.

T.h. Phân biệt 5 chất giọng của chim cu gáy. http://kythuatnuoitrong.edu.vn/chim-canh/phan-biet-5-chat-giong-cua-chim-cu-gay.html

thainationalparks.com/ Racket-tailed treepie. https://www.thainationalparks.com/species/racket-tailed-treepie

Trần Thế Dũng (2017). Đắm mình trong thế giới chim muông hoang dã Tam Nông. https://dulich.tuoitre.vn/dam-minh-trong-the-gioi-chim-muong-hoang-da-tam-nong-1410839.htm

Trung Thanh (2018). Chuyện Sài Gòn từ những chú chim non gặp nạn. https://www.phunuonline.com.vn/thoi-su/chuyen-sai-gon-tu-nhung-chu-chim-non-gap-nan-147916/

Trung Thanh & Lê Nguyễn (2018). ‘Địa ngục chim trời’ ở miền Tây. https://www.phunuonline.com.vn/thoi-su/dia-nguc-chim-troi-o-mien-tay-138913/

Tuấn Ngọc (2019). Khắc khoải mùa chim đa đa. http://www.baolaocai.vn/van-hoa-van-nghe/khac-khoai-mua-chim-da-da-z8n20190312083632694.htm

vncreatures.net/ Tìm vịt. http://www.vncreatures.net/chitiet.php?page=1&loai=1&ID=5442

Võ Thị Phương Thanh (2012). Chim sâu lưng đỏ. https://bigben01.violet.vn/document/chim-sau-lung-do-7514694.html

Vũ Mừng (2019). Địa ngục của chim trời. https://giaoducthoidai.vn/thoi-su/dia-nguc-cua-chim-troi-4050656-v.html

Vũ Ngọc Long, Phùng Bá Thịnh, Lâm Đình Uy /CBD (2011). Vài nét ghi nhận nhanh về sân chim Vườn Quốc gia U Minh Thượng. http://sie.vast.vn/posts/63-vai-net-ghi-nhan-nhanh-ve-san-chim-vuon-quoc-gia-u-minh-thuong.vi

Vương Trung Hiếu (2016). Chim đỗ quyên là chim tu hú? http://tuanbaovannghetphcm.vn/chim-do-quyen-la-chim-tu-hu/

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *