Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên

Bộ sách Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên

Tập 3: Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên
(The little house on the prairie)

Gioi thieu 1

Đây là tập thứ ba trong bộ sách 9 tập Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên (Little house on the prairie), được gọi tắt là Bộ sách Ngôi nhà nhỏ (Little house series). Tác giả là người Mỹ, bà Laura Ingalls Wilder (1867-1957). Tập này có tựa giống như tựa của bộ sách.

Caroline, Mary, Laura 1875
Caroline, Mary và Laura, 1875

Bộ sách này thuật lại những kỷ niệm trong cuộc đời của chính tác giả. Riêng tập thứ ba này, Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên, miêu tả cuộc sống của gia đình bé Laura trong giai đoạn 1873-1874, theo lời kể trong truyện.

Trong thời gian này, nước Mỹ đang mở rộng lãnh thổ về hướng tây, nên nhiều gia đình cũng muốn dời về miền tây lập nghiệp. Một số người từ miền đông nước Mỹ dời đến Rừng Đại Ngàn, sau khi đã đi qua những quãng đường tương đối gần. Điều này khiến cho Rừng Đại Ngàn – vốn còn hoang vu như miêu tả trong Tập 1 – trở nên đông đúc. Bố Laura không thích như thế, muốn dời đến nơi hoang vắng hơn. Thế là cả gia đình chất lên xe goòng có mui bạt, di chuyển từ Wisconsin đến Kansas, nơi đất rộng mở mút tầm mắt. Đôi lúc cuộc sống nông trại trải qua khó khăn, thậm chí nguy hiểm, nhưng Laura và gia đình tất bật làm việc và cảm thấy hạnh phúc với những hứa hẹn của cuộc sống mới trên thảo nguyên.

Một số người Mỹ khác cũng dời nhà về miền tây như Bố của Laura. Họ được gọi là những “người định cư”. Tuy nhiên, trong khi nhiều gia đình Mỹ hội với nhau để cùng di chuyển theo từng đoàn, thì Bố của Laura lại di chuyển gia đình ông đơn độc.

Cần có quy định người da trắng có thể định cư nơi nào để tránh xung đột với người Da đỏ. Vì thế, chính phủ Mỹ đạt thỏa ước với người Da đỏ để dành cho họ một vùng đất riêng, được gọi là Lãnh thổ Da đỏ. Có lúc Chính phủ Mỹ thuận theo nguyện vọng của những người định cư nên muốn thu hẹp ranh giới của Lãnh thổ Da đỏ. Tin này chưa rõ có thật hay không, nhưng khi nghe như thế Bố của Laura lại quyết định đi định cư trong vùng mà ông cho rằng Chính phủ Mỹ sẽ lấy lại từ người Da đỏ.

Theo lời kể trong truyện thì bé Laura trong giai đoạn này được tròn 5-6 tuổi, sống trong một ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên gần Thị trấn Independence, Bang Kansas. Hiện nay, dựa trên miêu tả trong Bộ sách Ngôi nhà nhỏ và cách xây dựng thời ấy mà người ta phục dựng ngôi nhà trên nền cũ gần Thị trấn Independence của gia đình bố mẹ Laura cho khách tham quan đến chiêm ngưỡng. Di tích giếng nước do Bố và Ông Scott đào hiện nay vẫn còn.

Independence
Ngôi nhà được xây đúng theo kiểu nhà của gia đình Laura ở Independence

Không như cuộc sống ở Rừng Đại Ngàn thuộc Bang Wisconsin được kể trong Tập 1, cuộc sống ở Kansas có nhiều khó khăn và nguy hiểm hơn.

Bố mẹ bé Laura thuộc lớp người được gọi là những người khai phá: định cư cách xa làng mạc, thậm chí cách xa họ hàng, sẵn sàng đương đầu với những điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt để tạo dựng cuộc sống theo ý họ muốn. Vì thế mà vô hình trung bé Laura cũng được văn học Mỹ gọi là “cô bé khai phá”.

Đặc biệt, Bố của bé Laura là một người cha tuyệt vời. Ông có thể làm được nhiều việc khác nhau, và ông thường hát vừa kéo vĩ cầm cho hai bé nghe, giúp tinh thần hai bé thư giãn và phấn chấn. Âm nhạc là sắc thái đặc biệt trong Bộ sách Ngôi nhà nhỏ, qua đó thể hiện những bài dân ca vào thời ấy và nhiều bài còn thịnh hành đến bây giờ.

Hồi ức sống động của tác giả cũng vẽ lại đầy những chuyện phiêu lưu hồi hộp, căng thẳng, ly kỳ giữa chốn hoang dã mà văn học Việt Nam thường gọi là “chuyện đường rừng”.

Tên riêng và từ đặc biệt

(Bổ sung của người dịch)

bàn ủi (nguyên tác: sadiron) – vào thời gian trong truyện này chỉ là một khối sắt đặc tuy có hình dáng tựa bàn ủi điện, cũng có một tay cầm bằng sắt nhưng được quấn vải để tay người dùng không bị phỏng. Bàn ủi được đặt trên bếp lửa cho vừa nóng để sử dụng, khi nguội lại được đặt trên bếp làm nóng lại.

bò rừng (nguyên tác: buffalo, còn được gọi là bison) – loài thú sống trên cạn lớn nhất ở Bắc Mỹ, (con đực nặng 850-1100 kí-lô-gam và con cái nhỏ hơn), có bướu ở trên và phía trước vai; có bộ lông dầy, dài, mầu nâu sậm; cả con đực và con cái đều có sừng ngắn, nhọn, cong lên phía trên và về phía trước. Vào thời gian trong truyện này, nước Mỹ có hàng chục triệu bò rừng sống trên các vùng thảo nguyên, sống thành đàn đông có thể đến vài nghìn con mỗi đàn, được con người (đặc biệt là người Da đỏ) khai thác làm nguồn thực phẩm, lông và da.

búi tóc (nguyên tác: scalplock) – ở đây là túm tóc của người Da đỏ, sau khi họ cạo đầu chỉ còn lại một túm tóc trên đỉnh đầu.

Bootjack2

cái tháo ủng (nguyên tác: bootjack) – một dụng cụ nhỏ gồm một đầu khuyết hình chữ U tròn để giữ lấy gót ủng, mặt trên phẳng để đặt chân mang chiếc ủng, và mặt dưới có một cái chêm ngang để nâng mặt phẳng lên. Khi muốn tháo ủng, người sử dụng đặt cái tháo ủng với đầu khuyết chữ U hướng ra phía trước, đặt gót ủng khớp vào đầu khuyết chữ U, rồi đặt chân kia lên mặt phẳng cái tháo ủng qua đó đè chặt cái tháo ủng xuống, rồi kéo chân ra khỏi chiếc ủng bị giữ chặt xuống ở đầu khuyết chữ U.

cẩn tắc vô ưu hoặc cẩn tắc vô áy náy (nguyên tác: better to be safe than sorry) – thành ngữ có ý nói: nếu cẩn thận lo cho an toàn thì sẽ không phải chịu ưu phiền về sau.

Cháo Đậu Nóng (nguyên tác: Bean Porridge Hot) – trò chơi của hai trẻ ngồi đối diện nhau, dùng bàn tay thực hiện từng chuỗi động tác như sau:
1) vỗ 2 tay xuống đùi
2) vỗ 2 tay vào nhau
3) vỗ 2 tay vào 2 tay trẻ đối diện
4) vỗ 2 tay vào 2 tay trẻ đối diện
5) vỗ 2 tay xuống đùi
6) vỗ 2 tay vào nhau
7) vỗ tay trái vào tay trái trẻ đối diện
8) vỗ tay phải vào tay phải trẻ đối diện
9) vỗ 2 tay vào nhau

Chuỗi động tác có thể thay đổi tùy hai người chơi định với nhau. Sau mỗi chuỗi động tác, nhịp điệu nhanh dần lên, cho đến khi một bên thực hiện động tác sai, thì hai bên bắt đầu lại với nhịp điệu chậm rồi lại nhanh dần. Có thể chơi trong im lặng, hoặc đọc một bài đồng dao theo nhịp của động tác.

chó bun (nguyên tác: bulldog) – dòng chó to, có thân thấp và chắc khỏe, đầu to, vai rộng, hai chân trước ngắn và khỏe, hai chân sau dài. Chó bun thường được nuôi để giữ nhà và bảo vệ gia đình chủ nhờ có sức mạnh, tính dũng cảm và gan lì.

chó sói bò rừng (nguyên tác: buffalo wolf) – một phân loài của loài sói xám (chó sói xám còn được gọi tắt là sói). Sói bò rừng có kích thước cơ thể lớn, cân nặng 30-50 ki-lô-gam, có bộ lông mầu xám hoặc đen hoặc đỏ nhạt.

chó sói đồng cỏ (nguyên tác: coyote) – phổ biến ở Bắc Mỹ, nhỏ hơn chó sói xám (chó sói xám còn được gọi tắt là sói), có mầu lông từ nâu pha xám nhạt đến xám pha vàng nhạt. Khác với chó sói xám, chó sói đồng cỏ ít khi tấn công người và lại càng hiếm khi gây thương tích cho người.

chồn hôi (nguyên tác: skunk) – trong truyện này là những loài chồn hôi ở Bắc Mỹ (khác với chồn hôi trong rừng Việt Nam), thường có lông mầu đen với sọc trắng, có hai tuyến xạ ở mông chứa xạ rất hôi, mũi người có thể nhận ra ở khoảng cách một cây số. Khi nguy cấp, chồn hôi quay hai chân sau về phía đối thủ, xịt xạ từ hai tuyến xạ khá chính xác. Nếu xạ trúng vào mắt và mũi, đối thủ bị đau rát và có thể bị mù tạm thời, nếu không cũng chịu không nổi mùi hôi, phải bỏ chạy. Nhờ xạ mà chồn hôi có thể tự vệ chống lại thú lớn như gấu và chó sói.

Mink

chồn vizon (nguyên tác: mink) – loại chồn nhỏ, có trọng lượng cơ thể khoảng 1 ki-lô-gam, bơi lội giỏi, thích sống gần nguồn nước, thức ăn chính là cá, cua, tôm…, và kể cả thỏ, chim nước… Đặc biệt lông màu nâu, xám hoặc đen rất mượt và mịn, nên lông chồn vizon rất được ưa chuộng và có giá cao hơn các loại lông thú khác. Vào thời gian của câu chuyện trong tập sách này, người Mỹ đã bắt đầu nuôi chồn vizon đại trà để lấy bộ lông.

Muskrat2chuột xạ (nguyên tác: muskrat) – loài động vật có vú thuộc nhóm gặm nhấm (nhóm của chuột, sóc…), nặng 1-1,5 kí-lô-gram, sống phổ biến trong các vùng rừng Bắc Mỹ, thân dài khoảng 30 cm, có bộ lông dầy, mầu từ nâu đến xám thẫm, bơi lội giỏi, dùng cỏ cây để xây tổ dọc bờ sông, bờ suối.

Gopher-01

chuột vàng (nguyên tác: gopher) – chỉ chung một số loài gặm nhấm phổ biến ở Bắc Mỹ, có kích thước nhỏ, thân người dài 2-3 tấc, thường có bộ lông mầu xám-nâu trên lưng, mầu nâu nhạt phần bụng, đào dưới đất thành hệ thống đường hầm nhỏ và phòng rộng hơn làm nơi trú ẩn, có thể sống thành đàn đông đúc với nhau.

cỏ bò rừng (nguyên tác: buffalo grass) – loại cỏ có thân ngắn, mọc phổ biến trên vùng thảo nguyên khô miền trung nước Mỹ, nơi có nhiều bò rừng sinh sống.

Da đỏ – còn được gọi là người Mỹ Bản địa (Anh ngữ: Native Americans), chỉ chung những dân tộc đã sinh sống từ lâu ở Châu Mỹ, rất lâu trước khi những người từ Châu Âu di cư qua Mỹ lập nghiệp (tiếng Việt thường gọi là “người da trắng”) bắt đầu từ cuối Thế kỷ Mười Lăm. Vào thời của câu truyện này, nhiều dân tộc người Da đỏ sinh sống bằng cách săn thú, bắt cá, hái lượm tài nguyên rừng… Nhiều bộ tộc thường không ở hẳn một chỗ mà dời lều trại đi nơi này nơi khác, mỗi nơi ở trong một thời gian ngắn. Từng dân tộc của họ có ngôn ngữ và tập quán khác biệt. Nhà thám hiểm Christopher Columbus (1451-1506) lên tàu định đi khám phá thêm Ấn Độ, khi đến Châu Mỹ lại cho rằng mình đã đến nước Ấn Độ. Vì sự ngộ nhận này mà ông gọi những người Mỹ Bản địa ông gặp là người Ấn Độ (tiếng Anh: Indian). Tên Indian tuy do ngộ nhận vẫn còn được dùng để chỉ người Mỹ Bản địa.[A] Vì thế, bé Laura lại ngộ nhận người Mỹ Bản địa sống ở nước Ấn Độ!

“Đạp!”“Họ!” – trong nguyên bản, từ tiếng Anh “Geddit!” dùng để ra lệnh cho ngựa hoặc bò đi, và tiếng Anh “Whoa!” dùng để ra lệnh cho ngựa hoặc bò đứng yên. Hai mệnh lệnh tương đương mà một số nông dân Việt Nam dùng để điều khiển trâu cày là “Đạp!” có nghĩa là đi và “Họ!” có nghĩa là đứng.

đô la – một đô la vào thời gian của câu chuyện này có trị giá trên dưới 50 đô la hiện thời, tùy loại hàng hóa và dịch vụ.

Emmett, Daniel (1815-1904) – diễn viên tạp kỹ và nhà soạn nhạc người Mỹ, sáng tác nhiều bài du ca được ưa chuộng, trong số đó có hai bài nổi tiếng là Old Dan TuckerDixie, cả hai được thể hiện trong sách này. Năm 1842, ông thành lập một nhóm du ca đi trình diễn ở Thành phố New York, Thành phố Boston và Anh quốc. Nhóm du ca thường bôi mặt cho đen để trình diễn những bài hát miêu tả tâm tình và hoàn cảnh người da đen, trong phong cách âm nhạc và kịch nghệ được gọi là “mặt đen” (Anh ngữ: blackface) thịnh hành thời bấy giờ.

Foster, Stephen (1826-1864) – người được xem là cha đẻ của nền âm nhạc Mỹ, là tác giả của nhiều ca khúc bình dân được yêu thích và thịnh hành mãi đến bây giờ. Sau hơn 150 năm, nhiều ca khúc của ông được truyền miệng và hát như là dân ca. Oh Susanna là ca khúc của ông được nổi tiếng và phổ biến ở nhiều nước, được cho là biểu tượng của dân ca Mỹ. Những ca khúc khác của ông được Bố của Laura trình bày qua các tập của “Bộ sách Ngôi nhà nhỏ” là: Old Uncle Ned; Nelly was a lady; Oh boys, carry me along; De Camptown races; Old folks at home, và My old Kentucky home, good night.

Đáng lẽ như hiện giờ thì ông đã là triệu phú của Mỹ, nhưng vào thời ông (hai thập kỷ 1850 và 1860), chế độ nhuận bút không được thực hiện chặt chẽ. Vì thế, các bài hát của ông được in ấn và trình bày phổ biến mà ông không nhận được tiền tác quyền. Ông sống trong sự túng thiếu nhiều năm trước khi qua đời.

Prairie chicken (Tympanuchus cupido)

gà thảo nguyên (nguyên tác: prairie chicken) – một loài gà gô ở Bắc Mỹ, có bộ lông mầu nâu-kem pha những sọc đen, con trống có điểm đặc sắc là mỗi bên má có một túi trông tựa như mào, mầu vàng-cam. Loài này thích sống trên vùng thảo nguyên có cỏ mọc cao và cách xa nơi con người sinh sống.

giày da đanh (nguyên tác: moccasin) – loại giày làm bằng da thú, cả đế giày và hai thành bên liền lạc nhau bằng một miếng da duy nhất, được may nối lại ở phần trên. Đế giày mềm và dẻo, dễ thích ứng với mặt đất gập ghềnh. Khởi thủy đây là loại giày của người Da đỏ, về sau nhiều người da trắng cũng thích sử dụng.

gỗ súc – gỗ ở dạng nguyên cả thân hoặc nhánh cây to, vẫn còn vỏ cây, để phân biệt với gỗ xẻ. Khi xây nhà, người ta chọn những đoạn thân cây và nhánh cây tương đối thẳng, và những đoạn này được gọi là súc gỗ.

Gypsy hoặc Gipsy – tiếng Việt còn gọi là Bô-hê-miêng theo tiếng Pháp: Bohémien, chỉ chung sắc dân có nguồn gốc từ Ấn Độ, ngày xưa sống vô tổ quốc, lang thang qua các vùng ở miền Tây và Nam Châu Âu, sinh nhai bằng nghề ca múa, bói toán…

hàng rào cọc (nguyên tác: stockade) – hàng rào được xây theo cách thô sơ để bảo vệ một khu gia cư, hoặc doanh trại, hoặc nhà tù, chống lại sự tấn công có vũ trang không mạnh. Hàng rào cọc thường được dựng bằng những thân cây hoặc nhánh cây to, đóng sát nhau xuống đất, đầu thường được vuốt nhọn. Khoảng hở giữa các cây có thể được bịt kín bằng bùn. Đá hoặc bùn có thể được dùng để gia cố chân hàng rào. Tùy nhu cầu phòng thủ, người ta có thể đào rãnh bên ngoài và chung quanh hàng rào.

hải ly (nguyên tác: beaver) – loài động vật có vú thuộc nhóm gặm nhấm (nhóm của chuột, sóc…), nặng trung bình 15-20 kí-lô-gram, lội nước giỏi, có thói quen dùng răng nhọn cắn đứt cây để mang đi xây đập nước nhằm tăng độ sâu của nước chung quanh cửa hang đi vào tổ. Vào thời của câu chuyện trong sách, người ta thường bắt hải ly để lấy bộ lông.

Goldenrod

hoàng cẩm phượng (nguyên tác: goldenrod) – chỉ chung một số loài cỏ có lá thon và không cuống lá, có hoa nhỏ mầu vàng kết thành nhiều chùm đẹp ở ngọn thân nở vào mùa thu.

jig – điệu khiêu vũ xuất xứ từ Anh quốc vào Thế kỷ Mười Sáu rồi trở thành điệu vũ truyền thống được yêu thích ở Ai-len và Scotland. Điệu jig được khiêu vũ theo tiết tấu âm nhạc vui tươi, sinh động nên các động thái khi khiêu vũ cũng rất sinh động. Những buổi hội hè, họp mặt… của người ở Ai-len và Scotland thường có khiêu vũ theo điệu jig, với tiết tấu thường là của vĩ cầm.

ký-nin (nguyên tác: quinine) – loại thuốc chữa các triệu chứng của bệnh sốt rét, hiện diện trong vỏ cây canh-ky-na (Anh ngữ: cinchona), có vị rất đắng. Từ năm 1820, người ta trích được thuốc ký-nin từ vỏ cây canh-ky-na, tuy cây này đã được dùng như thảo dược để chống sốt rét hàng trăm năm trước. Sau này ký-nin thường được làm thành viên thay vì thể bột như ngày xưa, và giờ đây ít được dùng vì nhiều loại thuốc khác có công dụng hơn.

la (nguyên tác: mule) – con thú lai, có cha là lừa và mẹ là ngựa, được nhiều nơi trên thế giới ưa chuộng dùng làm thú chuyên chở. Đầu, vành tai và đuôi con la tương tự lừa, thân hình giống ngựa, nhưng vượt trội cả lừa lẫn ngựa vì thông minh hơn, chịu đựng sức nặng giỏi hơn, chân vững vàng hơn để đi trên đồi núi, và tuổi thọ dài hơn.

Lãnh thổ Da đỏ (nguyên tác: Indian Territory) – lãnh thổ nằm trên hai Bang Arkansas và Oklahoma bây giờ, có giá trị pháp lý được Chính phủ Hoa Kỳ dành riêng cho người Da đỏ sinh sống để họ được tự do khai thác tài nguyên thiên nhiên và hưởng một số quyền tự trị (như tự bầu cử người lãnh đạo, tự đề ra hương ước, tự hành xử các vấn đề nội bộ…).

mại châu hoặc mạy (nguyên tác: hickory) – một số loài cây to thuộc họ cây óc chó, phổ biến ở các vùng miền đông và miền nam nước Mỹ, ở Việt Nam cũng có vài loài. Mại châu cho quả cứng có nhân ăn được, gỗ có vân đẹp dùng đóng bàn ghế, tủ, dụng cụ thể thao…

mâm xôi (nguyên tác: blackberry) – một số loài cây bụi thuộc họ hoa hồng, có quả kép gồm những quả mọng nhỏ dính vào một đế hình chóp, dễ rời ra khi chín. Các loài mâm xôi ở Mỹ thường có quả mầu đen-tím hoặc đỏ, một loài mâm xôi trong rừng Việt Nam có quả mầu đỏ. Vào thời gian trong truyện, quả mâm xôi trong các sản phẩm tiêu thụ và mua bán được hái từ cây mâm xôi dại trong rừng. Hiện nay một số loài mâm xôi được trồng phổ biến.

ngựa thảo nguyên (nguyên tác: mustang) – loại ngựa sống tự do trên các vùng thảo nguyên ở Mỹ, có nguồn gốc từ ngựa nhà do người Tây Ban Nha mang đến Bắc Mỹ. Khi cần, người Mỹ có thể bắt ngựa thảo nguyên để thuần hóa thành ngựa nhà bình thường, nhưng hiện nay ngựa thảo nguyên được bảo vệ như là một loài động vật hoang dã.

Nhồi Bánh Chả (nguyên tác: Patty Cake) – trò chơi của một trẻ lớn hoặc người lớn với một em bé, làm những động tác như sau:
1)    cầm lấy hai cổ tay em bé, đưa hai lòng bàn tay vào nhau và tập cho em bé vỗ tay theo nhịp;
2)   nắm hai bàn tay bé và xoay lấy nhau;
3)   đưa hai bàn tay lên cao.

Đi cùng các động tác là một bài vè diễn tả các cử động nhồi bột bánh. Mục đích của trò chơi là tập cho bé vận động và ghi nhớ trình tự các động tác.

Cats-Cradle-Indiv

Nôi Mèo (nguyên tác: Cat’s Cradle) – trò chơi của hai trẻ, dùng một sợi chỉ to, hai đầu cột vào nhau thành một vòng, rồi quấn giữa các ngón tay của hai bàn tay thành nhiều hình tượng khác nhau, theo mức độ dễ hoặc khó khác nhau. Mỗi trẻ quấn chỉ thành một hình tượng rồi chuyền qua chuyền lại với nhau, theo những động tác sao cho vòng chỉ không bị sút ra.

Osage – một dân tộc người Da đỏ, vào thời gian của câu chuyện trong sách này họ sinh sống giữa hai con sông Missouri và Arkansas. Vào Thế kỷ Mười Bảy, một số nhà thám hiểm người Pháp tìm gặp và giao tiếp với họ ở vùng đất thuộc Bang Missouri hiện nay, vì thế họ học được tiếng Pháp và tỏ ra thân thiện với người Pháp. Trong giai đoạn 1808-1870, người Osage bán đi phần lớn đất đai của họ cho nước Mỹ. Năm 1870, họ vào sống trong một khu bảo tồn ở cùng đông-bắc Oklahoma, được Chính phủ Mỹ trợ giúp về mặt tài chính.

papoose – từ vựng tiếng Anh được vay mượn từ một ngôn ngữ người Da đỏ, có nghĩa là đứa trẻ của bất cứ dân tộc Da đỏ nào, được gọi theo cách trìu mến.

Staghorn-sumac-2

sơn (nguyên tác: sumac) – cây sơn là một số loài cây bụi, thường có lá kép, vào mùa thu nở nhiều hoa nhỏ tạo thành chùm hình nón dài, sau đấy hoa kết quả thường có mầu đỏ sậm, vì thế một số chủng được trồng làm cây cảnh.

sốt và phát lãnh (nguyên tác: fever ‘n’ ague) – dịch nghĩa đen theo Anh ngữ trong nguyên tác, là từ ngữ dùng trong dân gian Mỹ khi xảy ra câu chuyện để chỉ bệnh sốt rét. Lúc ấy có những ngộ nhận về nguyên nhân gây bệnh sốt rét, như được kể trong truyện.

Thảm sát Minnesota (nguyên tác: Minnesota Massacre) – vụ đối đầu đẫm máu giữa người da trắng định cư và người Da đỏ. Ngày 17-8-1862, bốn chiến sĩ người Da đỏ can tội cướp bóc và giết năm người định cư. Đáng lẽ tù trưởng người Da đỏ phải giao bốn can phạm cho Chính phủ Mỹ xử lý, nhưng vì đang có một số bức xúc với người định cư, hội đồng lãnh đạo các bộ tộc người Da đỏ quyết định tấn công người định cư ngay ngày hôm sau. Cuộc xung đột khiến cho mỗi bên có vài trăm người thiệt mạng.

thanh khung xe goòng (nguyên tác: wagon bow) – thanh gỗ to uốn cong, được gắn trên xe goòng thành hình chữ U ngược. Dăm bảy thanh khung tạo thành một khung xe, qua đó có thể trải một tấm vải bạt làm thành mui xe goòng.

từ thời ông Bành Tổ (nguyên tác: since Hector was a pup) – thành ngữ theo cách cường điệu, có nghĩa: từ thời rất xa xưa. Theo một cách giải thích, thành ngữ tiếng Anh since Hector was a pup theo tiếng lóng có nghĩa đen là: từ thời Hector còn trẻ. Trong thần thoại Hy Lạp, Hector là Hoàng tử thành Troy. Ông Bành Tổ là một nhân vật trong truyền thuyết Trung Hoa, được cho là sống đến nghìn tuổi.

vải flanen (nguyên tác: flannel) – loại vải dầy, có hai lớp: lớp phía trên có bề mặt mịn nhô lên, che lớp phía dưới là vải dệt với những đường chéo trên bề mặt dưới. Vải flanen thường được dùng để may áo ấm, vải trải giường giữ ấm… Vào thời của Laura, vải flanen được dệt bằng sợi len xe, hiện nay có thể được dệt bằng sợi tổng hợp.

vải trúc bâu (nguyên tác: calico) – xuất xứ từ Thành phố Calicut ở Ấn Độ từ Thế kỷ Mười Một. Đấy là loại vải dầy trung bình, có mặt mịn, được dệt bằng sợi bông vải, có thể là trơn mầu trắng hoặc in hoa văn trên một bên, vào Thế kỷ Mười Chín được dùng thông dụng ở Mỹ với hoa văn hai mầu.[B]

Washington – George Washington (1732-1799), tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ (1789-1797). Ông đã thành lập quân đội Mỹ nhằm chiến đấu chống Vương quốc Anh trong cuộc Cách mạng Mỹ và giành chiến thắng. Ông được xem là cha đẻ của nước Mỹ. Thủ đô của Mỹ và một bang nước Mỹ bên bờ Thái Bình Dương mang tên ông.

Về miền Tây

Cách đây lâu lắm, khi những ông bà nội và ông bà ngoại bây giờ còn là những đứa trẻ trai và gái, hoặc là những em bé, hoặc thậm chí chưa sinh ra, Bố và Mẹ cùng Mary, Laura và em bé Carrie rời khỏi ngôi nhà nhỏ trong Rừng Đại Ngàn ở Bang Wisconsin. Cả gia đình ra đi trên cỗ xe goòng, để lại nỗi cô đơn và trống vắng trong khoảnh rừng đã được khai quang giữa những cội cây to, và họ chẳng bao giờ thấy lại ngôi nhà nhỏ ấy nữa.

Going West 2

Họ chuẩn bị đi về vùng đất của người Da đỏ.

Bố phàn nàn bây giờ có quá nhiều người trong Rừng Đại Ngàn. Laura thường nghe tiếng rìu chém thình thịch vang dội mà không phải do rìu của Bố, hoặc tiếng súng nổ vọng đến mà không phải do khẩu súng của Bố. Con đường mòn phía trước ngôi nhà bây giờ đã thành một con đường rộng. Hầu như mỗi ngày, Mary và Laura đều ngừng chơi đùa và ngạc nhiên nhìn thấy một xe goòng chầm chậm chạy lọc cọc trên con đường ấy.

Thao nguyen

Thú rừng không muốn sinh sống nơi có quá nhiều người. Bố cũng không thích ở lại. Bố thích vùng đất có thú rừng sống mà không phải sợ hãi. Bố thích những con nai con và mẹ của chúng đứng nhìn Bố từ khoảnh rừng có nhiều bóng râm, và những con gấu mập mạp, ù lì đang ăn những quả dâu dại trên các khoảnh rừng mọc đầy các loại dâu này.

Trong những đêm dài mùa đông, Bố bàn bạc với Mẹ về vùng đất miền Tây. Ở miền Tây đất đai bằng phẳng, và không có nhiều cây to. Cỏ thì mọc dầy và cao. Có những loài thú hoang dã lang thang đây đó kiếm ăn như thể chúng đang ở trên một đồng cỏ trải dài mút mắt, và không có dân đi định cư. Chỉ có người Da đỏ sống ở đấy.

Một ngày vào cuối đông, Bố bàn với Mẹ: “Vì thấy em không phản đối, nên anh đã quyết định di chuyển về miền Tây. Đã có người ngỏ ý muốn mua chỗ này, mình có thể bán đi với giá mà ta thấy phải chăng, đủ để giúp mình bắt đầu ở vùng đất mới.”

Mẹ nói: “Ôi Charles, mình phải đi thật sao?” Thời tiết đang quá lạnh trong khi ngôi nhà ấm cúng thật thoải mái.

Bố nói: “Nếu mình định đi năm nay, thì phải đi bây giờ. Đợi đến khi băng tan thì mình không thể vượt qua Sông Misissippi được.”

Thế là Bố bán đi ngôi nhà nhỏ. Bố cũng bán con bò và con bê. Bố dùng gỗ mại châu đóng thành những thanh khung xe goòng rồi dựng thẳng đứng trên thùng xe goòng. Mẹ phụ giúp Bố căng tấm vải bạt trắng làm thành mui xe.

Trong bóng tối lờ mờ một sáng tinh sương, Mẹ nhẹ nhàng lay người Mary và Laura cho đến khi hai bé tỉnh ngủ. Dưới ánh lửa lò sưởi và đèn nến, Mẹ lau mặt mũi, chải tóc, rồi cho hai bé mặc trang phục giữ ấm. Bên ngoài nội y bằng vải flanen đỏ, Mẹ cho mặc áo lót bằng len, áo ngoài bằng len, và bít tất dài bằng len. Mẹ còn mặc thêm cho hai bé áo choàng ngoài, mũ trùm đầu bằng da thỏ, và găng tay đan bằng sợi thô mầu đỏ.

Mọi thứ trong ngôi nhà đã được chất lên xe, ngoại trừ giường và bàn ghế. Gia đình không cần mang theo các món nội thất này, bởi vì Bố luôn đóng mới được.

Có một lớp tuyết mỏng trên mặt đất. Không gian tĩnh mịch, lạnh lẽo và tối tăm. Các cội cây trơ trụi vươn lên bầu trời sương giá. Nhưng về hướng đông bầu trời ửng mầu nhàn nhạt, và qua khu rừng xám xịt những đèn lồng cùng với những xe goòng và ngựa mang Ông Nội, Bà Nội, các cô các chú và các em họ đến.

Mary và Laura ôm chặt lấy con búp bê bằng vải vụn của mỗi bé, không nói câu nào. Các em họ đứng quanh mà nhìn hai bé. Bà Nội và các cô ôm từng người trong gia đình, hôn họ rồi ôm và hôn lần nữa, vừa ôm hôn vừa nói lời từ biệt.

Gia tu

Bố treo khẩu súng vào các thanh khung xe goòng bên trong mui xe, nơi mà ông có thể với lấy nhanh từ ghế ngồi. Bố treo túi đạn và chiếc sừng đựng thuốc súng phía dưới khẩu súng. Ông cẩn thận đặt hộp đàn giữa những chiếc gối để đàn không bị hỏng vì dằn xóc.

Các chú giúp thắng đôi ngựa vào cỗ xe. Các em họ được bảo hôn giã từ Mary và Laura, thế là chúng làm theo. Bố nhấc Mary rồi Laura lên, đặt hai bé vào chiếc giường ở phần cuối xe. Bố đỡ Mẹ leo lên ghế ngồi trên xe, rồi Bà Nội bế bé Carrie trao cho Mẹ. Bố đi vòng rồi lên ngồi kế bên Mẹ, và con chó bun nâu đốm Jack đi dưới xe goòng.

Thang cuongThế là tất cả rời khỏi ngôi nhà nhỏ xây bằng gỗ súc. Các cánh cửa chớp đã đóng lại bên ngoài các khung cửa sổ, vì vậy ngôi nhà nhỏ không thể nhìn thấy họ ra đi. Ngôi nhà ở lại bên trong hàng rào gỗ, phía sau hai cội cây sồi to mà vào mùa hè đã làm mái nhà xanh cho hai chị em Mary và Laura cùng chơi đùa bên dưới. Và đấy là những gì cuối cùng còn lại của ngôi nhà nhỏ.

Bố hứa khi gia đình đến miền Tây, Laura sẽ gặp một papoose.

Bé hỏi: “Papoose nghĩa là gì hở Bố?”, và Bố trả lời: “Papoose là em bé nhỏ, da nâu, người Da đỏ.”

Cỗ xe chạy một quãng đường dài qua khu rừng phủ tuyết, cho đến khi họ đến Thị trấn Pepin. Mary và Laura đã có lần đi đến nơi đây, nhưng bây giờ thị trấn trông khác. Cửa hàng và tất cả các ngôi nhà khác đều đóng kín cửa, gốc của những cây bị đốn còn sót lại đều phủ tuyết, và không thấy trẻ em nô đùa ngoài trời. Những sợi dây thừng nằm quanh các gốc cây. Chỉ thấy dăm ba người mang ủng, đội mũ lông thú và mặc áo choàng may bằng vải sọc vuông.

Mẹ cùng Mary và Laura ngồi trong xe goòng ăn bánh mỳ với mật mía, đôi ngựa ăn bắp từ chiếc túi treo dưới mõm mỗi con, trong khi Bố vào cửa hàng đổi lông thú để lấy những thứ cần thiết cho cuộc hành trình. Gia đình không thể lưu lại lâu ở thị trấn, bởi vì ngày hôm ấy họ phải đi băng qua hồ.

Mặt hồ trắng, bao la và phẳng lặng kéo dài cho đến tận chân trời xám. Những vệt bánh xe goòng chạy dọc ngang, lan xa đến nỗi bạn không thấy được những vệt này chạy đến đâu; thật ra là chạy đến khoảng hư vô.

Bố đánh chiếc xe đi xuống mặt băng, lần theo những vệt bánh xe ấy. Vó ngựa gõ những âm thanh lộp cộp nghe buồn tẻ, bốn bánh xe kêu xào xạo. Thị trấn nhỏ dần và nhỏ dần phía sau, cho đến khi ngôi nhà cao của cửa hàng chỉ còn là một chấm nhỏ. Chung quanh cỗ xe chẳng có gì cả, chỉ có khoảng trống không và tĩnh lặng. Laura không thấy thích chút nào. Nhưng Bố đang ngồi trên xe và Jack đang chạy phía dưới xe; bé biết không gì có thể làm hại bé trong khi có Bố và Jack ở gần bên.

Cuối cùng, cỗ xe đi lên một triền dốc, lại chạy trên nền đất, và lại có những cội cây. Giữa đám cây cối cũng có một ngôi nhà nhỏ xây bằng gỗ súc. Thế là Laura cảm thấy dễ chịu hơn.

Wagon & 2 ngua

Không có ai ở trong ngôi nhà nhỏ; nó chỉ là nơi người ta dừng chân nghỉ trong cuộc hành trình. Ngôi nhà nhỏ xíu, trông lạ lẫm, với lò sưởi to và những chỗ ngủ thô sơ dọc các bức vách. Nhưng ngôi nhà ấm lên khi Bố đốt củi trong lò sưởi. Đêm hôm ấy, Mary, Laura và em bé Carrie ngủ với Mẹ trên chiếc giường tạm đặt trên nền nhà trước lò sưởi, còn Bố ngủ trên xe goòng đỗ bên ngoài để trông chừng xe và đôi ngựa.

Trong đêm, một tiếng động lạ khiến cho Laura tỉnh ngủ. Bé nghe giống như tiếng súng, nhưng tiếng chát chúa và vang dài hơn tiếng súng. Rồi bé lại nghe thêm một tiếng, và thêm một tiếng. Mary và Carrie ngủ say, nhưng Laura không ngủ được, cho đến khi có tiếng Mẹ nhỏ nhẹ trong bóng tối. Mẹ nói: “Ngủ đi, Laura con. Đấy chỉ là tiếng băng vỡ.”

Sáng hôm sau, Bố nói: “Caroline à, may mà hôm qua mình đã băng qua hồ. Không lạ gì mà băng tan hôm nay. Mình đã vượt sông muộn, và được may mắn vì băng không bắt đầu tan trong khi mình còn đang ở giữa hồ.”

Mẹ nhẹ nhàng đáp: “Charles ạ, hôm qua em đã nghĩ đến điều này.”

Lúc ấy Laura đã không nghĩ đến việc này, nhưng bây giờ bé tự hỏi chuyện gì hẳn đã xảy ra nếu mặt băng vỡ dưới bánh xe và cả gia đình rơi xuống làn nước lạnh giá ở giữa mặt hồ mênh mông ấy.

Mẹ nói: “Charles, anh làm cho ai đấy hoảng sợ rồi.”

Bố bắt lấy Laura và ôm bé trong vòng tay bình an, vạm vỡ. Bố vui vẻ ôm chặt lấy bé, nói: “Ta đã vượt qua Sông Mississippi rồi! Con gái rượu ơi, con có thích không? Con có thích đi về miền tây nơi có người Da đỏ sinh sống không?”

Laura cho biết mình thích, và bé hỏi có phải họ sống ở nước Ấn Độ không. Nhưng không; họ sống ở Bang Minnesota.

Đấy là quãng đường dài, rất dài, dẫn đến Lãnh thổ Da đỏ. Hầu như mỗi ngày đôi ngựa đều đi càng xa càng tốt có thể được; hầu như mỗi đêm Bố Mẹ đều hạ trại ở một nơi chốn mới. Đôi lúc cả gia đình phải lưu lại vài ngày ở một chỗ bởi vì một con suối bị lũ, và phải chờ cho nước lũ rút mới qua được con suối ấy. Cỗ xe đã đi qua nhiều con suối đến nỗi đếm không xuể. Họ thấy những khu rừng và những ngọn đồi lạ lẫm, và những vùng đất còn lạ lẫm hơn vì chẳng có cây cối gì cả. Họ vượt qua những con sông trên những chiếc cầu gỗ, và họ đi đến một con sông rộng với nước mầu vàng mà không có cầu.

Đấy là Sông Missouri. Bố đánh xe lên một chiếc bè, và tất cả đều ngồi yên trên cỗ xe trong khi chiếc bè lắc lư rời khỏi bờ đất an toàn và chầm chậm băng ngang dòng nước đang đổ xuôi cùng với bùn vàng.

Song MissouriSau nhiều ngày nữa, họ lại đến vùng những ngọn đồi. Trong một thung lũng, bánh xe lún nhanh dưới lớp bùn đen dầy. Mưa như trút nước, sấm rền vang và chớp chói lòa. Không có chỗ để trú và để đốt lửa. Mọi thứ đều ẩm ướt; mọi người đều lạnh run và khổ sở trên xe goòng, nhưng vẫn phải ngồi đấy và ăn những miếng thức ăn nguội lạnh.

Ngày hôm sau, Bố tìm được một chỗ trên triền đồi nơi gia đình có thể hạ trại. Mưa đã dứt hạt, nhưng họ phải chờ một tuần cho nước sông rút xuống và bùn khô đi để Bố có thể đào bánh xe lên cho ngựa kéo đi tiếp.

Đến một ngày trong khi đang chờ đợi, một người đàn ông cao và mảnh dẻ xuất hiện từ khu rừng, cưỡi một con ngựa đen nhỏ. Ông ấy và Bố bàn bạc với nhau một lúc, rồi hai người cùng đi vào rừng. Khi hai người quay lại, mỗi người cưỡi một con ngựa đen nhỏ. Bố đã đổi đôi ngựa nâu đã mệt mỏi để nhận hai ngựa nhỏ ấy.

Đấy là những con ngựa nhỏ nhưng trông đẹp. Bố cho biết chúng thực sự không phải là ngựa non, mà là ngựa thảo nguyên miền tây. Bố nói: “Chúng dẻo dai như la và hiền từ như mèo con.” Chúng có mắt to và hiền hòa, lông bờm và đuôi dài, chân mảnh hơn và nhanh nhẹn hơn chân các con ngựa ở Rừng Đại Ngàn.

Khi Laura hỏi hai con ngựa tên gì, Bố bảo Mary và bé có thể đặt tên cho chúng. Thế là Mary đặt tên cho một con là Pet, còn Laura đặt tên cho con kia là Patty. Khi dòng sông không còn gầm thét lớn tiếng và con đường đã khô hơn, Bố đào bánh xe goòng lên khỏi lớp bùn. Bố thắng hai con Pet và Patty vào xe, rồi tất cả cùng đi với nhau.

Cả nhà đã đi trên chiếc xe goòng có mui qua một quãng đường dài, bắt đầu từ Rừng Đại Ngàn ở Bang Wisconsin, rồi đi xuyên qua các Bang Minnesota, Iowa và Missouri. Suốt quãng đường dài ấy, con chó Jack vẫn chạy theo dưới gầm xe. Bây giờ, tất cả chuẩn bị đi qua Bang Kansas.

Kansas là một vùng đất phẳng mênh mông phủ một thảm cỏ cao, lượn lờ trong gió. Từ ngày này đến ngày khác, họ đi trong phần đất Kansas mà chỉ thấy làn cỏ gợn sóng bềnh bồng và bầu trời cao rộng. Cả bầu trời uốn cong xuống mặt đất thành một vòng tròn hoàn hảo, và cỗ xe nằm ngay giữa vòng tròn.

Suốt ngày dài, hai con Pet và Patty tiến về phía trước, hết phi nước kiệu đến nhịp bước rồi lại phi nước kiệu, thế mà chúng vẫn không thể thoát ra khỏi điểm giữa vòng tròn ấy. Khi mặt trời dần buông xuống, vòng tròn vẫn còn ở chung quanh họ và da trời đổi mầu hồng. Rồi da trời chầm chậm chuyển thành đen. Gió thổi thành những âm thanh cô đơn trên đồng cỏ. Đống lửa hạ trại trông nhỏ nhoi và lạc lõng giữa khoảng không gian bao la như thế. Nhưng những vì sao to lơ lửng trên bầu trời có vẻ như hạ thấp xuống đến nỗi Laura có cảm tưởng bé gần như chạm được tới chúng.

Wagon 2

Ngày hôm sau, mặt đất vẫn thế, bầu trời vẫn thế, vòng tròn thì không đổi. Mary và Laura cảm thấy buồn chán với tất cả. Chẳng có việc gì mới để làm và cũng chẳng có cái gì mới để nhìn ngắm. Chiếc giường được đặt ở phần cuối xe goòng và được che phủ gọn gàng bằng một tấm chăn xám; Mary và Laura ngồi trên chiếc giường này. Tấm bạt hai bên chiếc xe đã được cuộn lên và cột lại, đón gió thảo nguyên thổi vào. Gió thổi tốc theo mọi hướng mái tóc nâu thẳng của Laura và mái tóc quăn óng vàng của Mary, và ánh sáng chói làm cho mắt hai chị em nheo lại.

Đôi lúc một con thỏ rừng tai to nhảy từng bước dài qua những ngọn cỏ đang tung bay. Con chó Jack không thèm để ý đến. Đến lúc này thì con Jack tội nghiệp đã mệt mỏi, và các móng của nó đang đau nhức do cuộc hành trình. Cỗ xe vẫn tiếp tục dằn xóc, lớp vải bạt trên mui phần phật trong gió. Hai vệt bánh xe mờ vẫn lùi xa phía sau xe goòng, lúc nào cũng thế.

Bố ngồi cong lưng lại. Các sợi dây cương lơi lỏng giữa hai bàn tay, gió thổi phất phơ bộ râu dài mầu nâu. Mẹ ngồi thẳng và im lìm, hai tay gấp lại trên lòng. Em bé Carrie đang ngủ trong một cái lồng đặt giữa những gói này gói kia mềm mại.

Mary ngáp dài, và Laura hỏi: “Mẹ ạ, chúng con có thể ra ngoài và chạy theo xe được không? Hai chân con tê mỏi quá.”

Mẹ đáp: “Không được, Laura à.”

Laura hỏi tiếp: “Chúng ta sẽ sớm hạ trại chứ Mẹ?” Có vẻ như đã qua thời gian dài đằng đẵng kể từ giữa trưa, khi cả nhà ngồi dùng bữa trên mặt cỏ sạch dưới bóng râm của xe goòng.

Bố đáp: “Chưa được. Bây giờ vẫn còn quá sớm để hạ trại.”

Laura nói: “Con muốn hạ trại, bây giờ! Con mệt quá rồi.”

Mẹ nói: “Laura.” Chỉ có thế, nhưng Mẹ có ý nói bé không được cất tiếng than van nữa, tuy rằng trong lòng bé vẫn ấm ức. Bé đành phải ngồi than van với chính mình.

Đôi chân bé tê nhức, và gió không chịu ngừng thổi tung tóc bé. Đồng cỏ cứ thế gợn sóng, xe goòng cứ thế nhồi lắc, tuy vậy trong một thời gian dài không có việc gì khác xảy ra.

Bố nói: “Chúng ta sắp đến một con lạch hoặc một con sông. Này các con, có thấy cây cối trước mặt không?”

Laura đứng dậy và nắm lấy một thanh khung xe goòng. Xa về phía trước, bé thấy một vệt thấp sẫm mầu.

Bố nói: “Đấy là những cây to. Con có thể nhận ra qua hình dạng của bóng râm. Ở vùng này, có cây to tức là có nước. Đấy là chỗ chúng ta sẽ hạ trại tối nay.”

Vượt sông

Hai con Pet và Patty bắt đầu nhanh nhẹn phi nước kiệu như thể chúng cũng lấy làm vui. Laura nắm chặt lấy một thanh khung xe goòng và đứng dậy trên cỗ xe lắc lư. Nhìn qua vai Bố và xa về phía trước những gợn sóng của cỏ xanh, bé có thể thấy cây cối, và chúng không giống bất kỳ loại cây nào bé đã từng thấy trước đây. Những cây này không cao hơn cây bụi là bao.

Thình lình Bố ra hiệu lệnh cho đôi ngựa: “Họ!” Rồi Bố lẩm bẩm với chính mình: “Bây giờ đi ngã nào?”

Con đường chia làm hai ngã ở đây, và bạn không thể nhận ra người ta đã đi theo ngã nào nhiều hơn. Cả hai con đường đều là những vệt xe lờ mờ trên mặt cỏ. Một đường đi về hướng tây, đường kia dốc xuống một chút về hướng nam. Hai con đường nhanh chóng biến mất vào lớp cỏ cao đang lay động.

Bố quyết định: “Bố nghĩ tốt hơn là nên đi xuống triền đồi. Con sông ở dưới vùng đất trũng. Đây hẳn phải là đường đi đến điểm vượt sông.” Rồi Bố điều khiển cho Pet và Patty đi về hướng nam.

Con đường đi xuống rồi đi lên rồi đi xuống và đi lên trở lại, qua vùng đất hơi ngoằn nghoèo. Bây giờ cây cối đã gần hơn, nhưng vẫn không cao hơn. Rồi Laura há hốc miệng và nắm chặt lấy một thanh khung xe goòng, vì hầu như ngay dưới mũi của Pet và Patty không còn có cỏ và cũng không có đất gì cả. Bé đang nhìn xa hơn rìa của mặt đất và nhìn xa hơn nữa, qua các ngọn cây.

Con đường rẽ ở đây. Nó đi dọc đỉnh vách đất một đoạn ngắn, rồi ngoặt ngay xuống dưới. Bố dừng xe lại; Pet và Patty tự trụ lại phía sau và gần như ngồi bẹp xuống. Các bánh xe trượt tới, từ từ hạ cỗ xe xuống xa hơn trên triền dốc đứng cho đến mặt đất. Vách đất đỏ trơ trụi và lởm chởm dâng lên hai bên xe goòng. Cỏ lượn sóng dọc theo đỉnh vách, nhưng không có gì mọc được ở hai bên vách đất dựng đứng. Vách đất tỏa hơi nóng làm rát mặt Laura. Gió vẫn còn đang thổi phía trên đầu, nhưng không thổi xuống khe sâu trong lòng đất này. Sự tĩnh lặng trông dường lạ lẫm và trống không.

Rồi chiếc xe goòng được ngang bằng trở lại. Khe đất hẹp theo đó chiếc xe đi xuống đã mở ra một khoảnh đất ở đáy. Ở đây, cây cối mọc cao lên, mà từ thảo nguyên bên trên Laura đã nhìn thấy phần ngọn các cây này. Những lùm cây tạo bóng mát rải rác đây đó trên đồng cỏ gợn sóng, và dưới những lùm cây này đàn nai đang nằm, mà người ta khó nhận ra được trong các bóng râm. Đàn nai quay đầu nhìn về phía xe goòng, và những nai con tò mò đứng dậy để nhìn cho rõ hơn.

Laura ngạc nhiên vì không trông thấy con sông. Nhưng khoảnh đất ở đáy thì rộng. Ở vùng dưới này, phía dưới thảo nguyên, có những ngọn đồi thoai thoải và những khoảnh đất đón ánh mặt trời. Không khí tĩnh lặng và nóng. Đất mềm dưới bánh xe. Trên những mảng có ánh nắng thì cỏ mọc thưa thớt, vì đàn nai đã tỉa ngắn.

Trong một chốc, vách đất đỏ trơ trụi vươn thẳng đứng lên phía sau cỗ xe. Nhưng khi Pet và Patty dừng lại để uống nước từ con sông thì hầu như họ bị che khuất phía sau các ngọn đồi và cây cối.

Tiếng nước róc rách tràn ngập bầu không gian yên tĩnh. Dọc dài theo hai bờ sông, cây cối vươn lơ lửng trên cao và tỏa bóng râm làm cho con sông tối đi. Ở giữa dòng, nước chảy xiết, sủi thành bọt ánh bạc và lam.

Bố nói: “Con sông này khá sâu. Nhưng anh nghĩ mình có thể qua được. Nhờ những vệt bánh xe cũ, ta có thể thấy đây là điểm vượt sông. Caroline à, em nghĩ sao?”

Mẹ đáp: “Charles, anh nói sao cũng được.”

Pet và Patty hỉn đầu mũi ướt lên. Chúng vểnh hai vành tai về phía trước, nhìn con sông, rồi vểnh hai vành tai về phía sau để nghe Bố nói gì. Hai con vật thở dài rồi chụm đầu mũi mềm vào nhau để cùng nhau thầm thì. Cách một đoạn ngắn phía trên nguồn, Jack đang đánh chiếc lưỡi đỏ xuống làn nước để giải khát.

Bố nói: “Anh sẽ cột nóc xe xuống.” Ông bước xuống, mở tấm bạt ở hai bên ra và cột chặt vào thùng xe. Rồi Bố kéo sợi dây thừng ở phía sau xe để các tấm bạt xếp lại vào nhau ở giữa, chỉ chừa một lỗ tròn rất nhỏ, quá nhỏ nên không thể nhìn xuyên qua được.

Mary rúc xuống giường. Bé không thích điểm vượt sông; bé sợ nước chảy xiết. Nhưng Laura cảm thấy phấn khích; bé thích tiếng nước róc rách.

Bố leo lên ghế ngồi, nói: “Ở giữa dòng ngoài kia chúng có thể phải bơi. Nhưng Caroline à, mình sẽ vượt qua được.”

Laura nghĩ đến Jack và nói: “Bố ạ, con ước gì Jack được ngồi trên xe.”

Bố không trả lời. Ông nắm chặt các sợi dây cương trong tay. Mẹ nói: “Laura à, Jack biết bơi. Nó sẽ ổn thôi.”

Cỗ xe tiến xuống trên lớp bùn mềm. Nước bắt đầu đập lộp bộp vào bốn bánh xe. Rồi tiếng lộp bộp vang to hơn. Cỗ xe lắc lư khi dòng nước ồn ào va phải. Rồi hầu như cùng một lúc cỗ xe nâng lên, thăng bằng lại rồi đong đưa. Cảm giác thật là thú vị.

Vuot song 3

Âm thanh ngưng bặt, và Mẹ nói, giọng sắc lẻm: “Hai con, nằm xuống!”

Nhanh như chớp, Mary và Laura nằm mọp xuống giường. Khi Mẹ nói với giọng như thế, hai chị em làm theo ngay. Mẹ kéo một tấm chăn phủ kín đầu cổ tay chân hai bé.

Mẹ nói: “Nằm yên ở đấy. Đừng cử động.”

Mary không cử động; bé đang run rẩy, đờ người. Nhưng Laura chẳng đặng đừng cười khúc khích một chút. Bé không muốn xem chuyện gì đang xảy ra. Bé có thể nhận biết cỗ xe đang lắc lư tới lui và xoay qua xoay lại; tiếng lộp bộp lại vang lên, rồi lại im bặt. Rồi tiếng Bố khiến cho Laura kinh hãi. Bố nói: “Caroline, nhận lấy này!”

Cỗ xe tròng trành; có một tiếng bộp nặng nề ở một bên. Laura ngồi thẳng dậy và dở tấm chăn ra khỏi đầu.

Bo va 2 ngua boi qua song2

Bố đã biến đâu mất. Mẹ ngồi một mình, hai tay giữ chặt các dây cương. Mary lại giấu mặt dưới tấm chăn, nhưng Laura ngồi lên cao hơn. Bé không thể nhìn thấy bờ sông. Bé không thể nhìn thấy bất kỳ thứ gì phía trước xe goòng, mà chỉ có nước chảy xiết chung quanh. Nổi lên khỏi mặt nước là ba cái đầu: đầu của Pet, đầu của Patty, và đầu nhỏ hơn, ướt đẫm của Bố. Bàn tay của Bố trong nước đang nắm chặt lấy đầu dây cương của Pet.

Laura chỉ nghe loáng thoáng tiếng nói của Bố qua âm thanh nước chảy rào rào. Tiếng nói nghe bình tĩnh và vui vẻ, nhưng bé không nhận ra Bố nói gì. Bố đang nói chuyện với đôi ngựa. Mặt Mẹ tái đi, lộ vẻ kinh sợ.

Mẹ nói: “Laura, nằm xuống.”

Laura nằm xuống. Bé cảm thấy lạnh toát và buồn nôn. Bé nhắm nghiền mắt lại, nhưng vẫn có thể nhìn thấy dòng nước kinh khủng và bộ râu mầu nâu của Bố chìm trong đấy.

Một lúc lâu, thật lâu, cỗ xe lắc lư và đong đưa, Mary khóc không ra tiếng, còn dạ dày của Laura nhộn nhạo thêm. Rồi hai bánh trước va đập, kêu cọt kẹt, và Bố la lên. Cả thân xe giật nẩy, dằn xóc và nghiêng về sau, nhưng bốn bánh đang lăn trên đáy sông. Laura lại ngồi lên, giữ chặt lấy ghế ngồi; bé thấy hai thăn lưng ướt đẫm của Pet và Patty đang leo lên một bờ dốc. Bố chạy bên cạnh hai con vật, la lên. “Này, Patty! Này, Pet! Đi lên! Đi lên! Cố lên! Hai con gái ngoan!”

Lên đến đỉnh bờ sông, hai con vật đứng yên, thở hồng hộc, nước đang nhỏ giọt. Và cỗ xe đứng yên, đã được an toàn thoát ra khỏi dòng nước.

Bố cũng đứng thở dốc và sũng nước, còn Mẹ nói: “Ôi! Charles!”

Bố nói: “Nào, nào, Caroline. Ta đã bình an, nhờ thùng xe vững chắc cột vào sức kéo giỏi. Trong đời anh chưa từng thấy con sông nào dâng lên nhanh như thế. Pet và Patty bơi giỏi, nhưng anh nghĩ chúng không qua được nếu không có anh giúp.”

Nếu Bố không biết làm gì, hoặc nếu Mẹ quá hoảng sợ mà không điều khiển được, hoặc nếu Mary và Laura không ngoan mà cứ làm phiền hà, thì tất cả đã gặp nạn. Dòng nước hẳn đã cuốn trôi và nhấn chìm tất cả, và không ai biết được số phận của họ. Có lẽ trong nhiều tuần tới vẫn không có người nào khác đi qua con đường này.

Bố nói: “Chuyện gì kết thúc tốt đẹp thì xem như nó tốt đẹp.” Và Mẹ nói: “Charles à, anh ướt như chuột lột kìa.”

Trước khi Bố kịp trả lời, Laura thốt lên: “Ôi thôi, Jack đâu rồi?”

Bố Mẹ đã quên Jack. Hai người đã bỏ nó lại phía bên kia dòng nước hung hãn ấy và bây giờ không thấy nó đâu hết. Đáng lẽ nó đã cố lội theo họ, nhưng bây giờ họ không thấy nó vẫy vùng trong nước.

Laura cố nén để không khóc. Bé biết khóc là đáng xấu hổ, nhưng trong lòng bé đang khóc. Suốt chặng đường dài từ Wisconsin, con Jack tội nghiệp đã chạy theo họ một cách kiên trì và trung thành, vậy mà bây giờ họ để cho nó chết đuối. Nó đã quá mệt; đáng lẽ đã phải cho nó lên xe. Nó đã đứng trên bờ sông và nhìn chiếc xe rời xa, như thể không ai ngó ngàng gì đến nó cả. Và nó chưa bao giờ hiểu họ thương nó như thế nào.

Bố phân trần đáng lẽ ông đã không làm như thế đối với Jack, dù có ai cho cả triệu đô la. Nếu ông đã biết dòng nước chảy xiết như thế nào khi họ ra đến giữa dòng, thì hẳn ông đã không bao giờ để cho Jack tự bơi. Bố nói: “Nhưng đã lỡ rồi.”

Bố đi lên đi xuống dọc bờ sông để tìm kiếm Jack, kêu tên nó và huýt sáo để gọi nó.

Không có kết quả. Jack đã mất tăm.

Cuối cùng, không thể làm gì được mà phải tiếp tục đi thôi. Pet và Patty đã nghỉ ngơi. Quần áo Bố đã khô trong khi lùng kiếm Jack. Bố lại cầm dây cương và điều khiển cho đôi ngựa chạy lên triền đồi, ra khỏi khu đất trũng dọc bờ sông.

Laura luôn nhìn ngoái lại phía sau. Bé biết mình sẽ chẳng trông thấy Jack nữa, nhưng bé vẫn muốn cố nhìn. Bé không thấy gì cả ngoại trừ những đường cong của đất giữa cỗ xe và con sông, và bên kia sông là những vực đất đỏ lạ kỳ lại vươn lên.

Rồi lại có những dốc đứng giống như thế phía trước cỗ xe. Những vệt bánh xe lờ mờ đi vào một khe nứt giữa những bức tường đất ấy. Pet và Patty leo lên cho đến khi khe nứt mở ra thành một thung lũng nhỏ có cỏ mọc. Và thung lũng lại mở rộng ra vùng Đại Thảo nguyên một lần nữa.

Không thấy đường sá gì cả, thậm chí cũng không có vệt bánh xe hoặc vó ngựa đi qua dù là lờ mờ nhất. Thảo nguyên này trông như thể mắt người chưa từng nhìn thấy nó. Chỉ có cỏ cao hoang dã bao phủ lấy vùng đất trống không vô tận và bầu trời bao la trống không cong vòng trên cao. Xa thật xa, rìa mặt trời chạm đến vành trái đất. Mặt trời trông thật to, đang rung động và nở ra co vào với ánh sáng. Quanh cả rìa bầu trời là một ánh hồng nhạt, và bên trên mầu hồng là mầu vàng, trên đó là mầu lam. Trên mầu lam thì bầu trời không có mầu gì khác. Những bóng râm tím đang tụ hội trên mặt đất, và gió đang vọng lên âm thanh não nề.

Bố ghìm cương hai con ngựa thảo nguyên lại. Bố và Mẹ bước xuống để hạ trại; Mary và Laura cũng leo xuống đất.

Laura tha thiết nói: “Mẹ ạ, Jack đã lên thiên đường, phải không? Nó là con chó ngoan, có thể nào nó lên thiên đường không?”

Mẹ không biết trả lời ra sao, nhưng Bố nói: “Đúng, Laura à, có thể được. Thượng Đế đã không quên các con chim sẻ thì không để một con chó ngoan như Jack ở bên ngoài lạnh lẽo.”

Laura chỉ cảm thấy dễ chịu hơn một tí. Bé không vui. Bố không huýt sáo khi làm việc như ngày thường. Sau một lúc, Bố nói: “Bố không biết ta sẽ làm gì được giữa một vùng hoang dã mà không có chó giữ nhà giỏi.”

Hạ trại trên Thảo nguyên Cao

Bố hạ trại theo cách thường lệ. Đầu tiên, Bố tháo hai con Pet và Patty ra, cởi yên cương, rồi cột chúng vào dây cọc, thay cho chức năng của hàng rào. Dây cọc là những dây thừng dài buộc chặt vào những móc sắt đóng xuống đất. Những móc sắt này được gọi là cọc rào. Khi ngựa được cột vào cọc rào, chúng có thể ăn cỏ trong phạm vi mà chiều dài dây cọc cho phép chúng đi xa. Nhưng khi Pet và Patty được cột như thế, việc đầu tiên chúng làm là nằm xuống, rồi lăn qua lăn lại. Chúng lăn cho đến khi cảm giác khó chịu về yên cương trên lưng chúng tan biến.

Trong khi Pet và Patty đang lăn, Bố nhổ hết cỏ từ một khoảnh đất rộng, hình tròn. Dưới cỏ xanh có cỏ khô, và Bố không muốn tạo rủi ro gây hỏa hoạn trên thảo nguyên. Nếu một khi lửa bén cỏ khô, cả vùng sẽ bùng cháy đến mức trơ trụi và đen đúa. Bố bảo: “Cẩn tắc vô ưu – thận trọng bây giờ thì đỡ phiền hà về sau.”

Ha trai trong dem

Khi khoảnh đất đã sạch cỏ, Bố đặt một nắm cỏ khô ở giữa. Từ khu đất trũng dọc bờ sông Bố đã mang lên một ôm những cành và gỗ chết. Phía trên nắm cỏ khô, Bố xếp những cành nhỏ, rồi đến những cành lớn và những mảnh gỗ, rồi Bố châm lửa vào cỏ khô. Ngọn lửa kêu lách tách vui tai bên trong khoảnh đất đã được nhổ hết cỏ và không thể lan ra bên ngoài.

Sau đó Bố đi xuống sông để lấy nước, trong khi Mary và Laura phụ giúp Mẹ chuẩn bị bữa ăn. Mẹ đong hạt cà phê vào cối xay cà phê và Mary phụ giúp xay. Laura rót nước Bố mang đến vào bình cà phê, và Mẹ đặt bình lên than hồng. Mẹ cũng đặt lò nướng bánh bằng sắt lên than hồng.

Trong khi chờ lò nướng đủ nóng, Mẹ trộn bột bắp với muối trong nước và nặn thành những chiếc bánh nhỏ. Mẹ dùng một miếng mỡ thoa bên trong lò nướng bánh, đặt những chiếc bánh bột bắp vào, và lấy nắp sắt đậy lên. Rồi Bố gắp thêm than đặt lên nắp lò nướng, trong khi Mẹ thái thịt lợn muối. Mẹ rán những miếng thịt trên con nhện sắt. Đấy là tấm sắt có những chân ngắn chống lên trong than, vì thế mà nó được gọi là con nhện. Nếu không có chân thì nó chỉ là cái chảo rán thông thường.

Cà phê đã sôi, bánh đã được nướng, thịt đã được rán, và món nào cũng tỏa mùi thơm lừng đến nỗi Laura thấy đói và đói cồn cào thêm.

Bố đặt băng ghế của cỗ xe gần đống lửa. Bố Mẹ ngồi trên băng ghế ấy. Mỗi người có một đĩa thiếc, một con dao thép và một chiếc nĩa thép với cán bằng xương trắng. Mẹ có một cốc thiếc, Bố có một cốc thiếc, em bé Carrie có một cốc nhỏ cho riêng mình, nhưng Mary và Laura phải dùng chung một cốc thiếc. Hai chị em uống nước. Đợi khi lớn lên rồi hai bé mới được uống cà phê.

Trong khi gia đình dùng bữa, những cái bóng mầu tím bao vây chung quanh ngọn lửa trại. Khu thảo nguyên mênh mông tối tăm và tĩnh lặng. Chỉ có gió lén lút thổi luồn qua trảng cỏ, và những vì sao to lơ lửng thấp lấp lánh từ bầu trời bao la.

Ngọn lửa trại tạo không khí ấm cúng trong khoảng tối đen mênh mông, lạnh lẽo. Các miếng thịt lợn dòn tan và béo ngậy; bánh mỳ bột bắp thơm ngon. Trong bóng tối phía ngoài xe goòng, Pet và Patty cũng đang dùng bữa. Chúng cắn lấy những nắm cỏ nghe rào rạo sắc lẻm.

Bố nói: “Mình hạ trại ở đây một hoặc hai ngày. Có lẽ mình sẽ lưu lại đây luôn. Đất ở đây tốt, dưới vùng trũng có cây gỗ, nhiều thú rừng — mọi thứ mình mong muốn. Caroline à, em nghĩ sao?”

Mẹ đáp: “Nếu mình đi xa hơn có thể thấy xấu hơn.”

Bố nói: “Dù sao thì ngày mai anh sẽ đi xem một vòng. Anh sẽ mang theo súng để kiếm một ít thịt tươi.”

Bố đốt tẩu thuốc bằng một viên than hồng, và duỗi đôi chân một cách thoải mái. Mùi thuốc lá nâu ấm hòa lẫn với hơi ấm của ngọn lửa. Mary ngáp, trượt xuống khỏi càng xe để ngồi trên thảm cỏ. Laura cũng ngáp. Mẹ nhanh chóng rửa các đĩa thiếc, cốc thiếc, dao và nĩa. Mẹ rửa lò nướng bánh và con nhện, rồi giặt khăn lau.

Trong một lúc Mẹ đứng yên, lắng nghe tiếng tru dài, rền rĩ từ vùng thảo nguyên tối tăm. Mọi người đều biết đấy là tiếng gì. Nhưng âm thanh ấy luôn khiến cho Laura lạnh xương sống và rụt cổ lại.

Mẹ vẩy tấm khăn lau đĩa, đi ra khoảng tối tăm và trải tấm khăn lên lớp cỏ cao để hong khô. Khi Mẹ quay lại, Bố nói: “Chó sói đấy. Anh đoán khoảng nửa dặm. Tốt thôi, nơi nào có nai thì cũng có chó sói. Anh ước gì—”

Bố không nói hết mình ước gì, nhưng Laura hiểu. Bố ước gì Jack còn ở đây. Ở Rừng Đại Ngàn, khi chó sói tru thì Laura luôn biết rằng Jack sẽ không cho chúng làm hại bé. Cổ họng bé nghẹn lại, sống mũi đau nhức. Bé chớp chớp mắt nhưng không khóc. Con sói ấy, hoặc có lẽ là con sói khác, lại cất tiếng tru.

Mẹ vui vẻ nói: “Đã đến giờ các cô gái nhỏ đi ngủ!” Mary đứng dậy và quay người để Mẹ giúp thay trang phục. Nhưng Laura nhảy dựng lên rồi đứng yên. Bé đã trông thấy cái gì đấy. Xa bên ngoài bóng tối, hai đốm ánh sáng xanh lục đang chiếu gần nền đất. Đấy là hai con mắt.

Xương sống Laura lạnh toát, da đầu lăn tăn, tóc dựng cả lên. Hai đốm sáng mầu lục di chuyển; một đốm nhấp nháy, rồi đốm kia nhấp nháy, rồi cả hai đốm cùng tỏa sáng, tiến đến gần hơn.

Laura gọi: “Nhìn kìa, Bố, nhìn kìa. Một con chó sói!”

Có vẻ như Bố không hành động nhanh nhẹn, nhưng Bố thật sự nhanh nhẹn. Ngay lập tức Bố rút khẩu súng trên xe goòng ra và sẵn sàng nhắm bắn hai con mắt ấy. Đôi mắt không đến gần nữa. Đôi mắt vẫn bất động trong bóng tối mà nhìn Bố.

Bố nói: “Không thể là chó sói. Ngoại trừ một con chó sói điên.” Mẹ nhấc Mary đưa lên xe goòng. Bố nói tiếp: “Không những thế. Lắng nghe hai con ngựa xem.” Pet và Patty vẫn tiếp tục gặm cỏ.

Mẹ hỏi: “Có phải mèo rừng không?”Bo cam sung & con cho

Bố nói: “Hoặc là chó sói đồng cỏ?” Bố nhặt lấy một khúc gỗ, thét lớn lên rồi ném khúc gỗ ra. Đôi mắt mầu lục hạ xuống gần mặt đất, như thể con vật cúi mình để lấy trớn phóng lên. Bố cầm vững khẩu súng để sẵn sàng nhả đạn. Con vật vẫn không động đậy.

Mẹ kêu lên: “Charles, đừng!” Nhưng Bố vẫn bước chầm chậm đến hai con mắt ấy. Và trên mặt đất, hai con mắt chầm chậm bò đến phía Bố. Bây giờ thì Laura có thể nhìn thấy con vật ở bên ngoài bóng tối. Nó có bộ lông nâu-vàng và lốm đốm. Rồi Bố thét lên và Laura rú lên.

Chuyện kế tiếp diễn ra như chớp. Laura chỉ biết mình đang cố ôm lấy con Jack nhảy nhót, thở hào hển, thân hình vặn vẹo, thè chiếc lưỡi ấm và ướt liếm khắp mặt mũi và tay chân bé. Laura không ôm được Jack. Nó vẫn nhảy cẫng, luồn lách từ bé đến Bố và Mẹ rồi trở lại với bé.

Bố nói: “Anh hết biết rồi!”

Mẹ nói: “Em cũng thế. Nhưng anh có cần đánh thức em bé không?” Mẹ vừa đong đưa Carrie trong vòng tay vừa dỗ cho em bé ngủ tiếp.

Jack hoàn toàn bình an. Nhưng chẳng bao lâu nó nằm xuống kề bên Laura thở ra một hơi rõ dài. Đôi mắt nó đỏ lên vì mệt mỏi, và toàn thân dưới đều dính bùn đã đặc cứng. Mẹ cho nó một mẩu bánh mỳ bắp. Jack chỉ liếm và quẫy đuôi ra vẻ lịch sự, nhưng không ăn được. Nó quá mệt mỏi.

Bố nói: “Không biết nó phải bơi trong bao lâu, và bơi theo dòng nước đến đâu trước khi lên được tới bờ.” Ấy thế mà khi nó tìm về đến nơi thì Laura lại gọi nó là sói và Bố suýt bắn nó.

Nhưng Jack biết hai người không có ý ấy. Laura hỏi nó: “Em biết không ai có ý ấy, phải không, Jack?” Jach vẫy cái đuôi cụt lủn; nó biết chứ.

Đã quá giờ phải đi ngủ. Bố cột Pet và Patty và hộc thức ăn ở phía sau cỗ xe và cho chúng ăn bắp. Carrie lại ngủ tiếp, còn Mẹ giúp Mary và Laura thay trang phục. Mẹ lần lượt choàng chiếc áo ngủ dài qua đầu mỗi bé trong khi hai bé vươn hai cánh tay vào hai ống tay áo. Hai bé tự cài cúc ở cổ áo, và cột các dải dây của chiếc mũ giữ ấm dưới cằm. Dưới gầm xe goòng, Jack mệt mỏi lượn qua ba vòng, rồi nằm xuống mà ngủ.

Trên xe, Laura và Mary đọc lời cầu nguyện rồi bò vào chiếc giường nhỏ của hai chị em. Mẹ hôn và chúc hai bé ngủ ngon.

Bên ngoài lớp vải bạt, Pet và Patty đang ăn bắp. Khi Petty phì phò vào hộc thức ăn, tiếng phì phò như là sát bên tai Laura. Có những âm thanh chạy rồn rột trong đám cỏ. Trên lùm cây kế bờ sông, một con cú kêu lên nghe như là câu hỏi “A-ai! a-ai?”[C] Xa hơn, tiếng một con cú đáp lại: “U-uu, U-uu.” Xa hơn nữa trên thảo nguyên đàn sói đang tru lên, và dưới gầm xe Jack gầm gừ trong lồng ngực. Bên trong thùng xe, mọi thứ đều bình an và ấm cúng.

Phía trước nóc xe mở ra khung trời, dầy đặc những vì sao to, lơ lửng nhấp nháy. Laura mường tượng Bố có thể với tay chạm đến những vì sao ấy. Bé ước gì Bố có thể nhặt lấy vì sao to nhất đang lơ lửng treo ở sợi dây trên khung trời, để trao cho mình. Laura vẫn thức ráo hoảnh, bé chẳng buồn ngủ gì cả, nhưng bỗng vô cùng kinh ngạc. Ngôi sao to đang nhấp nháy với bé!

Rồi bé thức dậy, vào sáng hôm sau.

Ngày trên thảo nguyên

Những tiếng nói rù rì vọng bên tai Laura, và những hạt bắp đang đổ lạo xạo vào hộc thức ăn. Bố đang cho Pet và Patty ăn sáng.

Bố kêu lên: “Pet, lui lại! Đừng tham ăn. Mày phải biết đến phiên Patty mà.”

Pet dậm chân và cất tiếng hí nhỏ.

Bố lại nói: “Patty, ăn ở đầu kia. Đầu này là của Pet.”

Rồi Patty kêu ré lên một tiếng.

Bố nói: “À há! Bị tợp rồi phải không? Cho biết thân. Đã bảo phải ăn phần bắp bên kia.”

Mary và Laura nhìn nhau và phá lên cười. Hai chị em có thể ngửi được mùi thịt đùi lợn và cà phê, và nghe bánh rán đang vang tiếng xèo xèo. Hai chị em bước ra khỏi giường.

Mary có thể tự thay trang phục, nhưng không thể cài cúc giữa mà phải nhờ Laura cài hộ. Rồi Mary cài hộ tất cả các cúc sau lưng Laura. Hai chị em rửa tay, rửa mặt trong chậu nước bằng thiếc đặt trên bục xe goòng. Mẹ chải cho suông những lọn tóc rối của hai bé, trong khi Bố đi xuống sông lấy thêm nước.

Rồi mọi người ngồi trên thảm cỏ sạch ăn bánh nướng, thịt đùi lợn và mật mía trong chiếc đĩa thiếc đặt trên lòng.

Ngay tren thao nguyen 2

Chung quanh họ, những bóng râm lay động trên thảm cỏ gợn sóng, trong khi mặt trời lên cao dần.

Những con chim chiền chiện đồng đang từ trong những luồng sóng cỏ vừa bay thẳng lên bầu trời xanh trong vắt vừa hót líu lo. Những cụm mây nhỏ, ánh như ngọc trai, đang lững lờ trôi trong bầu không gian xanh thẳm ở trên cao. Trong thảm cỏ, những con chim bé xíu đang nhảy nhót và kêu lên nho nhỏ những tiếng ki-li xít-xít-xít. Bố cho biết chúng là những con sẻ đồng.

Laura kêu đáp lời đàn sẻ đồng: “Ki-li yêu, ki-li! Ki-li chim ơi!”

Mẹ nói: “Laura, ăn đi. Con phải giữ phép lịch sự cho dù cách xa mọi nơi hàng trăm dặm.”

Bố dịu dàng nói: “Caroline à, nơi đây chỉ cách Independence bốn mươi dặm[D], và chắc chắn có khu dân cư gần hơn.”

Mẹ đồng ý: “Được rồi, bốn mươi dặm. Nhưng dù vậy, ca hát ở bàn ăn là tư cách không tốt.” Rồi Mẹ thêm: “Hoặc là trong khi ăn,” bởi vì không có bàn ăn.

Chỉ có thảo nguyên bao la, trống vắng, với đám cỏ lượn lờ theo từng gợn sóng của ánh sáng và khoang tối, bầu trời xanh trên cao, và chim chóc vừa bay lên từ các bụi cỏ vừa hót líu lo bởi vì nắng đang lên. Trên cả vùng thảo nguyên bao la này, không có dấu hiệu nào cho thấy con người đã từng đặt chân đến.

Hai be an tren dong co 2

Giữa tất cả khoảng bát ngát của đất trời chỉ có chiếc xe goòng phủ bạt lẻ loi, nhỏ bé. Kề bên là Bố, Mẹ, Mary, Laura và em bé Carrie đang ăn sáng. Hai con ngựa thảo nguyên đang nhai bắp; riêng con Jack ngồi im, cố kiềm chế để không xin ăn. Laura không được phép cho nó ăn trong khi bé đang ăn, nhưng bé để dành một ít mẩu thức ăn vụn cho nó. Mẹ đã làm một chiếc bánh nướng to cho nó, từ mẻ bột nổi cuối cùng.

Thỏ chạy nhảy khắp cùng trong đám cỏ, thêm hàng nghìn con gà thảo nguyên, nhưng Jack không thể săn đuổi để làm bữa điểm tâm. Bố sẽ đi săn, vì thế Jack phải ở lại canh giữ trại.

Trước tiên Bố cột Pet và Patty vào dây cọc. Rồi Bố lấy chậu gỗ ở một bên hông xe và đổ nước sông vào. Mẹ sẽ giặt quần áo. Rối Bố giắt chiếc rìu bén vào thắt lưng, treo cái sừng đựng thuốc nổ bên cạnh chiếc rìu, cho túi đạn vào túi quần, và cầm lấy khẩu súng.

Bố nói với Mẹ: “Caroline à, em cứ từ từ. Mình chỉ đánh xe đi tiếp khi nào mình muốn. Mình có nhiều thời gian.”

Bố ra đi. Trong một khoảnh khắc còn thấy nửa thân trên của Bố vượt lên đám cỏ cao, rồi hình bóng Bố nhỏ dần và nhỏ dần.

Hai be rua dia 2

Mary và Laura rửa tô đĩa trong khi Mẹ dọn dẹp giường trên xe goòng. Ba mẹ con giúp nhau đặt những tô đĩa sạch cho gọn gàng vào thùng, nhặt tất cả những nhánh cây vương vãi cho vào ngọn lửa, chất gỗ dựa theo một bánh xe. Thế là mọi thứ quanh khu trại được tươm tất.

Mẹ lấy chén đựng xà phòng mềm từ xe goòng. Mẹ vén tà váy lên, xắn hai tay áo, rồi ngồi bên thùng nước trên mặt cỏ. Mẹ giặt những tấm trải giường, áo gối, nội y trắng, xả trong nước sạch rồi trải lên thảm cỏ sạch để phơi khô dưới ánh nắng.

Mary và Laura đi thăm dò chung quanh. Hai chị em không được đi xa khỏi cỗ xe, nhưng cũng đủ thích thú mà chạy nhảy qua lớp cỏ cao, dưới ánh mặt trời và trong gió lộng. Những con thỏ thật to phóng mình phía trước hai chị em, những đàn chim vỗ cánh bay lên rồi lại đáp xuống. Sẻ đồng bay lượn khắp nơi, những chiếc tổ tí hon của chúng nằm trong các bụi cỏ cao. Và đâu đâu cũng có những chú chuột vàng nhỏ có bộ lông sọc nâu.

Bat chuot vang

Những con vật nhỏ này trông mềm mại như nhung, Chúng có mắt tròn sáng, mũi hếch nho nhỏ, những móng nhỏ xíu. Chúng phóng lên từ những miệng hang trên mặt đất, rồi đứng nhìn Mary và Laura. Hai chân sau của chúng gấp lại dưới mông, các móng nhỏ của chân trước co lại trước ngực, trông chúng giống hệt như những khúc gỗ khô cắm trên mặt đất. Chỉ có những đôi mắt là sáng long lanh.

Mary và Laura muốn bắt lấy một con để mang về cho Mẹ. Hết lần này đến lượt khác, hai chị em gần như chộp được một con. Chú chuột vàng cứ đứng thật yên cho đến khi bạn tin chắc lần này mình sắp chộp được nó, rồi khi bạn gần chạm đến nó thì nó đã biến đi. Chỉ còn lại miệng hang tròn của nó trên mặt đất.

Laura cứ chạy và chạy, nhưng không bắt được một chú chuột vàng nào cả. Mary ngồi thật yên kế bên một miệng hang, chờ cho một chú chuột trồi lên, trong khi các chú khác chung quanh vui vẻ chạy nhảy, có những chú ngồi lên mà nhìn đến bé. Nhưng ở miệng hang mà Mary đang rình thì chẳng có chú nào trồi lên cả.

Bat chuot vang.jpg

Khi có một cái bóng lượn lờ trên mặt đất thì tất cả các con chuột vàng biến đi đâu mất. Một con diều hâu đang bay lượn trên đầu. Nó bay thấp đến mức Laura nhận ra con mắt tròn dữ tợn đang nhìn xuống bé. Laura cũng thấy chiếc mỏ nhọn và những móng vuốt hoang dại đang chực chờ đâm bổ xuống. Nhưng con diều hâu chỉ trông thấy Laura và Mary cùng những miệng hang trống trơ trên mặt đất. Nó lượn đi xa, kiếm tìm bữa ăn ở nơi khác.

Rồi cả đàn chuột vàng bé tí lại nhoi lên.

Lúc này đã gần giữa trưa. Mặt trời gần ngay trên đỉnh đầu. Thế là hai chị em Mary và Laura hái một số hoa dại để mang về cho Mẹ, thay vì là một chú chuột vàng.

Mẹ đang gấp lại quần áo đã khô. Những mảnh quần áo mầu trắng còn trắng hơn tuyết, ấm dưới ánh nắng, và tỏa mùi hương như cỏ. Mẹ xếp quần áo trong thùng xe và nhận lấy những cánh hoa. Mẹ chiêm ngưỡng như nhau những cánh hoa cho dù do Mary hoặc Laura tặng, và Mẹ đặt chung những cánh hoa trong một chiếc cốc thiếc đựng đầy nước. Mẹ đặt cốc hoa trên bậc thang xe goòng, để trang trí trại cho đẹp.

Rồi Mẹ cắt đôi chiếc bánh mỳ bắp nguội và phết mật mía. Mẹ đưa một miếng cho Mary và một miếng cho Laura. Đấy là bữa trưa của hai bé, và là bữa ngon miệng.

Laura hỏi: “Mẹ ạ, papoose ở đâu?”

Mẹ nói: “Laura, không được nói khi miệng đầy thức ăn.”

Thế là Laura nhai và nuốt thức ăn xong rồi nói: “Con muốn thấy một papoose.”

Mẹ đáp: “Chao ôi! Cái gì làm cho con muốn thấy người Da đỏ? Chúng ta sẽ được gặp nhiều người. Nhiều hơn là ta mong muốn, lúc ấy Mẹ sẽ không lấy làm ngạc nhiên.”

Mary hỏi: “Họ sẽ không làm hại ta, có phải thế không ạ?” Mary luôn ngoan; chị của bé chẳng bao giờ nói khi miệng đầy thức ăn.

Mẹ đáp: “Đúng. Đừng để ý nghĩ ấy trong đầu các con.”

Laura hỏi: “Mẹ ạ, tại sao Mẹ không thích người Da đỏ?” Và bé le lưỡi bắt lấy một giọt mật mía.

Mẹ đáp: “Mẹ chỉ không thích họ thế thôi; mà đừng liếm ngón tay, Laura.”

Laura hỏi: “Đây là đất của người Da đỏ phải không? Nếu Mẹ không thích họ thì ta đến đất của họ làm gì?”

Mẹ nói mình không biết đây có phải đất của người Da đỏ hay không. Mẹ không biết đường ranh giới Bang Kansas nằm ở đâu. Nhưng dù sao đi nữa, những người Da đỏ sẽ không ở đây lâu. Bố đã nghe một người ở Washington cho biết rằng chẳng bao lâu Lãnh thổ Da đỏ có thể được mở cho dân định cư. Có lẽ nó đã được mở cho dân định cư rồi. Mẹ và hai bé không thể nào biết được, bởi vì Washington quá cách xa.

Sau đó Mẹ lấy chiếc bàn ủi trong thùng xe goòng ra và đặt trên ngọn lửa. Mẹ rảy nước lên bộ áo của Mary, bộ áo của Laura và bộ áo nhỏ của em bé Carrie, và chiếc áo vải trúc bâu của Mẹ có hoa văn là những nhánh cây nhỏ. Mẹ trải một tấm chăn và một tấm phủ giường lên băng ghế xe, rồi ủi các bộ áo.

Em bé Carrie đang ngủ trong xe. Mary và Laura cùng Jack nằm dưới bóng râm kế bên cỗ xe, bởi vì bây giờ ánh nắng đang nóng. Mõm Jack há ra, chiếc lưỡi thè ra ngoài, đôi mắt nhấp nháy lơ mơ ngủ. Mẹ ngân nga hát với chính mình trong khi chiếc bàn ủi làm thẳng thớm những nếp nhăn trên các bộ áo nhỏ. Chung quanh bốn mẹ con cho đến tận bờ rìa mặt đất chỉ có cỏ gợn sóng theo gió. Xa trên cao, một ít cuộn mây trắng nhỏ lững lờ trôi trong bầu không khí xanh mỏng.

Laura cảm thấy rất vui. Gió thổi rì rào một âm điệu trong cỏ. Những con châu chấu vỗ nhẹ kêu soàng soạt từ vùng thảo nguyên bao la.

Một âm thanh vo ve nghe thoang thoảng từ tất cả cội cây ở vùng trũng bên bờ sông. Nhưng tất cả âm thanh này tạo nên một sự tĩnh mịch tuyệt vời, nồng ấm, hạnh phúc. Laura chưa bao giờ thấy nơi nào mà bé yêu thích như nơi này.

Mãi đến khi thức dậy, Laura mới biết mình vừa trải qua một giấc ngủ. Jack đang đứng vẫy cái đuôi cụt lủn. Mặt trời đã hạ thấp, và Bố đang đi về nhà qua thảo nguyên. Laura nhảy lên rồi chạy, và cái bóng dài của Bố kéo dài thêm ra để đón lấy cô trên mặt cỏ gợn sóng.

Bố giơ lên các con thịt cho Laura xem. Bố có một con thỏ, con thỏ lớn nhất mà bé chưa từng thấy, và hai con gà thảo nguyên mái mập mạp. Laura nhảy nhót, vỗ tay, và kêu ré lên. Rồi bé nắm lấy ống tay áo bên kia của Bố và nhảy cũn cỡn qua đám cỏ cao, kế nên ông.

Bố nói với Laura: “Vùng này đầy dẫy thú rừng. Nếu Bố thấy một con nai thì thấy ngay năm mươi con, rồi tuần lộc, sóc, thỏ, đủ loại chim. Dưới sông đầy những cá là cá.”

Bố nói với Mẹ: “Caroline à, anh cho em biết, ở đây có đủ mọi thứ mình muốn. Mình có thể sống như bậc đế vương!”

Bữa ăn chiều ngon tuyệt trần. Gia đình ngồi quây quần bên đống lửa, ăn các loại thịt mềm mại và thơm ngon cho đến khi không ăn thêm được nữa. Đến lúc Laura buông đĩa xuống, bé thở một hơi khoan khái. Bé không còn ước mong thứ gì khác trên đời.

Mầu sắc cuối cùng đang mờ nhạt dần trên khung trời cao rộng, cả vùng đất đang phủ nhiều bóng tối. Đống lửa tỏa hơi ấm dễ chịu bởi vì gió đêm thổi lành lạnh. Những con chim bắt ruồi kêu ảo não từ rặng cây dưới bờ sông. Trong chốc lát, một con chim nhại hót lên, rồi các vì sao ló dạng và chim chóc ngưng bặt.

Cây đàn của Bố vẳng điệu nhạc trong ánh sao. Đôi lúc Bố hát một đoạn, và lúc khác cây đàn hát một mình thay cho Bố. Âm điệu ngọt ngào và văng vẳng nghe xa xôi, cây đàn tiếp tục cất lên:

Hỡi em thân yêu, em yêu quý
Sống mãi trong tim của anh[E]

Những vì sao to, sáng treo lơ lửng trên bầu trời. Chúng hạ thấp và thấp hơn nữa, run rẩy vì âm nhạc.

Laura thở gấp, và Mẹ vội đi đến, hỏi: “Laura con, chuyện gì thế?” Và Laura thầm thì: “Các vì sao đang hát.”

Mẹ nói: “Con đã ngủ gục. Đấy chỉ là tiếng đàn. Đã đến lúc các con gái nhỏ phải đi ngủ.”

Mẹ thay trang phục cho Laura trong ánh lửa, mặc cho bé bộ áo ngủ dài và chiếc mũ giữ ấm, rồi tấn bé trên giường. Nhưng cây đàn vẫn vang âm điệu trong ánh sao. Bầu trời đêm thắm đẫm âm nhạc, và Laura tin chắc rằng một phần những âm hưởng ấy đến từ những vì sao sáng to đang đong đưa xuống thấp trên thảo nguyên.

Ngôi nhà trên thảo nguyên

Sáng hôm sau, Mary và Laura thức dậy trước mặt trời. Hai chị em dùng điểm tâm với cháo bột bắp cùng nước sốt gà thảo nguyên, rồi phụ giúp Mẹ rửa tô đĩa. Bố đang chất mọi thứ khác lên cỗ xe, và thắng hai con Pet và Patty vào xe.

Khi mặt trời lên thì họ đang đi qua khu thảo nguyên. Bây giờ không có đường sá gì cả. Pet và Patty đi qua thảm cỏ, và cỗ xe chỉ để lại hai vệt bánh xe phía sau.

Prairie

Trước giữa trưa. Bố kêu hiệu lệnh cho hai con ngựa: “Họ!” Cỗ xe dừng lại.

Bố nói: “Caroline à, mình tới đây rồi! Mình sẽ xây nhà ở ngay đây.”

Mary và Laura vội trèo qua hộc thức ăn và nhảy xuống đất. Chung quanh hai chị em chỉ có thảo nguyên phủ đầy cỏ trải dài đến tận chân trời.

Khá gần với họ, về hướng bắc, vùng trũng bên bờ sông nằm phía dưới thảo nguyên. Một vài ngọn cây xanh thẫm nhô lên, xa hơn nữa là những mảnh của rìa bờ dốc đất giữ lấy thảm cỏ của thảo nguyên. Xa về hướng đông, một dải đứt đoạn những cây xanh nằm trên thảo nguyên, và Bố cho biết đấy là một con sông rộng.

Chỉ cho Mẹ xem, Bố nói: “Đấy là Sông Verdigris.”

Ngay lập tức, Bố Mẹ bắt đầu dỡ đồ đạc từ trên xe goòng xuống. Hai người lấy ra mọi món và chất trên nền đất. Rồi hai người tháo tấm vải bạt xe goòng ra và đặt trên đống đồ đạc. Rồi họ rút cả thùng xe xuống, trong khi Mary và Laura cùng Jack ngắm nhìn.

Cỗ xe đã là ngôi nhà cư trú trong một thời gian dài. Bây giờ chỉ còn lại bốn bánh xe và phần nối bốn bánh với nhau. Pet và Patty vẫn còn được thắng vào càng xe. Bố cầm lấy một cái xô và chiếc rìu, rồi ngồi lên khung cỗ xe điều khiển đôi ngựa ra đi. Bố đi thẳng xuống thảo nguyên, khuất bóng.

Laura hỏi: “Bố đi đâu rồi hở Mẹ?” Mẹ đáp: “Bố đi chở gỗ từ bờ sông.”

Khi không có cỗ xe goòng trên Thảo nguyên Cao, cảm giác thật là lạ lùng và kinh hãi. Đất và trời trông có vẻ như quá bao la, và Laura thấy mình thật bé nhỏ. Bé muốn ẩn mình thật yên trong lớp cỏ cao, giống như các con gà thảo nguyên nhỏ. Nhưng bé không đi ẩn mình. Bé phụ giúp Mẹ, trong khi Mary ngồi trên thảm cỏ trông nom em bé Carrie.

Đầu tiên Mẹ và Laura làm giường, dưới mái lều bằng tấm vải bạt xe goòng. Rồi Mẹ sắp xếp các thùng và gói, trong khi Laura nhổ tất cả cỏ trên khoảnh đất trước căn lều. Đấy là khoảnh đất trọc để đốt lửa. Nhưng phải chờ cho Bố mang củi về mới đốt lửa được.

Không còn việc gì khác để làm, nên Laura đi thăm dò một chút. Bé không đi xa khỏi căn lều. Nhưng bé tìm thấy một kiểu đường hầm nhỏ trông lạ lùng giữa đám cỏ. Bạn chẳng bao giờ nhận ra nó nếu bạn nhìn qua ngọn cỏ gợn sóng. Nhưng khi bạn đến gần thì thấy ngay – một lối đi hẹp, thẳng, với nền đất cứng giữa các gốc cỏ. Nó dẫn ra bên ngoài thảo nguyên bất tận.

Laura lần theo lối đi một đoạn ngắn. Bé đi chầm chậm, và chậm hơn, rồi đứng yên và cảm thấy lạ lùng. Thế là bé quay người đi nhanh trở lại. Khi bé ngoái nhìn lại qua vai thì không thấy cái gì ở đấy cả. Nhưng bé vội bước đi.

Khi Bố trở về với một xe chở đầy gỗ súc, Laura kể cho ông nghe về lối đi ấy. Bố bảo ngày hôm trước Bố đã thấy lối đi ấy. Bố nói: “Đấy là đường mòn cũ nào đó.”

Tối hôm ấy bên đống lửa, Laura lại hỏi khi nào bé sẽ thấy một papoose, nhưng Bố không biết. Bố cho biết ta không bao giờ gặp người Da đỏ trừ khi họ muốn gặp ta. Hồi còn nhỏ ở Bang New York Bố đã gặp người Da đỏ, nhưng Laura chưa từng gặp. Bé biết họ là những người hoang dã với da mầu đỏ, và rìu của họ được gọi là tomahawk.

Bố biết tất cả về thú hoang dã, nên Bố hẳn phải biết về người hoang dã. Laura nghĩ một ngày nào đấy Bố sẽ cho bé thấy một papoose, cũng như Bố đã cho bé thấy nai con, gấu nhỏ, và chó sói.

Trong nhiều ngày, Bố lo vận chuyển gỗ. Bố làm hai đống gỗ, một cho ngôi nhà và một cho chuồng gia súc. Một con đường bắt đầu hình thành theo đó Bố đánh xe đi đến vùng trũng bên bờ sông và trở về nhiều lần. Vào ban đêm Pet và Patty ăn cỏ trong giới hạn của dây cọc, cho đến khi cỏ chỉ còn trơ lại những gốc.

Bo xay nha 2

Bố khởi đầu với ngôi nhà. Bố bước đi để đo khoảng cách của nền nhà, rồi với chiếc xẻng Bố đào hai rãnh hẹp và cạn dọc hai bên nền ấy. Bố lăn hai súc gỗ to nhất vào hai rãnh này. Đấy là hai súc gỗ vững chắc nhất, bởi vì chúng phải đỡ cả ngôi nhà. Hai súc gỗ này được gọi là dầm móng.

Bố chọn thêm hai súc gỗ chắc và to, lăn lên hai đầu của dầm móng. Thế là bốn súc gỗ tạo thành bốn cạnh của một hình vuông rỗng. Bây giờ với chiếc rìu Bố đẽo một rãnh khuyết sâu ở mỗi đầu của bốn súc gỗ này. Bố đẽo các rãnh khuyết ở mặt trên súc gỗ, nhưng Bố lấy mắt đo các dầm móng để đẽo rãnh khuyết cho vừa khít xuống phân nửa đường kính của dầm móng.

Sau khi đã đẽo xong các rãnh khuyết, Bố lăn súc gỗ phía trên cho hai rãnh khuyết của nó úp xuống. Thế là bốn rãnh khuyết của hai súc gỗ phía trên khớp xuống bốn rãnh khuyết của hai dầm móng phía dưới.

Như vậy là xong phần móng của ngôi nhà. Móng này chỉ cao bằng đường kính một súc gỗ. Hai dầm móng được chôn phân nửa xuống đất, còn hai súc gỗ phía trên nằm sát trên mặt đất và nối khít với hai dầm móng phía dưới. Ở bốn góc nơi các súc gỗ này giao nhau, các rãnh khuyết khít vào nhau nên móng của ngôi nhà vẫn không dầy hơn đường kính một súc gỗ. Và hai đầu của mỗi súc gỗ thò ra ngoài khỏi rãnh khuyết một chút.

Ngày kế tiếp, Bố bắt đầu làm tường. Từ mỗi chiều dọc, Bố lăn một súc gỗ lên, và đẽo một rãnh khuyết ở mỗi đầu sao cho súc gỗ dọc khớp xuống phía trên súc gỗ ngang. Rồi Bố lăn súc gỗ ngang lên, và cũng đẽo rãnh khuyết để súc gỗ ngang khớp xuống phía trên súc gỗ dọc. Bây giờ cả ngôi nhà cao bằng hai đường kính súc gỗ.

Các súc gỗ khớp chặt vào nhau ở bốn góc. Nhưng không có súc gỗ nào thẳng hoàn hảo, và súc gỗ nào cũng có một đầu nhỏ và một đầu to[F], vì thế có những khe hở giữa các súc gỗ dọc theo tường. Nhưng việc này không hề gì, bởi vì Bố sẽ bịt các khe hở này.

Một mình Bố xây căn nhà cao đến ba đường kính súc gỗ. Sau đó Mẹ phụ giúp Bố. Bố nhấc một đầu súc gỗ lên đầu tường, rồi Mẹ giữ lấy nó trong khi Bố nhấc đầu kia lên. Bố đứng trên đầu tường để đẽo các vết khía, còn Mẹ giúp lăn và giữ lấy súc gỗ trong khi Bố đặt nó vào đúng vị trí để làm cho góc được vuông hoàn hảo.

Thế là, từ súc gỗ này đến súc gỗ khác, Bố Mẹ xây bốn bức tường cao dần lên, cho đến lúc tường khá cao và Laura không thể leo qua tường được nữa. Laura đã chán nhìn Bố Mẹ xây nhà, nên bé đi ra trảng cỏ để khám phá. Thình lình Laura nghe Bố hét to: “Buông ra! Tránh ra phía dưới.”

Suc go de Me

Súc gỗ to và nặng đang lăn xuống. Bố đang cố níu lấy một đầu súc gỗ, để không cho nó rơi xuống người Mẹ. Nhưng Bố giữ không nổi. Súc gỗ đổ ập xuống. Mẹ nằm cuộn tròn trên mặt đất.

Laura vội chạy đến Mẹ trong khi Bố vội nhảy xuống. Bố quỳ kế bên, với giọng kinh hãi kêu Mẹ, và Mẹ hổn hển nói: “Em ổn.”

Súc gỗ đang đè lên bàn chân Mẹ. Bố nhấc súc gỗ lên và Mẹ kéo chân ra. Bố lần mò xem có xương nào bị gãy hay không.

Bố nói: “Em cử động tay xem. Lưng em có đau không? Em quay đầu được không?” Mẹ cử động hai cánh tay và quay đầu.

Bố nói: “Tạ Ơn Trời.” Bố dìu Mẹ ngồi dậy. Mẹ lại nói: “Em ổn, Charles ạ. Chỉ là bàn chân thôi.”

Bố nhanh nhẹn tháo chiếc giầy và bít tất của Mẹ ra. Bố nắn khắp bàn chân, lay chuyển cổ chân, mu bàn chân và tất cả các ngón. Bố hỏi: “Em đau lắm không?”

Da mặt Mẹ hơi tái đi, miệng mím lại. Mẹ nói: “Không đau lắm.”

Bố nói: “Không có xương nào bị gãy. Chỉ bị bong gân.”

Mẹ vui vẻ nói: “Bong gân thì khỏi nhanh thôi. Charles à, anh đừng lo lắng.”

Bố nói: “Chỉ tại anh. Đáng lẽ anh phải dùng thanh trượt.”

Bố dìu Mẹ đi vào căn lều. Bố đốt lửa để đun nước. Khi nước nóng đến mức Mẹ chịu được, Mẹ nhúng chân bị sưng vào.

Quả là do Ơn Trên mà chân Mẹ không bị dập nát. Chỉ một chỗ lõm nhỏ trên mặt đất đã cứu tai họa này.

Bố rót thêm nước nóng vào chậu Mẹ đang ngâm chân. Da chân đỏ lên do nước nóng, và cổ chân phù bắt đầu ngả mầu tím. Mẹ nhấc chân ra khỏi chậu nước, dùng những mảnh vải bó chặt chung quanh cổ chân. Mẹ nói: “Em tự lo được.”

Mẹ không thể mang giầy vào chân bị thương. Nhưng Mẹ bó thêm vải quanh bàn chân, và phải đi khập khễnh. Mẹ vẫn nấu bữa chiều như bình thường, chỉ chậm hơn một chút. Nhưng Bố nói Mẹ phải chờ cho cổ chân lành lặn thì bà mới phụ giúp xây nhà tiếp được.

Bố đẽo những thanh trượt. Đấy là những phiến gỗ dài, dẹt. Một đầu chống trên mặt đất, đầu kia tựa lên tường gỗ súc. Bố sẽ không nâng thêm súc gỗ lên; Bố Mẹ sẽ lăn súc gỗ trên những thanh trượt ấy.

Me ngam chan B

Nhưng cổ chân của Mẹ vẫn chưa lành. Vào buổi tối khi Mẹ tháo vải băng ra để ngâm chân trong nước nóng, da cổ chân toàn mầu tím, đen, xanh và vàng. Ngôi nhà đang dở dang phải chờ đợi để được hoàn tất sau.

Rồi một buổi chiều, Bố trở về theo con đường từ bờ sông, miệng huýt sáo vui vẻ. Cả nhà không nghĩ Bố đi săn về sớm thế. Khi thấy cả nhà, Bố kêu to lên: “Có tin vui!”

Nhà có một người láng giềng, chỉ cách hơn ba cây số ở phía bên kia sông. Bố đã gặp anh này trong rừng. Hai người sẽ vần công cho nhau, như thế mỗi bên đều được thuận lợi.

Bố nói: “Anh ấy còn độc thân, và anh ấy cho biết có thể chịu đựng cuộc sống không nhà còn giỏi hơn em và các con gái. Thế là anh ấy sẽ giúp mình trước. Rồi khi anh ấy có đủ gỗ súc, anh sẽ đi giúp anh ấy.”

Gia đình không phải chờ đợi lâu hơn nữa để có ngôi nhà, và Mẹ không cần phải phụ giúp.

Bố vui vẻ hỏi: “Caroline à, em thích thế không?”

Mẹ đáp: “Charles, tốt lắm. Em thấy vui.”

Sáng sớm hôm sau, chú Edwards đến. Chú người mảnh khảnh và cao, có nước da nâu. Chú cúi chào Mẹ và gọi Mẹ là “Bà” một cách lịch sự. Nhưng chú nói với Laura rằng chú là một tay bạt mạng ở Bang Tennessee. Chú mang đôi ủng cao, mặc một bộ áo liền quần tả tơi, đội mũ lông chồn, và chú có thể phun nước thuốc lá đi xa hơn bất kỳ ai khác mà Laura từng tưởng tượng ra. Chú còn có thể phun nước bọt trúng bất kỳ thứ gì mà chú nhắm tới. Laura đã thử đi thử lại, nhưng bé không thể phun nước bọt đi xa hoặc chính xác như chú Edwards.

Chú Edwards làm việc nhanh nhẹn. Chỉ trong một ngày, Bố và chú đã xây các bức tường cao đến mức Bố mong muốn. Hai người cười đùa và ca hát trong khi làm việc, và hai chiếc rìu của họ làm những mảnh gỗ tung bay.

Ở phần trên các bức tường, hai người làm một khung mái gồm những thanh gỗ nhỏ. Họ cắt một khung cao để làm cửa ra vào ở bức tường hướng nam, rồi họ cắt hai khung vuông để làm cửa sổ ở bức tường hướng tây và bức tường hướng đông.

Laura nóng lòng muốn xem bên trong ngôi nhà. Ngay sau khi khung cao vừa được cắt, bé vội chạy vào trong. Mọi thứ đều có sọc ở đây. Những sọc tia nắng chiếu vào qua những khe hở trên tường hướng đông, và những sọc của bóng râm lan tỏa xuống từ những thanh gỗ phía trên. Những sọc bóng râm và sọc ánh nắng chạy dọc ngang trên tay chân của Laura. Và qua những khe hở giữa các súc gỗ, bé có thể thấy những sọc của thảo nguyên. Mùi ngọt dịu của thảo nguyên hòa lẫn với mùi ngọt dịu của gỗ tươi.

Khi Bố cắt bỏ những đoạn súc gỗ để làm thành ô cửa sổ trên tường hướng tây, từng mảng ánh nắng tràn vào. Khi Bố làm xong, một khối ánh nắng to soi rọi trên nền đất bên trong ngôi nhà.

Chung quanh ô cửa ra vào và hai ô cửa sổ, Bố và chú Edwards đóng những tấm ván gỗ mỏng lên đầu các súc gỗ nơi các đoạn súc gỗ đã được cắt ra. Căn nhà đã được hoàn thiện, ngoại trừ mái nhà. Các bức tường đều chắc chắn, ngôi nhà rộng rãi, rộng hơn nhiều so với căn lều. Đấy là một ngôi nhà đẹp.

Chú Edwards nói muốn ra về ngay, nhưng Bố Mẹ mời chú ở lại dùng bữa chiều. Mẹ đã chuẩn bị cho một bữa ăn đặc biệt bởi vì nhà có khách.

Có món thỏ rừng hầm dùng với bánh bao bột trắng và nhiều nước sốt. Có bánh mỳ bắp được nướng với mỡ lợn nóng sốt. Có mật mía để dùng với bánh mỳ bắp, nhưng vì đây là bữa ăn chiều có khách Mẹ không cho mật mía vào cà phê. Mẹ mang ra một gói nhỏ đựng đường mầu nâu nhạt mua ở cửa hiệu.[G]

Chú Edwards nói chú thật lòng thấy bữa ăn rất ngon.

Rồi Bố mang chiếc vĩ cầm ra.

Chú Edwards nằm duỗi người trên cỏ để thưởng thức. Nhưng trước tiên Bố chơi đàn cho Mary và Laura. Bố đàn bài hát hai chị em thích, và hai chị em hát theo. Laura thích bài hát này nhất bởi vì trong bài hát này giọng hát của Bố trầm xuống, trầm, trầm, và trầm thêm.

Ha, ta thuộc hoàng tộc Gypsy!
Ta đi, ở nơi đâu có ai bì
Vương miện ta vứt không đội đầu
Xem trời cùng đất chẳng là chi.

Rồi giọng của Bố trầm xuống, trầm xuống, trầm xuống nữa, và trầm hơn cả con ễnh ương già nhất.

Ha,
  ta
    thuộc
      Hoàng
        tộc
          Gyp-
            sy![H]

Mọi người cười vang. Laura cười mãi mà không nín được.

Bé kêu lên: “Bố ạ, hát lại, hát lại đi!” rồi bé kịp nhớ ra rằng trẻ con chỉ được dòm ngó chăm sóc chứ không được nói. Nên bé lại im lặng.

Bố tiếp tục kéo đàn, và mọi thứ dường như nhảy theo điệu nhạc. Chú Edwards chống người trên một cánh tay, rồi ngồi lên, rồi nhảy dựng lên và nhảy múa. Chú nhảy như một con lật đật dưới ánh trăng, trong khi cây đàn của Bố đang tấu lên âm điệu rộn ràng và Bố dậm chân trên nền đất, Mary và Laura cùng vỗ tay và chân hai chị em cũng dậm theo nhịp.

Nhay mua.jpg

Chú Edwards thốt lên khen ngợi Bố: “Anh là tay vĩ cầm điên dại nhất mà tôi từng gặp!” Chú vẫn nhảy không ngừng; Bố vẫn đàn không ngừng. Bố kéo đàn các bản Money Musk [Làng Monymusk] rồi đến bản Arkansas Traveler [Người lữ hành Arkansas], rồi qua Irish Washerwoman [Chị thợ giặt Ai-len] và đến bản The Devil’s Dream [Giấc mộng của quỷ].

Bé Carrie không ngủ được với âm nhạc vui nhộn như thế. Bé ngồi lên trong lòng Mẹ, đôi mắt tròn xoe nhìn chú Edwards, cũng vỗ tay và cười tít.

Ngay cả đống lửa cũng nhảy múa, và chung quanh, các bóng cũng nhảy múa. Chỉ có ngôi nhà mới đứng lặng yên trong bóng tối, cho đến khi vầng trăng lên cao, soi rọi xuống những bức tường xám của ngôi nhà và những dăm gỗ vàng vương vãi chung quanh.

Chú Edwards nói đến lúc phải ra về. Quãng đường khá dài về trại của chú, phía bên kia khu rừng và con sông. Chú cầm lấy khẩu súng, chúc Mẹ, Mary và Laura ngủ ngon. Chú cho biết người độc thân như chú quả là cô độc, và chú thật sự lấy làm vui trong buổi tối có không khí gia đình như thế này.

Chú nói: “Ingalls, kéo đàn nữa đi! Kéo đàn tiễn tôi đi về cuối đường!” Thế là trong khi chú đi theo con đường dẫn xuống sông và từ từ khuất dạng, Bố kéo đàn, trong khi Bố cùng chú Edwards và Laura cất tiếng hát vang.

Dan Tucker là một ông bô giai
Ông rửa mặt mũi trong nồi ngô khoai
Ông chải tóc tai bằng một bánh xe
Cây tăm chọc chết trong giầy nguy tai

Hãy tránh né lối cho Dan Tucker
Ông ta đã tới không kịp bữa trưa!
Bữa trưa xong hết đã dọn sạch bong
Chỉ còn trái bí để ruột trống không

Dan Tucker đi vào thị trấn xưa
Cưỡi con lừa nhỏ lông mọc lưa thưa…

Vang xa trên thảo nguyên tiếng hát to của Bố và tiếng hát nhỏ của Laura, và văng vẳng từ vùng trũng bên bờ sông vọng lại tiếng hát của chú Edwards.

Hãy tránh né lối cho Dan Tucker
Ông ta đã tới không kịp bữa trưa!

Khi tiếng đàn của Bố dứt, không ai còn nghe tiếng hát của chú Edwards nữa. Chỉ có tiếng gió xào xạc qua thảm cỏ thảo nguyên. Vầng trăng tròn đang lửng lơ tỏa ánh vàng trên đầu. Bầu trời phủ đầy ánh sáng che lấp hết các vì sao, cả vùng thảo nguyên đẫm hương vị ngọt dịu trong tranh tối tranh sáng.

Rồi từ khu rừng bên bờ sông, một con chim sơn ca bắt đầu cất tiếng hót.

Vạn vật đều tĩnh lặng, lắng nghe điệu hót của con chim sơn ca. Nó vẫn hót và tiếp tục hót. Cơn gió lành lạnh thổi qua thảo nguyên; tiếng hót vo tròn và trong trẻo lướt trên thảm cỏ đang thầm thì. Vòm trời trông giống một cái bát ánh sáng khổng lồ úp ngược trên vùng đất sẫm phẳng lì.

Tiếng hót chấm dứt. Không ai cử động hoặc nói năng gì. Mary và Laura im lìm; Bố và Mẹ ngồi bất động. Chỉ có gió lung lay và thảm cỏ phát tiếng rì rào. Rồi Bố nhấc cây đàn lên vai, kéo nhẹ cây vĩ trên các sợi dây đàn. Một ít nốt nhạc rơi như những giọt nước trong lành vào chốn tĩnh mịch. Một khoảng lặng, rồi Bố kéo đàn thành bài hát của chim sơn ca. Con chim lại bắt đầu cất tiếng. Nó hót theo tiếng đàn của Bố.

Khi các sợi dây đàn ngừng tiếng, con chim tiếp tục hót. Khi nó ngừng, tiếng đàn cất tiếng gọi mời, và nó lại hót lên. Con chim và cây đàn hòa điệu với nhau dưới ánh trăng trong đêm lành lạnh.

Dời vào nhà mới

Sáng hôm sau, Bố bàn với Mẹ: “Anh đã xây xong tường, mình nên dọn vào và cố thích ứng khi chưa có sàn nhà hoặc những tiện nghi khác. Anh phải xây chuồng càng nhanh càng tốt để Pet và Patty cũng có chỗ trú ngụ. Đêm qua anh nghe chó sói có vẻ như tru từ mọi hướng, và cũng khá gần.”

Mẹ nói: “Anh có súng, nên em không lo gì cả.”

Bố nói: “Ừ, và còn có con Jack. Nhưng anh sẽ an tâm hơn khi em và các con ở giữa bốn bức tường chắc chắn.”

Indian huts

Mẹ hỏi: “Anh có đoán được tại sao mình chưa gặp người Da đỏ nào không?”

Bố thản nhiên trả lời: “À, anh không biết. Anh đã thấy lều trại của họ giữa những dốc đất đứng. Anh đoán họ đang đi săn nơi xa.”

Rồi Mẹ gọi: “Các con! Mặt trời lên rồi!” Mary và Laura nhảy ra khỏi giường và thay trang phục.

An sang

Mẹ múc phần thịt thỏ rừng hầm cuối cùng vào đĩa của hai bé và nói: “Hai con ăn sáng nhanh lên. Hôm nay chúng ta sẽ dọn vào nhà mới, và phải mang hết dăm gỗ ra.”

Thế là hai chị em ăn nhanh, rồi vội vàng thu dọn dăm gỗ ra khỏi nhà. Hai chị em chạy ra chạy vào, nhặt lấy dăm gỗ cho vào vạt váy rồi đổ lên một đống gần ngọn lửa. Nhưng bên trong căn nhà vẫn còn dăm gỗ, và Mẹ dùng cái chổi làm bằng những nhánh cây liễu cột lại để quét dọn cho sạch.

Mẹ vẫn còn đi khập khễnh, cho dù gót chân đang bình phục dần. Nhưng chẳng bao lâu Mẹ đã quét dọn xong nền đất, rồi Mary và Laura bắt đầu mang các món đồ vào trong nhà.

Noc nha bay

Bố leo lên đầu tường, căng tấm bạt xe goòng qua khung mái làm bằng gỗ cây non. Tấm bạt căng phồng trong gió. Hàm râu của Bố bay lòa xòa, tóc dựng lên như thể muốn rứt ra ngoài. Bố cố nắm lấy tấm bạt. Một lần nó giật lên mạnh đến nỗi Laura nghĩ Bố phải buông ra kẻo bị kéo bay lên cao như chim. Nhưng hai chân Bố ghìm chặt lấy bức tường, hai tay níu chặt lấy tấm bạt, rồi cột xuống.

Bố nói: “Này! Ở yên đấy, và phải…”

Mẹ kêu lên: “Charles!” Mẹ đứng ôm tấm chăn bông đầy trong vòng tay, nhìn lên với vẻ trách móc.

Bố nói tiếp với tấm bạt: “…và phải ngoan”. Rồi Bố hỏi Mẹ: “Sao hở, Caroline, em nghĩ anh sắp nói gì?”

Mẹ nói: “Ôi, Charles! Cái anh quỷ sứ!”

Bố leo xuống ở một góc nhà. Đầu các khúc gỗ súc thò ra ngoài, và Bố bước xuống các đầu này như bước xuống những bậc thang. Bố lấy tay luồn vào mái tóc để tóc xù lên trông càng hoang dại hơn, và Mẹ phá lên cười. Rồi Bố ôm lấy Mẹ, ôm cả tấm chăn bông.

Rồi hai người nhìn quanh ngôi nhà, và Bố nói: “Quả là ngôi nhà ấm cúng!”

Mẹ nói: “Em rất cảm kích được chuyển vào đây.”

Chưa có cánh cửa ra vào và các cánh cửa sổ. Chưa có sàn nhà mà chỉ là nền đất, chưa có mái mà chỉ là tấm bạt. Nhưng ngôi nhà có tường vững chắc, và sẽ đứng vững ở chỗ này. Nó không giống như xe goòng cứ mỗi sáng đi đến một chỗ khác.

Bố nói: “Caroline à, ta sẽ sống ổn ở đây. Vùng này quả là tuyệt diệu. Đây là vùng mà anh sẽ mãn nguyện sống cho đến cuối đời.”

Mẹ nói: “Ngay cả khi có nhiều người đến định cư phải không?”

Bố đáp: “Ngay cả khi có nhiều người đến định cư. Dù cho có bao nhiêu người và gần gũi đến đâu, vùng này sẽ chẳng bao giờ đông đúc. Hãy nhìn bầu trời xem!”

Laura hiểu ý Bố muốn nói gì. Bé cũng thích vùng này. Bé thích khung trời bao la và những ngọn gió, và mặt đất rộng mở bát ngát mà không ai thấy chỗ tận cùng. Mọi thứ đều thong dong, lớn rộng và huy hoàng.

Đến giờ ăn trưa thì ngôi nhà đã đâu ra đấy. Hai chiếc giường tạm được làm tươm tất trên nền đất. Băng ghế xe goòng và hai đầu súc gỗ được mang vào làm ghế ngồi. Khẩu súng của Bố được mắc vào các nẹp phía trên khung cửa. Các thùng và gói được chất thứ tự dọc lối đi. Ngôi nhà tạo khung cảnh dễ chịu. Một vệt ánh sáng dịu chiếu qua mái vải bạt, gió và nắng luồn qua hai khung cửa sổ, và tất cả khe hở của bốn bức tường sáng bóng lên một chút bởi vì mặt trời đang ở đỉnh đầu.

Chỉ có đống lửa là còn ở chỗ cũ. Bố cho biết sẽ xây lò sưởi trong nhà sớm nhất có thể được. Bố cũng sẽ đẽo gỗ thành những tấm ván để lợp mái nhà chắc chắn, trước khi mùa đông đến. Bố cũng sẽ làm sàn nhà bằng những tấm ván đẽo phẳng một mặt, rồi đóng giường và bàn ghế. Nhưng những việc này phải chờ sau khi Bố giúp chú Edwards xây nhà của chú và xây xong chuồng cho Pet và Patty.

Mẹ nói: “Sau khi đã xong các việc ấy thì em muốn có dây phơi quần áo.”

Bố cười: “Vâng, và anh muốn có một giếng nước.”

Sau bữa ăn trưa, Bố thắng Pet và Patty vào xe goòng để chở về một thùng nước lấy từ sông cho Mẹ giặt rũ. Bố nói: “Em có thể giặt ở bờ sông. Phụ nữ Da đỏ vẫn làm thế.”

Mẹ đáp: “Nếu mình muốn sống như người Da đỏ, thì anh có thể làm một lỗ trống trên mái nhà để khói bay ra, và mình đốt lửa trên nền phía trong nhà. Người Da đỏ vẫn làm thế.”

Xế chiều hôm ấy, Mẹ giặt quần áo trong chậu nước và trải trên thảm cỏ để phơi.

Sau bữa ăn chiều, gia đình ngồi với nhau một lúc bên đống lửa trại. Đêm nay gia đình sẽ ngủ trong nhà; họ sẽ không bao giờ ngủ kề bên đống lửa trại nữa. Bố Mẹ nhắc đến những người thân ở Wisconsin, và Mẹ ước gì có thể gửi cho họ một lá thư. Nhưng Thị trấn Independence cách xa hơn sáu mươi cây số, và muốn gửi thư Bố phải đi một quãng đường dài đến bưu điện ở đấy.

Nói về Rừng Đại Ngàn đã quá xa xôi, Ông Nội, Bà Nội, các cô các chú và các em họ không biết Bố, Mẹ, Mary và Laura cùng em bé hiện đang ở đâu. Và trong khi ngồi ở đây bên đống lửa, không ai biết việc gì có thể đã xảy ra ở Rừng Đại Ngàn. Không có cách nào tìm biết được.

Mẹ bảo: “Đã tới giờ đi ngủ rồi.” Em bé Carrie đã ngủ. Mẹ bế bé vào nhà và thay trang phục cho bé, trong khi Mary cởi hàng cúc trên áo ngoài và trên chiếc áo lót của Laura dọc theo lưng. Bố giăng tấm chăn bông qua khung cửa ra vào. Dù sao thì có tấm chăn bông vẫn còn tốt hơn là không có gì. Rồi Bố đi ra ngoài để dẫn Pet và Patty đến gần ngôi nhà.

Bố gọi nhỏ: “Caroline, em ra đây ngắm trăng này.”

Me cham soc 2 be 2

Mary và Laura nằm trên chiếc giường nhỏ đặt trên nền đất trong ngôi nhà mới, nhìn ra bầu trời qua khung cửa sổ mở về hướng đông. Vầng trăng to, sáng lấp lánh dọc theo ngạch khung cửa sổ, khiến cho Laura ngồi dậy. Bé nhìn vầng trăng tròn đầy, im lìm lướt cao trên bầu trời trong trẻo.

Mặt trăng tạo nên những ánh bạc qua các khe hở dọc một bên tường phía ấy của ngôi nhà. Ánh trăng chiếu qua khung cửa sổ thành một vùng sáng hình vuông dịu dàng trên nền đất trong ngôi nhà. Ánh sáng soi rọi đến nỗi Laura nhìn thấy Mẹ rõ ràng khi bà nâng tấm chăn bông ở khung cửa và bước vào.

Laura nằm nhanh xuống trước khi Mẹ kịp nhận ra cô con gái hư vẫn còn ngồi trên giường.

Bé nghe Pet và Patty cất tiếng hí nhỏ với Bố. Rồi tiếng chúng dậm móng nhè nhẹ vang đến tai bé qua sàn nhà. Bố cùng Pet và Patty đang đi về hướng ngôi nhà, và Laura nghe Bố hát:

Hãy bay lượn vầng trăng sáng ơi,
tỏa ánh bạc ra khắp chốn[I]

Giọng hát của Bố nghe như hòa vào đêm và ánh trăng và vẻ tĩnh mịch của thảo nguyên. Bố bước đến khung cửa, hát lên:

Bên vầng nguyệt sáng mơn man lan ngàn khơi.

Mẹ nói nhỏ: “Suỵt, Charles. Anh làm con thức giấc đấy.”

Thế là Bố yên lặng đi vào. Jack đi theo rồi nằm ở ngạch cửa. Bây giờ cả gia đình đều ở giữa bốn bức tường vững chắc của ngôi nhà mới, đều được ấm cúng và bình an. Laura sật sừ nghe một tiếng chó sói tru từ nơi xa xôi trên thảo nguyên, nhưng bé chỉ cảm thấy ớn lạnh một chút dọc sống lưng rồi thiếp đi.

Đàn sói

Chỉ trong vòng một ngày, Bố và chú Edwards xây xong chuồng cho Pet và Patty. Thậm chí họ còn đặt được mái lên, làm việc muộn đến nỗi Mẹ phải giữ thức ăn chiều để chờ hai người.

Chuồng không có cánh cửa, nhưng dưới ánh trăng Bố chôn hai cây cọc cứng sâu xuống đất, mỗi cọc ở một bên khung cửa. Bố dẫn hai con Pet và Patty vào bên trong, rồi đặt nhiều khúc gỗ xẻ đôi chồng lên nhau, ngang khung cửa. Hai cây cọc giữ chắc các khúc gỗ, tạo thành một bức tường vững chãi.

Bố nói: “Thế là xong! Cứ để cho mấy con sói tha hồ tru! Đêm nay mình sẽ ngủ ngon.”

Đến sáng, khi Bố nhấc các khúc gỗ ra, Laura lấy làm ngạc nhiên thú vị. Bên cạnh Pet là một con ngựa non nhỏ bé, chân dài, vành tai dài, đi đứng chập choạng.

Khi Laura chạy đến, con Pet lúc trước luôn hiền từ lại vểnh hai vành tai ra sau và nhe răng cắn phập về hướng Laura đang đứng.

Bố nghiêm khắc kêu lên: “Laura, lui ra sau!” Ông nói với Pet: “Này Pet, mày biết không ai làm hại đến con của mày mà.”

Pet trả lời ông với một tiếng hí nhỏ. Nó cho Bố vuốt ve con nó, nhưng nhất quyết không cho Mary hoặc Laura đến gần. Thậm chí khi hai chị em lén nhìn chú ngựa non qua các khe hở trên bức tường thì Pét nhướng đôi mắt trắng dã nhìn hai chị em và nhe răng ra. Hai chị em chưa từng thấy ngựa non nào có vành tai dài đến thế. Bố cho biết đấy là con la, nhưng Laura nhận xét nó trông giống thỏ rừng. Thế là hai bố con đặt tên con la là Bunny[J].

Khi Pet được cột vào dây cọc với Bunny quấn quít bên cạnh và ngơ ngác nhìn ra thế giới rộng mở, thì Laura phải trông chừng em bé Carrie cẩn thận. Nếu có ai khác ngoài Bố đến gần Bunny, thì Pet sẽ kêu thét giận dữ và có thể chạy đến cắn em bé.

Xế trưa Chủ Nhật ấy, Bố cưỡi con Patty qua thảo nguyên để tìm hiểu những gì ông cần phải biết. Còn nhiều thịt trong nhà, nên Bố không mang theo súng.

Prairie B

Bố phi ngựa qua trảng cỏ cao, dọc theo rìa hẻm đất ở vùng bờ sông. Từng đàn chim bay lên phía trước Bố rồi bay vòng và lại đáp xuống thảm cỏ. Bố đang dõi nhìn xuống vùng trũng bên bờ sông; có lẽ ông muốn ngắm những con nai đang ăn cỏ. Rồi Patty phi nhanh thêm, bóng người và ngựa nhanh chóng mờ đi. Chẳng bao lâu, nơi họ đi qua chỉ thấy cỏ đang lượn sóng.

Đến gần chập tối, Bố vẫn chưa về nhà. Mẹ gạt than trong lò và đặt dăm gỗ lên, rồi chuẩn bị bữa ăn chiều. Mary đang trông nom em bé trong ngôi nhà mới, và Laura hỏi Mẹ: “Jack có chuyện gì thế?”

Jack đang đi lên đi xuống, lộ vẻ lo lắng. Nó hếch mũi về hướng gió; lông trên cổ nó dựng lên, nằm xuống rồi lại dựng lên. Rồi đến phiên con Pet dậm các móng thình thịch. Nó chạy vòng quanh trong cọc rào rồi đứng yên, hí lên một tiếng nhỏ. Con Bunny đi đến sát bên mẹ nó.

Mẹ hỏi: “Chuyện gì thế, Jack?” Nó nhìn lên Mẹ, nhưng dĩ nhiên nó không thể nói được gì. Mẹ nhìn quanh cả một vòng tròn đất trời. Mẹ không thấy có gì bất thường.

Mẹ nói: “Laura à, chắc không có gì đâu.” Mẹ gạt than hồng ra chung quanh bình cà phê và con nhện, gạt lên nắp lò nướng. Con gà thảo nguyên kêu xèo xèo trong con nhện, bánh bắp bắt đầu tỏa mùi thơm. Nhưng trong lúc ấy Mẹ vẫn nhìn khắp cùng về hướng thảo nguyên. Jack bồn chồn đi vòng quanh, còn Pet không gặm cỏ nữa. Nó nhìn về hướng tây-bắc nơi Bố đã ra đi, và giữ con la non kề bên.

Thình lình Patty từ ngoài thảo nguyên chạy về. Nó phi nước đại hết tốc lực, và Bố hầu như nằm bẹp hẳn trên cổ nó.

Nó chạy nhanh qua chuồng gia súc trước khi Bố kịp ghìm cương lại. Bố ghìm lại quá mạnh khiến cho nó gần như ngồi quỵ xuống. Con vật run rẩy toàn thân, bộ lông đen đẫm mồ hôi, miệng sủi bọt. Bố đu người xuống. Ông cũng đang thở dốc.

Mẹ hỏi Bố: “Có chuyện gì thế, Charles?”

Bố nhìn về hướng con sông, nên Mẹ và Laura cũng nhìn về hướng ấy. Nhưng ba người chỉ thấy khoảng không gian phía trên vùng trũng ở bờ sông, với ít ngọn cây, xa xa là đỉnh các vực đất dưới thảm cỏ Thảo nguyên Cao.

Mẹ hỏi lại: “Chuyện gì? Tại sao anh cưỡi con Patty như thế?”

Bố thở một hơi dài: “Anh sợ đàn sói sẽ hạ anh ở đây. Nhưng bây giờ ổn rồi.”

Mẹ thốt lên: “Chó sói hở? Chó sói nào?”

Bố đáp: “Caroline à, mọi việc ổn rồi. Cho anh chàng này thở một lát.”

Cuoi ngua voi dan cho

Sau khi đã lấy lại hơi thở, Bố nói: “Anh không cưỡi con Patty như thế. Anh không làm gì được mà chỉ biết bám lấy lưng nó. Năm mươi con sói, Caroline à, những con sói lớn nhất anh chưa từng thấy bao giờ. Anh sẽ không muốn lâm vào cảnh ấy nữa, dù có ai cho tiền đến đâu.”

Bóng tối bao trùm thảo nguyên ngay khi mặt trời lặn, và Bố nói: “Anh sẽ kể chuyện này cho em sau.”

Mẹ nói: “Mình ăn trong nhà.”

Bố bảo Mẹ: “Không cần đâu. Jack sẽ báo động cho mình kịp thời.”

Bố tháo Pet và con của nó ra khỏi dây cọc. Bố không dẫn ba con vật đi uống nước ở bờ sông như Bố vẫn thường làm. Bố cho chúng uống nước trong chậu giặt của Mẹ đang đầy để dành cho việc giặt rũ sáng hôm sau. Bố kỳ cọ hai bên hông và bốn chân của Patty đang đẫm mồ hôi rồi dẫn nó vào chuồng cùng với Pet và Bunny.

Bữa ăn đã sẵn sàng. Đống lửa tạo thành một vòng sáng trong bầu không gian tối đen. Mary và Laura ngồi kế bên ngọn lửa, và giữ em bé Carrie kề bên. Họ có thể cảm nhận bóng tối vây quanh, và luôn nhìn về phía sau lưng nơi bóng tối hòa lẫn với rìa ngoài của ánh sáng ngọn lửa. Những cái bóng chập chờn ở ngoài đấy, như thể có sự sống.

Jack ngồi kế bên Laura. Nó đang dỏng tai nghe ngóng trong bóng tối. Thỉnh thoảng nó đi ra ngoài khoảng tối ấy một đoạn ngắn. Nó đi vòng chung quanh ánh lửa, rồi trở lại ngồi kế bên Laura. Bộ lông dầy nằm rạp xuống trên cổ chắc nịch, và nó không gầm gừ. Hàm răng nó nhe ra một ít, nhưng chỉ vì nó là dòng chó bun.

Laura an bap

Mary và Laura ăn bánh bắp cùng đùi gà thảo nguyên, và lắng nghe Bố kể cho Mẹ nghe về đàn chó sói.

Bố đã tìm ra một vài người láng giềng. Những người định cư đang kéo đến, và họ đang xây dựng cuộc sống mới dọc theo hai bờ sông. Chỉ cách nhà không đầy năm cây số, ở một vùng trũng của Thảo nguyên Cao, một cặp vợ chồng đang xây nhà. Hai người mang họ Scott, và Bố cho biết họ là người tử tế. Cách đấy xa hơn gần mười cây số, hai người độc thân đang sống trong một ngôi nhà. Họ đã lập hai trang trại, và xây ngôi nhà trên đường ranh giữa hai trang trại này. Giường của một anh nằm dọc một tường của ngôi nhà, và giường anh kia nằm dọc tường đối diện. Thế là mỗi anh ngủ trên trang trại của mình, tuy rằng họ ở cùng nhà và ngôi nhà có chiều ngang chưa đến hai mét rưỡi. Hai người cùng nấu nướng và ăn uống với nhau ở chính giữa ngôi nhà.

Bố chưa nói gì đến đàn sói. Laura háo hức mong Bố kể chuyện này. Nhưng bé biết không được nói chen vào khi Bố đang trò chuyện.

Bố cho biết hai anh độc thân kia không biết có người khác cũng sống trong vùng này. Họ không gặp ai khác ngoài những người Da đỏ. Vì thế mà họ lấy làm vui khi quen biết Bố, và Bố đã ở lại với họ lâu hơn là ông dự tính.

Sau đó Bố tiếp tục phi ngựa đi, và từ một khoảnh đất cao trong thảo nguyên ông thấy một đốm trắng dưới phần đất trũng dọc bờ sông. Bố nghĩ đấy là một xe goòng có mái che, và đúng thế. Khi đến gần, Bố gặp một cặp vợ chồng và năm đứa con. Gia đình đến từ Bang Iowa; họ đã hạ trại ở phần đất trũng dọc bờ sông vì một con ngựa của họ bị bệnh. Hiện giờ con ngựa đã khỏe hơn, nhưng không khí gần bờ sông không được tốt khiến cho họ mắc bệnh sốt và phát lãnh. Hai vợ chồng cùng ba đứa con lớn nằm liệt. Đứa con trai và con gái nhỏ, không lớn hơn Mary và Laura, đang chăm sóc họ.

Thế là Bố tìm cách giúp họ trong khả năng cho phép, rồi phi ngựa trở về để báo cho hai người độc thân biết về tình cảnh của họ. Một người cưỡi ngựa đi để dẫn gia đình kia lên Thảo nguyên Cao, nơi họ sẽ bình phục nhờ không khí trong lành.

Việc này kéo theo việc kia, cho đến lúc Bố bắt đầu quay về nhà muộn hơn dự tính. Bố đi theo đường tắt băng qua thảo nguyên, và trong khi đang ngồi dập dềnh trên lưng con Patty, thình lình một đàn sói xuất hiện. Không bao lâu chúng đã vây quanh Bố.

Bố kể: “Đấy là một đàn sói đông đảo. Tất cả khoảng năm mươi con, và là những con sói lớn nhất anh chưa từng thấy bao giờ. Đấy hẳn là thứ sói mà người ta gọi là sói bò rừng. Thủ lĩnh đàn sói là một con to lớn, trông dữ dằn, có bộ lông mầu xám, cao gần 1 mét ở vai. Nói cho em biết, tóc tai anh dựng đứng cả lên.”

Mẹ nói: “Anh lại không mang theo súng.”

“Anh đã nghĩ đến việc này. Nhưng dù anh có súng thì vẫn vô ích. Không thể nào chống cự năm mươi con sói với một khẩu súng. Và Patty không thể chạy nhanh hơn chúng.”

Mẹ hỏi: “Thế thì anh làm gì?”

Bố đáp: “Chẳng làm gì cả. Patty cố chạy. Anh chưa bao giờ muốn việc gì tệ hại hơn là thoát ra khỏi tình cảnh ấy. Nhưng anh biết nếu Patty chỉ cần bắt đầu phóng đi thì trong một phút đàn sói sẽ nhảy xổ đến, vật cả người lẫn ngựa xuống. Thế nên anh ghìm cương cho Patty đi chậm lại.”

Mẹ nín thở nói: “Trời ơi, Charles!”

“ Vâng. Anh sẽ chẳng bao giờ làm lại việc ấy dù có ai cho tiền bao nhiêu chăng nữa. Caroline à, anh chưa từng thấy những con sói nào như thế. Một chú chàng to lớn chạy kề bên bàn đạp chân của anh. Anh có thể đá trúng mạn sườn của nó. Chúng chẳng quan tâm tới anh gì cả. Đáng lẽ chúng chỉ việc hạ ngay cả người và ngựa mà tha hồ đánh chén.

“ Nói cho em biết, Caroline à, mấy con sói ấy chỉ vây quanh anh và Patty, chạy lúp xúp cùng với người và ngựa. Giữa ban ngày ban mặt. Cứ như thể là một bầy chó nhà chạy theo chủ trên lưng ngựa. Chúng vây bọc lấy anh, chạy lúp xúp bên anh, nhảy nhót đùa giỡn và táp táp lẫn nhau, cứ như là chó nhà ấy.”

Mẹ lại kêu lên: “Trời ơi, Charles!” Tim Laura đập thình thịch, bé há hốc miệng, mở to mắt mà trân trân nhìn Bố.

Bố kể tiếp:

“ Patty run rẩy toàn thân mà vẫn cố tỏ ra gan lì. Mồ hôi nó ướt đẫm, nó quá hoảng sợ. Anh cũng đổ mồ hôi. Nhưng anh cố ghìm cương cho nó đi chầm chậm, tiếp tục đi giữa đàn sói. Chúng cứ đi theo anh một quãng đường chừng bốn, năm trăm mét. Chú chàng to lớn kia cứ chạy sát bên bàn đạp chân của anh như thể nó không muốn bỏ cuộc.

“ Rồi anh đi đến đầu một dòng nước chảy xuống phần đất trũng dọc bờ sông. Chú chàng to lớn chạy xuống đấy, và cả đàn chạy xuống theo sau. Ngay khi con sói cuối cùng xuống đến dòng nước, thì anh phóng Petty chạy đi.

“ Nó tiến thẳng về nhà, băng qua thảo nguyên. Cho dù anh lấy roi da quất nó thì chắc nó vẫn không chạy nhanh hơn được. Anh cảm thấy hãi hùng suốt chặng đường. Anh e đàn sói có thể tiến về phía này và chạy đến đây trước anh. Caroline à, anh mừng vì em có khẩu súng. Và mừng vì nhà đã xây xong. Anh biết em có thể chặn đàn sói ở bên ngoài với một khẩu súng. Nhưng Pet và con nó còn ở bên ngoài.”

Mẹ nói: “Charles ạ, anh không phải lo lắng. Em nghĩ mình có thể xoay sở để cứu lấy hai mẹ con ngựa.”

Bố nói: “Anh không hoàn toàn đúng lý. Anh biết em cứu được lũ ngựa, Caroline à. Dù sao thì mấy con sói ấy sẽ không làm phiền đến anh. Nếu lúc ấy bọn chúng đang đói thì anh đã…”

Mẹ nói: “Tai vách mạch rừng.” Mẹ có ý nói Bố không nên làm cho Mary và Laura kinh hãi.

Bố đáp: “Chuyện kết thúc tốt đẹp thì xem như nó tốt đẹp. Bây giờ mấy con sói ấy cách ta hàng mấy dặm.”

Laura hỏi: “Tại sao chúng hành động như thế hở Bố?”

Bố đáp: “Laura à, Bố không biết. Bố đoán chúng vừa chè chén một bữa no nê, và đang trên đường xuống bờ sông để uống nước. Hoặc có lẽ chúng đang chơi đùa trên thảo nguyên, và chỉ chơi đùa chứ không màng đến việc gì khác, giống như đôi lúc các bé gái chơi đùa. Có lẽ chúng thấy Bố không mang súng nên không thể làm hại chúng. Hoặc có lẽ chúng chưa từng gặp người và không biết rằng con người có thể làm hại chúng. Thế là chúng không để ý gì đến Bố cả.”

Pet và Patty đang bồn chồn đi vòng vòng, bên trong chuồng. Jack đi vòng quanh đống lửa. Khi nó đứng yên để đánh hơi không khí và lắng nghe, lông cổ nó dựng cả lên.

Mẹ vui vẻ nói: “Đã đến giờ các cô con gái nhỏ đi ngủ!” Ngay cả em bé Carrie vẫn còn thức, nhưng Mẹ đưa tất cả vào bên trong ngôi nhà. Mẹ bảo Mary và Laura lên giường ngủ, rồi Mẹ mặc chiếc áo ngủ nhỏ cho em bé Carrie và đặt bé trên chiếc giường lớn. Mẹ đi ra ngoài để rửa tô đĩa. Laura mong Bố Mẹ ở trong nhà. Khi Bố Mẹ ở bên ngoài, trông hai người có vẻ như xa xôi quá.

Mary và Laura tỏ ra là con gái ngoan nên nằm yên, nhưng Carrie lại ngồi dậy tự chơi đùa trong bóng tối. Và cũng trong bóng tối, tay Bố từ sau tấm chăn bông ở khung cửa nhẹ nhàng lấy xuống khẩu súng. Bên ngoài đống lửa, các đĩa thiếc kêu lẻng xẻng. Rồi một con dao cạo con nhện để làm sạch. Bố Mẹ đang trò chuyện với nhau, và Laura ngửi được mùi khói thuốc lá.

Ngôi nhà được an toàn, nhưng nó không cảm thấy yên tâm lắm bởi vì khẩu súng của Bố không được treo trên cánh cửa và lại không có cánh cửa; chỉ có tấm chăn bông.

Sau một lúc lâu, Mẹ nhấc tấm chăn bông lên. Lúc này em bé Carrie đã ngủ. Mẹ và Bố đi vào thật nhẹ nhàng và lên giường nằm thật nhẹ nhàng. Jack ngồi trên ngạch cửa, nhưng mõm nó không dựa trên các móng chân. Nó đang ngẩng đầu lên, nghe ngóng. Mẹ thở nhẹ, Bố thở mạnh, và Mary cũng đang say ngủ. Nhưng Laura cố căng mắt trong bóng đêm để nhìn đến Jack. Bé không thể nhận ra liệu lông trên cổ nó đang xù lên hay không.

Thình lình Laura ngồi dậy trên giường. Bé đã chìm vào giấc ngủ. Không còn bóng tối. Ánh trăng luồn qua khung cửa sổ và những tia ánh trăng chiếu qua mọi khe hở trên bức tường ấy. Có bóng đen của Bố đang đứng trong ánh trăng ở khung cửa sổ. Tay Bố cầm khẩu súng.

Tiếng tru của một con sói vang dội ngay vào tai Laura.

Bé nhẹ nhàng xích ra xa khỏi bức tường. Con sói đang ở ngay bên ngoài bức tường ấy. Laura quá kinh sợ nên không dám gây ra tiếng động gì. Bé không chỉ cảm thấy lạnh sống lưng, mà lạnh cả người. Mary kéo tấm chăn bông trùm lấy đầu. Jack gầm gừ và nhe răng về phía tấm chăn bông ở khung cửa.

Bố nói: “Jack, nằm im.”

Những tiếng tru kinh khiếp vang dội khắp cùng bên trong ngôi nhà, và Laura bước ra khỏi giường. Bé muốn đến đứng bên Bố, nhưng bé biết lúc này không nên làm rộn Bố. Bố quay lại và thấy bé đang đứng trong bộ áo ngủ.

Bố hỏi nhỏ: “Laura, con muốn xem chúng không?” Laura không thể nói gì, chỉ gật đầu, và rón rén bước đến bên Bố. Ông để khẩu súng dựa vào tường rồi nhấc Laura lên khung cửa sổ.

Ngoài kia dưới ánh trăng, lũ sói đang ngồi thành nửa vòng tròn. Chúng ngồi nhìn Laura ở khung cửa sổ, và bé nhìn chúng. Bé chưa bao giờ thấy những con sói nào to như thế. Con to nhất cao hơn thân người Laura. Thậm chí nó còn cao hơn Mary. Nó ngồi ở giữa, ngay vị trí đối diện với Laura. Mọi thứ quanh nó đều to lớn – vành tai nhọn, mõm nhọn với chiếc lưỡi thè ra, hai vai và bốn chân mạnh mẽ, hai bộ móng kề bên nhau, và chiếc đuôi cuộn vòng quanh mông. Bộ lông xù mầu xám, đôi mắt mầu lục lóng lánh.

Laura bấu các ngón chân vào một khe hở của bức tường, gập hai cánh tay trên bệ khung cửa sỏ, nhìn và nhìn con sói ấy. Nhưng bé không nhô đầu khỏi khung cửa số trống trơn ra bên ngoài, trong khi đàn sói ngồi gần bé đến thế, đi chuyển các móng và liếm láp hai bên sườn. Bố đứng vững phía sau lưng bé, vòng tay ôm qua eo bé.

Laura thì thầm: “Nó to quá.”

Bố thì thầm vào tai bé: “Đúng, con xem bộ lông nó óng mượt làm sao.” Ánh trăng chiếu thành những đốm lấp lánh nhỏ trên các ngọn lông, tất cả chung quanh con sói to.

Dan soi bao vay

Bố lại thì thầm: “Bọn chúng bao vây thành một vòng tròn quanh nhà.” Laura đi thoăn thoắt bên Bố đến khung cửa sổ kia. Bố để khẩu súng dựa tường rồi lại nhấc bé lên. Y như rằng, phía này là nửa vòng tròn kia của đàn sói. Tất cả con mắt của chúng sáng lánh mầu lục trong bóng tối của ngôi nhà. Laura có thể nghe tiếng chúng thở. Khi chúng thấy Bố và Laura nhìn ra, con sói ở giữa vòng tròn lùi lại một chút.

Pet và Patty đang kêu ré lên và chạy lòng vòng trong chuồng. Móng của chúng dậm lên sàn và cào lên tường.

Sau một lúc, Bố quay trở lại khung cửa sổ kia; Laura cũng đi theo. Hai bố con vừa kịp lúc nhìn thấy con sói to hếch đầu mũi nhọn lên trời. Miệng nó há ra, và một tiếng tru dài vút lên về hướng mặt trăng.

Rồi khắp chung quanh ngôi nhà, cả vòng những con sói cũng hếch đầu mũi nhọn lên trời và đáp lời. Tiếng tru của chúng rúng động qua ngôi nhà, lấp đầy ánh trăng và lan xa khắp bầu không gian tĩnh mịch của thảo nguyên.

Bố nói: “Bây giờ con gái rượu lên giường. Ngủ đi. Jack và Bố sẽ bảo vệ cho tất cả mẹ con.”

Thế là Laura đi trở lại giường. Nhưng trong một lúc lâu bé không ngủ được. Bé nằm lắng nghe tiếng thở của những con sói ở phía bên kia bức tường gỗ súc của ngôi nhà. Bé nghe tiếng móng của chúng cào trên mặt đất, và tiếng hít mũi của một con sói sát bên khe hở của bức tường. Bé nghe con sói đầu đàn lông xám lại tru lên, và tất cả những con khác đáp lời.

Nhưng Bố vẫn im lặng đi qua lại giữa hai khung cửa sổ, và Jack không ngừng đi tới đi lui dưới tấm chăn bông treo ở khung cửa. Đàn sói có thể tru, nhưng không thể xâm nhập trong khi có Bố và Jack. Thế là cuối cùng Laura chìm vào giấc ngủ.

Hai cánh cửa rắn chắc

Laura cảm thấy có một hơi ấm mềm mại trên mặt mình, và mở mắt ra thấy mặt trời đã lên. Mary đang trò chuyện với mẹ bên lửa trại. Vẫn còn mặc bộ áo ngủ, Laura chạy ra bên ngoài. Không còn thấy một con chó sói nào; chỉ có những vết chân của chúng dầy đặc chung quanh ngôi nhà và chuồng gia súc.

2 ngua uong nuoc

Bố vừa huýt sáo vừa đi về theo con đường từ bờ sông lên. Ông mắc khẩu súng vào hai cái chốt rồi dẫn Pet và Patty xuống sông uống nước như thường lệ. Bố đã dò theo các vết chân chó sói cho đến lúc biết được hiện giờ chúng đã đi xa, đang đuổi theo một đàn nai.

Hai con ngựa thảo nguyên ré lên khi trông thấy những vết chân chó sói, vểnh đôi vành tai trong nỗi lo lắng, và Pet giữ con non của nó kề sát bên mình. Nhưng ba con vật vẫn đi với Bố, vì Bố biết không có gì phải sợ.

Bữa ăn sáng đã sẵn sàng. Khi Bố từ con sông trở về, cả nhà ngồi kế bên đống lửa, ăn bột ngô rán và thịt gà thảo nguyên băm. Bố bảo ngay ngày hôm ấy ông sẽ làm cánh cửa ra vào. Lần này thì Bố muốn có cánh cửa chắc chắn thay vì tấm chăn bông.

Bố nói: “Bố không còn đinh nữa, nhưng sẽ chờ cho đến khi có thể đi Independence. Đàn ông không cần có đinh để xây một ngôi nhà hoặc đóng một cánh cửa.”

Sau bữa ăn sáng, Bố thắng Pet và Patty, mang theo rìu để đốn gỗ làm cánh cửa. Laura giúp rửa tô đĩa và dọn giường, còn Mary ngày hôm ấy phải trông nom Carrie. Laura giúp Bố đóng cánh cửa. Mary đứng nhìn, nhưng Laura giúp chuyền cho Bố đồ lề.

Bố cưa những súc gỗ theo chiều dài thích hợp cho một cánh cửa. Bố cưa những đoạn ngắn hơn để làm thanh ngang. Bố dùng rìu để xẻ các súc gỗ thành những bản, và chà cho láng. Bố đặt những bản dài kế bên nhau trên nền đất và đặt những bản ngắn theo chiều ngang. Rồi Bố dùng dùi khoan những lỗ qua các thanh ngang xuyên xuống các bản dài. Bố đóng một chốt gỗ vào mỗi lỗ để khớp chặt các thanh ngang và các bản dài với nhau.

Thế là xong cánh cửa. Đấy là một cánh cửa rắn chắc, làm bằng gỗ sồi tốt.

Để làm bản lề, Bố cắt ra ba miếng đai da dài. Một bản lề phía trên, một phía dưới và một ở giữa chiều cao của cánh cửa.

Trước tiên, Bố lắp ba bản lề vào cánh cửa theo cách như sau: Bố đặt một mảnh gỗ nhỏ trên cánh cửa, và khoan một lỗ qua mảnh gỗ này xuyên vào cánh cửa. Rồi Bố gập đôi một đầu của miếng đai da quanh mảnh gỗ nhỏ, và dùng dao cắt những lỗ tròn qua miếng đai da. Bố đặt lại mảnh gỗ nhỏ trên cánh cửa, với miếng đai da gập đôi quanh nó, và tất cả các lỗ thông nhau thành một lỗ. Rồi Laura trao cho Bố một chốt gỗ và cái búa, để Bố đóng chốt vào lỗ. Cái chốt gỗ xuyên qua miếng đai da và mảnh gỗ nhỏ rồi lại xuyên qua miếng đai da vào cánh cửa. Như thế, miếng đai da không bị sút ra.

Bố nói: “Bố đã bảo mà, mình không cần đinh!”[K]

Sau khi đã ghép ba bản lề lên cánh cửa, Bố dựng cánh cửa ở ngạch cửa. Nó khớp tốt. Rồi Bố đóng chốt những mảnh gỗ vào các bản cũ trên hai mặt khung cửa, để cánh cửa không bung ra ngoài. Bố lại đặt cánh cửa vào vị trí, và Laura đứng tựa vào để giữ cánh cửa ở vị trí ấy trong khi Bố đóng các bản lề vào khung cửa.

Nhưng trước khi làm như thế, Bố đã làm then cài cửa, bởi vì đương nhiên là phải có cách nào đấy để giữ cho cánh cửa đóng kín.

Bố làm then cài cửa như sau: Trước tiên ông đẽo một thanh gỗ sồi dầy và ngắn. Bố cắt một rãnh rộng và sâu từ đoạn giữa và theo một mặt thanh gỗ này. Bố ghép thanh gỗ này vào mặt trong cánh cửa, theo chiều thẳng đứng và ở gần rìa cánh cửa. Bố đặt mặt có rãnh úp vào cánh cửa, để rãnh làm thành một cái khe ở đầu trên.

Rồi Bố đẽo và chuốt một thanh gỗ dài hơn và nhỏ hơn. Thanh gỗ này phải nhỏ vừa đủ để dễ luồn vào khe. Bố đặt một đầu thanh gỗ này qua khe, và đóng chốt đầu kia vào cánh cửa, tức là đầu cố định.

Nhưng Bố không đóng chốt quá chặt ở đầu cố định. Cái chốt này được đóng chắc chắn trên cánh cửa, nhưng lỗ trong thanh gỗ rộng hơn cái chốt. Vật duy nhất giữ thanh gỗ này trên cánh cửa là cái khe.

Thanh gỗ ấy là then cài cửa, có một đầu cố định và một đầu di động. Nó xoay dễ dàng trên cái chốt ở đầu cố định, đầu di động của nó quay lên và quay xuống qua cái khe. Và đầu di động phải đủ dài để đi qua khe mà còn kéo dài đến kẽ hở giữa cánh cửa và bức tường, và để tựa trên bức tường khi cửa đóng lại.

Khi Bố và Laura đã dựng cánh cửa lên khung cửa, Bố đánh dấu điểm trên bức tường nơi đầu di động của then cài cửa chạm đến. Trên điểm này, Bố đóng chốt một mảnh gỗ sồi vào tường. Mảnh gỗ sồi này được xẻ ở đầu trên, sao cho then cài cửa có thể hạ xuống nằm giữa nó và bức tường.

Bo & be dong cua 2.jpg

Bây giờ Laura đẩy cánh cửa để đóng lại, và trong khi đẩy bé nhấc đầu di động của thanh cài cửa lên cao để lọt được vào cái khe. Rồi bé để cho thanh cài cửa rơi vào vị trí của nó phía sau mảnh gỗ sồi cứng. Như thế thanh cài cửa tựa sát vào bức tường, và thanh gỗ thẳng đứng tạo khe hở để giữ thanh cài cửa trên cánh cửa.

Người nào muốn xâm nhập ngôi nhà thì phải bẻ gẫy thanh cài cửa cứng chắc làm hai khúc, và hầu như không thể làm được việc này.

Nhưng phải có cách để từ bên ngoài có thể nhấc thanh cài cửa lên. Thế là Bố làm dây then. Bố cắt dây then từ một dải da dài và chắc. Bố cột một đầu dây vào then cài cửa, giữa cái chốt và cái khe. Phía trên then cài cửa, Bố khoan một lỗ nhỏ qua cánh cửa, rồi luồn đầu dây then qua lỗ này.

Laura đứng bên ngoài, và khi đầu dây then lộ ra bên ngoài lỗ, bé nắm lấy và kéo. Bé có thể kéo đủ mạnh để nhấc then cài cửa lên mà đi vào nhà.

Cánh cửa ra vào đã được hoàn tất. Gỗ sồi dầy tạo cánh cửa vững chắc, được củng cố thêm bằng những thanh ngang dầy cũng bằng gỗ sồi, tất cả được đóng chốt gỗ khít chặt. Dây then ở bên ngoài; nếu bạn muốn đi vào thì phải kéo dây then. Nhưng nếu bạn đang ở trong nhà và không muốn cho người vào thì bạn kéo dây then vào qua lỗ, thế là không ai vào được. Không có nắm cửa trên cánh cửa này, cũng không có ổ khóa và chìa khóa. Nhưng đấy là một cánh cửa tốt.

Bố nói: “Xem như đây là một ngày làm việc thành công! Và Bố đã có một phụ tá nhỏ bé nhưng giỏi giang!”

Bố ôm hôn đầu Laura. Bố thu dọn đồ lề mang đi cất trong khi huýt sáo, rồi dẫn Pet và Patty ở dây cọc đi uống nước. Mặt trời đang xuống thấp, làn gió hiu hiu đã mát dịu, thức ăn cho bữa chiều trên bếp lò tỏa mùi mà Laura thấy thơm ngon nhất từ trước đến giờ.

Có món thịt lợn muối cho bữa chiều. Đấy là phần thịt lợn muối cuối cùng, thế nên ngày hôm sau Bố sẽ đi săn. Nhưng ngày kế tiếp sau đó, Bố và Laura phải lo đóng cánh cửa cho chuồng gia súc.

Cánh cửa giống y như cửa ra vào của ngôi nhà, ngoại trừ không có then cài cửa. Hai con Pet và Patty không dùng được then cài cửa và không biết cách kéo dây cài vào ban đêm. Vì thế, thay cho then cài cửa Bố khoan một lỗ trên cánh cửa rồi luồn dây xích qua.

Ban đêm, Bố sẽ kéo một đầu dây xích qua một khe hở giữa hai súc gỗ trên bức tường, rồi dùng ổ khóa để khóa hai đầu dây xích với nhau. Thế là không ai vào được chuồng.

Bố nói: “Bây giờ chúng ta yên ổn!” Khi có thêm láng giềng định cư ở vùng này, thì tốt nhất là ban đêm phải khóa chuồng, bởi vì nơi nào có nai thì sẽ có chó sói, và nơi nào có ngựa thì sẽ có kẻ trộm ngựa.

Khi ăn chiều hôm ấy, Bố nói với Mẹ: “Caroline à, bây giờ sau khi anh giúp Edwards xây nhà thì anh sẽ xây cho em lò sưởi, để em có thể nấu ăn trong nhà, tránh mưa gió. Anh chưa bao giờ thấy nơi nào có nhiều ánh nắng như ở đây, nhưng anh đoán đến lúc rồi sẽ có mưa.”

Mẹ đáp: “Vâng. Trên quả đất này khí hậu tốt không bao giờ tốt mãi.”

Lửa cháy trên nền lò sưởi

Bên ngoài ngôi nhà, gần bức tường gỗ súc đối diện cửa ra vào, Bố cắt cỏ và cào nền đất cho phẳng. Bố chuẩn bị xây lò sưởi.

Bố và Mẹ lại đặt thùng xe lên cỗ xe goòng, và Bố thắng hai con Pet và Patty.

Mặt trời đang lên làm cho các bóng râm ngắn lại. Từng đàn chiền chiện đồng bay lên từ thảm cỏ, ca hót trên cao và cao hơn nữa. Tiếng hót của chúng vọng xuống từ bầu trời trong xanh nghe như một cơn mưa âm nhạc. Và khắp mặt đất nơi thảm cỏ gợn sóng và thì thầm dưới con gió, hàng nghìn con chim bé nhỏ bấu móng li ti vào lùm bụi đang trổ hoa mà hót lên hàng nghìn bài ca bé nhỏ.

Pet và Patty hít vào luồng gió và hí lên hồ hởi. Hai con vật vươn cổ và xoãi chân trên đất bởi vì chúng hăng hái muốn đi. Bố vừa huýt sáo vừa leo lên xe goòng và nắm lấy dây cương. Rồi Bố nhìn xuống Laura trong khi bé đang nhìn lên Bố, ngưng huýt sáo mà hỏi: “Muốn đi theo không, Laura? Con và Mary đi cùng nhé?”

Mẹ nói hai bé có thể đi. Hai bé leo lên bánh xe, ngón chân tựa lên từng nan hoa rồi lên ngồi trên băng xe kế bên Bố. Pet và Patty nhảy nhẹ lên để bắt đầu, rồi chiếc xe goòng nhấp nhô chạy theo con đường mà bánh xe goòng của Bố đã tạo ra.

Cỗ xe chạy xuống giữa những bức tường đất vàng-đỏ trơ trụi, nhăn nheo do những dòng nước mưa từ trước. Rồi cỗ xe đi tiếp, qua vùng đất trũng trải dài dọc bờ sông. Từng mảng cây gỗ to bao phủ những ngọn đồi tròn, và cũng có vài khoảnh đất trống chỉ có cỏ mọc. Những đàn nai đang nằm dưới bóng râm của các cội cây, và cũng có nai đang gặm cỏ trên những khoảnh đất đầy ánh nắng. Chúng ngẩng đầu, lúc lắc đôi vành tai, ngừng nhai cỏ và nhìn cỗ xe với đôi mắt hiền dịu, mở to.

Dọc theo con đường, hoa phi yến đang nở khoe những sắc mầu hồng, lam và trắng; chim chóc giữ thăng bằng trên những chùm hoa hoàng cẩm phượng mầu vàng, và đàn bướm nhởn nhơ đây đó. Hoa cúc dại tô điểm thảm cỏ dưới các cội cây, sóc kêu chiu chít trên cành, thỏ đuôi trắng nhảy dọc theo con đường, và rắn uốn éo lủi nhanh qua đường khi nghe tiếng bánh xe đang lăn đến.

Con sông nhỏ chảy qua vùng thung lũng thấp nhất, dưới bóng râm của những bức tường đất. Khi Laura nhìn lên quá những bức tường này, bé không thấy cỏ thảo nguyên gì cả. Cây mọc lên ở những chỗ tường đất sụp xuống, và nơi tường đất quá dốc khiến cho cây không mọc được thì bụi rậm cố vươn rễ bám lấy chênh vênh. Những chùm rễ nửa nằm trong đất nửa thò ra ngoài ngay trên đầu Laura.

Laura hỏi: “Lều trại người Da đỏ ở đâu hở Bố?” Bố đã trông thấy những lều trại bị bỏ hoang của người Da đỏ giữa những tường đất ở đây, nhưng bây giờ ông đang bận nên không thể dẫn bé đi xem được. Bố phải đi kiếm đá về làm lò sưởi.

Bố bảo: “Hai con có thể chơi, nhưng đừng đi xa khỏi tầm mắt Bố và đừng đi xuống nước. Và đừng chơi với rắn. Một số loài rắn ở đây có nọc độc.”

Thế là Mary và Laura chơi bên bờ sông, trong khi Bố đào những viên đá mà ông chọn rồi chất lên xe goòng.

Hai chị em ngắm những con bọ nước có chân dài lướt trên mặt ao phủ cỏ tĩnh lặng. Hai chị em chạy dọc theo bờ nước để hù dọa mấy con ếch, và cười thích thú khi thấy các con ếch lưng mầu lục và bụng trắng nhảy tỏm xuống nước. Hai chị em lắng nghe những con bồ câu rừng đang kêu rù-rù giữa tán lá, và những con chim hoét hót lảnh lót. Từng đàn cá nhỏ lượn lờ thành những vệt bóng xám trong dòng nước róc rách, thỉnh thoảng một con trong đàn nhảy lên ánh mặt trời khoe bụng trắng như bạc.

Không có gió dọc theo con sông nhỏ. Không khí đứng yên, nóng ẩm như ngái ngủ. Mùi rễ mục và mùi bùn lan tỏa trong không gian cùng với tiếng lá xào xạc và tiếng nước rì rào.

Bat ca con

Từ những khoảnh bùn nơi có nhiều dấu vết nai và mỗi dấu chân tạo thành một vũng nước nhỏ, từng đàn muỗi bay vụt lên với âm thanh sè sè sắc lẻm. Mary và Laura đập những con muỗi đang bám trên mặt mũi tay chân hai chị em, và ước gì mình có thể đi xuống nước. Trời thì nóng bức nhưng nước trông thật mát. Laura tin chắc nếu chỉ nhúng một chân xuống nước thì không có hại gì cả, và khi Bố quay lưng về phía bé thì bé suýt làm thế.

Bố kêu lên: “Laura!” Bé giật ngay cái chân hư hỏng về.

Bố bảo: “Nếu hai con muốn xuống nước thì chỉ được xuống nơi nước nông. Đừng đi sâu quá mắt cá chân.”

Be ngoi tren khuc go

Mary chỉ đi xuống nước một chốc. Chị của bé bảo những hòn sỏi làm đau chân, nên chị ngồi trên một khúc gỗ và kiên nhẫn đập muỗi. Nhưng Laura vừa đập muỗi vừa đi trong nước. Khi bé bước, những hòn sỏi làm đau chân bé. Khi bé đứng yên, các con cá nhỏ vây chung quanh và há miệng bé xíu rỉa các ngón chân của bé. Cảm giác vừa thích thú vừa nhồn nhột. Từ lần này đến lần khác Laura cố bắt lấy một con cá, nhưng bé chỉ làm cho vạt áo của mình ướt đẫm.

Rồi xe goòng đã chất đầy đá. Bố gọi: “Về đi, hai con!” Hai chị em lại leo lên xe goòng và rời con sông. Lại đi qua những đồi phủ rừng khô, đến Thảo nguyên Cao nơi gió luôn thổi và trảng cỏ dường như luôn ca hát, thầm thì và cười cợt.

Hai chị em đã có thời khắc tuyệt vời ở khu đất trũng dọc con sông. Nhưng Laura thích Thảo nguyên Cao hơn cả. Vùng thảo nguyên thật là rộng, ngọt dịu và tinh khiết.

Chiều hôm ấy, Mẹ ngồi may vá dưới bóng râm của ngôi nhà, em bé Carrie chơi đùa trên tấm chăn bông kế bên, trong khi Laura và Mary xem Bố xây lò sưởi.

Đầu tiên, Bố dùng xô nước của hai con ngựa để trộn đất sét với nước làm thành một loại bùn trông đẹp. Bố để cho Laura khuấy bùn trong khi ông đặt một hàng những viên đá theo ba bề của khoảnh đất mà ông đã giẫy sạch cỏ. Rồi với một chiếc bay nhỏ ông trét bùn lên các viên đá. Trong lớp bùn, Bố đặt thêm một hàng đá, rồi lại trét bùn phía trên, phía dưới và bên trong.

Bố xây một hộp trên nền đất: ba bề của hộp là đá trét bùn, còn bề kia là bức tường gỗ súc của ngôi nhà.

Bố dùng đá và bùn, lại thêm đá và và bùn để dần dần xây ba bề cao lên đến ngang cằm Laura. Rồi trên bức tường dựa vào ngôi nhà, Bố đặt một súc gỗ. Bố tô bùn khắp bề mặt súc gỗ này. Sau đó, Bố xây đá và bùn phía trên súc gỗ. Bây giờ Bố đang xây ống khói, và Bố xây từ dưới lên trên cho ống khói nhỏ dần.

Bố phải đi xuống bờ sông để kiếm thêm đá. Mary và Laura không thể đi nữa, bởi vì Mẹ nói không khí ẩm có thể làm hai bé bị sốt. Mary ngồi kế Mẹ để may thêm một mảng cho chiếc chăn bông của bé, trong khi Laura trộn thêm một chậu bùn.

Ngày kế tiếp, Bố xây ống khói cao bằng tường nhà. Rồi Bố đứng chiêm ngưỡng công trình của mình. Bố đưa các ngón tay vào mái tóc.

Mẹ nói: “Charles ạ, anh trông như người hoang dã. Tóc anh dựng đứng cả lên.”

Bố trả lời: “Caroline à, dù sao thì nó vẫn dựng đứng. Khi anh đang tán tỉnh em, tóc anh không bao giờ nằm xuống, dù anh có thoa mỡ gấu vẫn vô ích.”

Gia dinh nhin ngoi nha 3

Bố nằm xuống mặt cỏ kế bên chân Mẹ, nói: “Anh hoàn toàn kiệt sức sau khi đã vác đá lên tới trên ấy.”

Mẹ nói: “Anh làm việc quá giỏi khi chỉ một mình xây lên ống khói cao như thế.” Mẹ luồn các ngón tay vào mái tóc Bố làm cho tóc Bố càng dựng đứng thêm, rồi hỏi: “Tại sao anh không làm tất cả phần còn lại theo phương pháp cọc gỗ và bùn?”

Bố nhìn nhận: “Ừ, như thế dễ hơn. Nếu anh không nghĩ ra như thế thì quả là đáng trách.”

Bố ngồi dậy. Mẹ nói: “Anh nghỉ một chốc trong bóng râm này.”

Nhưng Bố lắc đầu: “Caroline, không thể chây lười ở đây trong khi còn có công việc phải làm. Anh làm xong lò sưởi sớm ngày nào thì em có thể nấu ăn trong nhà sớm ngày ấy, tránh xa gió máy.”

Bố chở những cây nhỏ từ khu rừng về, cắt thành các khúc, đẽo các rãnh khuyết, rồi đặt lên như cách xây tường, phía trên ống khói bằng đá. Bố đặt từng khúc cây lên rồi tô với bùn. Thế là hoàn tất ống khói.

Bố đi vào trong ngôi nhà, dùng rìu chặt thành một khung trên bức tường. Bố chặt đi những đoạn súc gỗ tạo nên bề mặt thứ tư, ở phần đáy của ống khói. Đấy là vị trí cửa lò sưởi.

Lo suoi

Lò sưởi rộng đủ cho Mary và Laura cùng em bé Carrie ngồi bên trong. Đáy của nó là nền đất mà Bố đã giẫy sạch cỏ, còn mặt trước là cái khung mà Bố đã chặt đi những đoạn súc gỗ. Phía trên là súc gỗ mà Bố đã tô bùn chung quanh khi làm việc bên ngoài.

Ở mỗi mặt, Bố đóng chốt một tấm ván gỗ sồi xanh dầy vào những đầu súc gỗ còn lại sau khi Bố chặt đi phần khung. Ở các góc trên của lò sưởi Bố đóng chốt những mảnh gỗ sồi vào tường, và trên đó Bố đặt một bản gỗ sồi rồi đóng chốt chắc chắn. Đấy là bệ lò sưởi.

Ngay sau khi Bố làm xong, Mẹ đặt trên bệ lò sưởi hình một cô gái nhỏ bằng sứ mà Mẹ đã mua ở Rừng Đại Ngàn. Cô gái nhỏ bằng sứ đã đi qua cả quãng đường dài mà không bị vỡ. Cô gái đứng trên bệ lò sưởi với đôi giầy bằng sứ, tà váy rộng bằng sứ, áo trên bó hẹp bằng sứ, đôi má hồng cùng đôi mắt xanh và mái tóc vàng cũng đều bằng sứ.

Bố Mẹ, Mary và Laura cùng đứng chiêm ngưỡng lò sưởi. Chỉ có em bé Carrie là không để ý gì đến lò sưởi. Em bé chỉ trỏ cô gái nhỏ bằng sứ và tíu tít kêu lên khiến cho Mary và Laura bảo em rằng chỉ có Mẹ mới được sờ đến.

Bố nói: “Caroline à, em phải cẩn thận với lửa củi. Đừng để tàn lửa bay lên ống khói kẻo mái nhà sẽ cháy. Tấm bạt ấy dễ bắt lửa. Anh sẽ chẻ một vài tấm ván ốp tường rồi làm mái nhà càng sớm càng tốt để em không phải lo lắng.”

Thế là Mẹ cẩn thận đốt một dúm lửa trong lò sưởi mới, rồi nướng một con gà thảo nguyên cho bữa ăn chiều. Và mọi người dùng bữa chiều bên trong ngôi nhà.

Cả nhà ngồi ở bàn ăn đặt kế khung cửa sổ hướng tây. Bố đã nhanh chóng đóng cái bàn gồm hai tấm gỗ sồi. Một đầu của hai tấm ván được ghép vào tường nhà, còn đầu kia tựa lên một súc gỗ ngắn dựng đứng. Bố đã dùng rìu đẽo mặt bàn cho phẳng, và khi Mẹ trải tấm khăn thì bàn ăn trông thật lịch sự.

Các chiếc ghế là những súc gỗ ngắn và to. Sàn nhà vẫn còn là nền đất mà Mẹ đã quét sạch với cây chổi làm bằng những nhánh liễu. Trên nền đất, ở các góc, hai chiếc giường tạm trông tươm tất dưới tấm chăn bao phủ. Những tia nắng buổi chiều tà chiếu qua khung cửa sổ và lấp đầy ngôi nhà với ánh sáng vàng óng.

Bên ngoài và xa xa, thật xa kéo dài đến chân trời hồng, gió vẫn thổi và thảm cỏ vẫn gợn sóng.

Bên trong, ngôi nhà tạo không khí dễ chịu. Món gà nướng ngon thơm tươm nước sốt trong miệng Laura. Bé đã rửa sạch hai tay và mặt mũi, chải đầu tóc tươm tất, cột khăn ăn quanh cổ chỉnh tề. Laura ngồi thẳng người trên mặt tròn ở đầu cuối của đoạn gỗ súc, cầm dao và nĩa đúng cách theo như Mẹ đã chỉ dạy. Bé không nói năng, bởi vì trẻ em không được tự ý nói chuyện ở bàn ăn, và chỉ trả lời khi được hỏi đến. Nhưng bé nhìn Bố Mẹ, Mary và em bé Carrie trong lòng Mẹ, là đủ cảm thấy mãn nguyện. Thật là tuyệt khi lại ở trong một ngôi nhà.

Mái nhà và sàn nhà

Suốt cả ngày, nhiều ngày sau đấy, Mary và Laura đều bận rộn. Sau khi đã rửa tô đĩa và dọn giường, có hàng khối việc phải làm, phải nhìn và phải lắng nghe.

Hai chị em đi lùng kiếm những tổ chim trong thảm cỏ cao, và mỗi khi tìm ra một tổ nào thì chim mẹ luôn kêu lên oang oác với thái độ trách móc. Đôi lúc hai chị em khẽ sờ đến một cái tổ đang ngái ngủ, thế là lập tức những chiếc mỏ lấp đầy cái tổ há rộng ra và kêu ríu rít đòi ăn. Rồi chim mẹ lên tiếng phiền trách quyết liệt, nên Mary và Laura nhẹ nhàng bước đi vì hai chị em không muốn mẹ chúng lo lắng quá.

Hai chị em thích nằm yên lặng dưới cỏ cao để ngắm những đàn gà thảo nguyên bé bỏng chạy quanh quẩn và mổ thức ăn chung quanh gà mẹ lông nâu mượt đang lo lắng kêu cục-cục. Hai chị em nhìn những con rắn có sọc lướt giữa những gốc cỏ hoặc nằm thật yên, đến mức chỉ có cái lưỡi tí hon thè ra rút lại và con mắt lóng lánh mới cho thấy chúng còn sống. Có những con rắn không làm hại ai cả, nhưng hai chị em vẫn không chạm đến chúng. Mẹ bảo phải lánh xa mọi con rắn, bởi vì một số loài rắn có thể cắn, thế nên cẩn tắc vô ưu thì vẫn hơn.

Watching animals

Và đôi lúc có một con thỏ lông xám to, thật im lìm giữa những tia nắng rời rạc và bóng tối lỗ chỗ từ các bụi cỏ, đến nỗi bạn có thể đến thật gần mới nhận ra. Thế rồi, nếu bạn thật nhẹ nhàng và im lặng thì bạn có thể đứng ngắm nhìn nó một hồi lâu. Đôi mắt tròn của nó chăm chăm nhìn đến mắt bạn mà không có ý gì cả. Đầu mũi nó ngọ nguậy, ánh nắng hồng qua hai vành tai dài soi rọi những mạch máu ở mặt trong và lớp lông mịn ở mặt ngoài. Bộ lông còn lại thật dầy và thật mềm đến nỗi cuối cùng bạn không đừng được mà muốn thử ve vuốt thật từ tốn.

Rồi vụt một cái nó nhảy biến đi mất, chỗ nó ngồi còn trũng xuống và láng, vẫn còn ấm áp từ thân thể ấm của nó.

Tất nhiên là lúc nào Mary và Laura cũng phải trông nom em bé Carrie, trừ khi em ngủ. Lúc ấy, hai chị em ngồi tắm trong ánh nắng và gió mát cho đến khi Laura quên rằng em bé đang ngủ. Laura nhảy dựng lên rồi chạy và la hét cho đến khi Mẹ bước ra ngạch cửa và nói: “Trời ơi, Laura, con có cần phải la hét giống người Da đỏ không? Mẹ dám nói, các con sắp giống người Da đỏ đấy! Có thể nào Mẹ không cần phải nhắc các con đội mũ nữa không?”

Bố đang leo lên trên nhà để bắt đầu làm mái. Ông nhìn xuống và cười lớn.

Bố hát nhỏ: “Một Da đỏ nhỏ, hai Da đỏ nhỏ, ba Da đỏ nhỏ.[L] Không, chỉ có hai.”

Mary nói với Bố: “Với Bố là ba. Bố cũng có da nâu.”

Laura nói: “Nhưng Bố không nhỏ. Bố ạ, khi nào chúng ta thấy được papoose?”

Mẹ thốt lên: “Trời đất! Con muốn xem em bé người Da đỏ để làm gì? Bây giờ đội mũ lên, quên chuyện vớ vẩn ấy đi.”

Chiếc mũ của Laura treo ở cổ bé. Laura nắm hai sợi dây kéo chiếc mũ lên, và hai bên mũ phủ hai má. Khi đội mũ, Laura chỉ có thể nhìn thấy những gì ở phía trước, vì thế mà bé luôn kéo nó ra sau và để cho nó treo lủng lẳng bằng hai sợi dây cột qua cổ. Laura đội mũ lên khi Mẹ nhắc, nhưng bé vẫn không quên papoose.

Đây là vùng người Da đỏ sinh sống và Laura không hiểu tại sao mình không thấy người Da đỏ nào cả. Nhưng bé biết một lúc nào đấy mình sẽ thấy họ. Bố đã bảo thế, nhưng bé chán nản khi phải chờ đợi.

Bố đã dỡ tấm bạt xe goòng khỏi phần phía trên ngôi nhà, và bây giờ sẵn sàng lợp mái. Từ ngày này qua ngày khác Bố đẵn gỗ từ khu đất trũng dọc bờ sông rồi xẻ thành những tấm ván dài và mỏng. Từng chồng ván nằm dọc quanh ngôi nhà và nhiều tấm ván dựng lên cũng quanh đấy.

Bố nói: “Caroline à, em ra khỏi nhà đi. Anh không muốn gây rủi ro vì có bất kỳ món gì rơi trúng em hoặc Carrie.”

Mẹ đáp: “Chờ đã, Charles, để em mang cô gái chăn cừu bằng sứ đi cất.” Trong vòng một phút, Mẹ ra khỏi nhà, cùng với tấm chăn bông, đồ may vá và em bé Carrie. Mẹ trải tấm chăn bông lên thảm cỏ dưới bóng râm gần chuồng gia súc, rồi ngồi xuống để may vá và trông chừng Carrie đang chơi đùa.

Bố với xuống để kéo một tấm ván lên. Bố đặt tấm ván ngang hai đầu của rui nhà. Hai đầu tấm ván kéo dài ra khỏi tường. Rồi Bố ngậm ít cây đinh trong miệng, cầm lấy cái búa đang đeo bên hông và bắt đầu đóng đinh trên hai đầu tấm ván xuống rui.

Chú Edwards đã cho Bố mượn đinh. Hai người đã gặp nhau trong rừng nơi họ đang đẵn gỗ, và chú Edwards nhất định muốn Bố phải mượn đinh để lợp nhà.

Khi kể cho Mẹ nghe chuyện này, Bố nói: “Thế mới là tình làng nghĩa xóm!”

Mẹ nói: “Đúng thế. Nhưng em không muốn mang ơn, ngay cả đối với láng giềng tốt bụng.”

Bố đáp: “Anh cũng vậy. Anh chưa bao giờ mang ơn ai, và sẽ không bao giờ muốn mang ơn. Nhưng tình làng nghĩa xóm là việc khác, và ngay khi anh có thể đi Independence thì anh sẽ trả lại cho anh ấy tất cả số đinh anh đã mượn.”

Bây giờ, Bố cẩn thận lấy từng cây đinh ra khỏi miệng, dùng búa đóng mạnh lên tấm ván. Công việc này nhanh hơn nhiều so với khoan lỗ, đẽo chốt gỗ rồi đóng chốt gỗ vào lỗ. Nhưng đôi lúc sau khi đóng cây búa xuống, một cây đinh bật ra khỏi mặt gỗ sồi cứng, và nếu Bố nắm nó không chặt thì nó bay lên không trung.

Khi thấy cây đinh rơi xuống, Mary và Laura đi tìm trong các bụi cỏ cho bằng được. Đôi lúc cây đinh bị cong. Lúc ấy Bố cẩn thận gõ cho nó thẳng lại. Không bao giờ được làm mất hoặc hoang phí dù một cây đinh.

Bo lop mai nha

Sau khi đóng được hai tấm ván, Bố bò lên đấy. Bố đặt thêm ván và đóng đinh, cho đến phần cao nhất của rui. Rìa của một tấm ván bên trên chồng lên rìa của tấm ván bên dưới.

Bố lại bắt đầu với phía bên kia của ngôi nhà, và lại đóng các tấm ván từ dưới lên trên. Bố để một khe hở nhỏ giữa hai tấm ván cao nhất. Rồi Bố làm một máng nhỏ gồm hai tấm ván, đóng đinh xuống máng này, úp ngược xuống qua khe hở.

Thế là mái nhà đã xong. Ngôi nhà tối hơn khi trước, bởi vì ánh sánh không chiếu qua được các tấm ván làm mái nhà. Không có bất kỳ một khe hở nào kẻo nước mưa sẽ rơi vào nhà.

Mẹ nói: “Charles ạ, anh đã làm xong một công tác xuất sắc, và em cảm kích vì đã có một mái nhà tốt che trên đầu em.”

Bố đáp: “Em cũng sẽ có đồ nội thất, loại tốt nhất mà anh có thể làm được. Anh sẽ đóng khung giường ngay sau khi lót sàn nhà.”

Bố bắt đầu vận chuyển súc gỗ về. Từ ngày này qua ngày khác Bố lo vận chuyển súc gỗ. Thậm chí Bố không dừng việc vận chuyển để đi săn; Bố mang theo khẩu súng trên xe goòng và đến tối mang về bất kỳ con thịt nào Bố bắn được từ xe goòng.

Khi đã vận chuyển đủ các súc gỗ để làm sàn nhà, Bố bắt đầu xẻ các súc gỗ này. Bố xẻ mỗi súc gỗ thẳng xuống ở chính giữa. Laura thích ngồi trên đống gỗ mà quan sát Bố.

Đầu tiên, Bố vung chiếc rìu xuống thật mạnh để để chẻ một đầu súc gỗ. Rồi Bố giật chiếc rìu ra khỏi súc gỗ và đóng một cái nêm sắt vào khe hở. Súc gỗ cứng sẽ chẻ ra một ít xa thêm.

Bố chẻ lần lên súc gỗ sồi cứng ấy. Bố vung chiếc rìu xuống khe hở. Bố đóng những khối gỗ vào đó, và dời cái nêm sắt lên cao hơn. Từ chút một Bố xẻ theo khe hở của súc gỗ.

Bố giơ chiếc rìu cao lên, vung xuống qua một vòng rộng với một tiếng “Hự!” trong lồng ngực. Chiếc rìu kêu vèo và giáng xuống, bụp! Nó luôn giáng xuống chính xác nơi Bố nhắm đến.

Cuối cùng, với một tiếng rắc, cả súc gỗ chẻ ra. Hai nửa của súc gỗ nằm trên đất, để lộ ra phần bên trong mầu nhạt của thân cây và sọc sẫm ở giữa. Rồi Bố lau mồ hôi trán, lại nắm lấy chiếc rìu mà xẻ súc gỗ khác.

Đến một ngày Bố xẻ súc gỗ cuối cùng, và sáng hôm sau Bố bắt đầu lát sàn nhà. Bố kéo từng súc gỗ xẻ nửa vào trong nhà và đặt kế tiếp nhau, mặt phẳng hướng lên trên. Bố dùng một cái mai để nạo đất phía dưới cho lõm, rồi đặt mặt tròn của súc gỗ xẻ xuống sát với mặt lõm của đất. Bố dùng rìu để đẽo mép vỏ cây và cắt cho thẳng, để mỗi khúc gỗ khớp với khúc gỗ kế bên, ít có khe hở giữa hai khúc gỗ.

Bố cầm lấy đầu rìu, chặt nhè nhẹ và cẩn thận để mặt gỗ được láng. Bố nheo mắt nhìn dọc theo chiều dài khúc gỗ để biết chắc bề mặt gỗ được thẳng. Bố đẽo chỗ này chỗ kia lần cuối. Rồi Bố xoa bàn tay lên mặt gỗ láng, và gật đầu.

Bố nói: “Không có một mảnh dầm nào. Như thế là ổn cho các bàn chân trần nhỏ nhắn chạy lên trên.”

Bố để khúc gỗ ấy khít vào vị trí của nó, rồi kéo một khúc khác vào.

Khi lát sàn gần lò sưởi, Bố dùng những súc gỗ ngắn hơn. Bố chừa lại một khoảnh nền đất trước sàn lò sưởi, để tàn lửa hoặc than văng ra từ ngọn lửa không làm cháy sàn.

Đến một ngày, sàn nhà xong xuôi. Sàn láng, chắc và cứng, một sàn nhà tốt bằng gỗ sồi mà Bố cho biết sẽ dùng được vĩnh viễn.

Bố nói: “Làm sàn nhà thì không gì tốt bằng gỗ súc cứng.” Mẹ nói bà lấy làm vui không phải ở trên nền đất nữa. Mẹ đặt lại hình cô gái bằng sứ trên bệ lò sưởi, và trải một tấm vải sọc vuông mầu đỏ trên mặt bàn.

Mẹ nói: “Xong rồi. Bây giờ mình lại sống như người văn minh.”

Sau đó, Bố bịt kín những khe hở trên các bức tường. Bố đóng những miếng gỗ mỏng vào các khe nứt, rồi tô bùn lên, lấp lại mọi khe hở.

Mẹ nói: “Công việc rất tốt. Bịt hết khe hở như thế thì sẽ được kín gió cho dù gió bên ngoài mạnh đến đâu.”

Bố ngưng huýt sáo để mỉm cười với Mẹ. Bố vỗ miếng bùn cuối cùng giữa hai súc gỗ, tô bên ngoài cho láng rồi đặt cái chậu xuống. Cuối cùng, ngôi nhà đã được hoàn thành.

Bố nói: “Anh ước gì mình có kính để làm khung cửa sổ.”

Mẹ nói: “Charles ạ, mình không cần kính.”

Bố nói: “Dù sao chăng nữa, nếu mùa đông này anh săn bắn và đặt bẫy được khá, thì sang xuân anh sẽ mua một ít kính ở Independence. Và chi phí không là gì cả!”

Mẹ nói: “Nếu mình có đủ khả năng thì cửa sổ kính là rất tốt. Nhưng để tính sau.”

Cả gia đình cảm thấy hạnh phúc đêm hôm ấy. Ngọn lửa trong lò sưởi thật dễ chịu, bởi vì trên Thảo nguyên Cao đêm mùa hè vẫn lành lạnh. Tấm vải sọc vuông mầu đỏ trên mặt bàn, hình cô gái bằng sứ trên bệ lò sưởi, và sàn nhà mới ửng ánh vàng dưới ngọn lửa lò sưởi bập bùng. Bên ngoài, đêm vô cùng bao la và đầy sao. Bố ngồi trên ngạch cửa một hồi lâu, kéo đàn và hát theo điệu nhạc cho Mẹ cùng Mary và Laura trong nhà và cho đêm đầy sao bên ngoài cùng thưởng thức.

Người Da đỏ vào nhà

Một buổi sáng sớm, Bố cầm súng đi săn. Bố đã định sẽ đóng khung giường ngày hôm ấy. Bố chuẩn bị mang những tấm ván gỗ vào nhưng Mẹ cho biết nhà không còn thịt cho bữa chiều. Thế là Bố để các tấm ván gỗ dựa tường và mang khẩu súng xuống.

Pa goes hunting

Jack cũng muốn đi săn. Đôi mắt nó nài nỉ Bố cho nó đi theo, những tiếng rên rỉ cứ phát ra từ lồng ngực và những âm thanh run rẩy từ cổ họng cho đến lúc Laura gần bật khóc với nó. Nhưng Bố lấy dây xích cột nó vào chuồng gia súc.

Bố bảo Jack: “Không được, Jack. Mày phải ở nhà để lo canh giữ.” Rồi Bố bảo Mary và Laura: “Hai con, đừng thả nó ra.”

Con Jack tội nghiệp đành nằm xuống. Quả là nhục nhã khi bị xiềng xích, và nó cảm nhận sâu sắc về điều này. Nó quay đầu, không muốn nhìn Bố ra đi với khẩu súng quàng trên vai. Bố đi xa dần và xa dần, cho đến khi thảm cỏ cao dường như nuốt chửng lấy ông, thế là hình dáng ông biến mất hẳn.

Laura cố gắng an ủi Jack, nhưng nó vẫn buồn. Càng nghĩ về sợi dây xích đang cột nó vào chuồng, nó càng buồn thêm. Laura thử chơi đùa với nó để nó vui lên, nhưng nó lại càng âu sầu.

Cả Mary và Laura đều nghĩ rằng không nên bỏ Jack một mình trong khi nó buồn đến thế. Vì vậy mà suốt buổi sáng hai chị em chơi gần chuồng gia súc. Hai chị em vuốt ve đầu mượt mà nâu đốm của Jack, gãi quanh hai vành tai, thầm thì nói chuyện cho nó biết hai chị em lấy làm tiếc mà thấy nó bị xích. Nó liếm nhanh tay hai chị em, rồi vẫn buồn bã và tức giận.

Trong khi nó đặt đầu tựa trên đầu gối của Laura và bé đang nói chuyện với nó, thình lình nó đứng dậy, gầm gừ những tiếng hung dữ, nặng nề. Lông trên cổ nó dựng đứng, đôi mắt tóe mầu đỏ. Laura kinh hãi. Trước đây Jack chưa bao giờ gầm gừ với bé. Rồi Laura quay nhìn lại phía sau nơi Jack đang nhìn, và bé thấy hai người đàn ông đang đi đến, gần như chẳng mặc quần áo gì cả, trông bộ dạng hoang dã. Người này đi sau người kia trên đường mòn của Người Da đỏ.

Laura kêu lên: “Chị Mary, xem kìa!” Mary nhìn và cũng nhận ra. Hai người đàn ông có vóc dáng cao và gầy, gương mặt trông dữ tợn. Da họ có mầu nâu-đỏ. Đầu họ trông như thuôn nhọn lên thành một đỉnh cao, và đỉnh ấy là một túm tóc dựng thẳng lên, trên cùng là một túm lông chim. Đôi mắt hai người có mầu đen, bất động và sáng long lanh, giống như mắt rắn.

Hai người tiến đến gần thêm. Rồi họ khuất bóng, phía bên kia của ngôi nhà. Laura và Mary đều quay đầu nhìn về phía hai người vừa biến mất họ khi đi qua ngôi nhà.

Mary thầm thì: “Người Da đỏ!” Laura cảm thấy lạnh người; có một cảm giác kỳ quặc trong bụng, và đôi chân run rẩy như yếu hẳn đi. Bé muốn ngồi xuống. Nhưng Laura vẫn cố đứng, ngóng nhìn và chờ xem hai người Da đỏ kia đi qua khỏi chỗ ngôi nhà che khuất họ. Không thấy hai người Da đỏ đi qua.

Jack vẫn luôn gầm gừ từ khi trông thấy hai người. Bây giờ nó không gầm gừ nữa, mà muốn bứt ra khỏi sợi xích. Đôi mắt nó long sòng sọc mầu đỏ, đuôi cong về sau, cả đám lông trên lưng nó xù lên. Nó cứ nhảy dựng lên khỏi mặt đất, cố thoát ra khỏi sợi dây xích. Laura thấy vui vì sợi xích giữ cho Jack ở gần bên mình.

Laura thầm thì với Chị Mary: “Jack đang ở đây. Jack sẽ không để cho ai làm hại mình. Chúng ta sẽ an toàn nếu ở kế bên Jack.”

Chị Mary thầm thì: “Họ đã vào nhà. Họ đang ở trong nhà với Mẹ và Carrie.”

Laura bắt đầu run rẩy toàn thân. Bé biết mình phải làm gì đấy. Bé không rõ hai người Da đỏ kia đang làm gì với Mẹ và em bé Carrie. Trong nhà không có tiếng động nào. Laura kìm giọng nhưng muốn thét lên: “Chết, họ đang làm gì với Mẹ?”

Mary thầm thì đáp: “Chị không biết.”

Laura khàn khàn nói nhỏ: “Em định thả Jack ra. Jack sẽ cắn chết họ.”

Mary nói: “Bố bảo đừng mà.” Hai chị em quá kinh sợ nên không dám nói lớn tiếng. Hai chị em chụm đầu vào nhau, nhìn vào ngôi nhà mà thầm thì với nhau.

Laura nói: “Bố đã không biết người Da đỏ sẽ đến đây.”

Chị Mary nói gần như khóc: “Bố bảo đừng thả Jack ra.”

Laura nghĩ đến Mẹ và em bé Carrie đang bị kẹt trong ngôi nhà có hai người Da đỏ. Bé nói: “Để em đi giúp Mẹ.”

Laura chạy hai bước, đi một bước, rồi quay người chạy về phía Jack. Bé ôm lấy nó, hai tay quàng qua cổ vạm vỡ của nó đang thở mạnh. Jack sẽ không để cho ai làm hại bé.

Chị Mary thì thầm: “Ta không được để Mẹ một mình trong ấy.” Bé đứng như chôn chân, run rẩy. Mary không thể làm gì khi quá sợ hãi.

2 Da doLaura giấu mặt sát với Jack và ôm chặt lấy nó. Rồi bé buông tay ra. Hai bàn tay bé nắm lại thành hai quả đấm, đôi mắt nhắm tít, rồi bé chạy thật nhanh vào nhà.

Laura loạng choạng ngã xuống, đôi mắt trợn dọc. Bé lại đứng dậy, lại chạy mà không kịp suy nghĩ gì cả. Mary chạy theo sát phía sau. Hai chị em chạy đến cửa ra vào. Cánh cửa đang mở, thế là hai chị em luồn vào nhà không một tiếng động.

Hai người đàn ông hoang dã hầu như trần truồng đứng kế bên lò sưởi. Mẹ đang cắm cúi bên bếp lò để nấu món gì đấy. Hai tay bé Carrie đang bấu lấy tà váy của Mẹ, mặt giấu vào trong các nếp gấp.

Laura chạy đến Mẹ, nhưng vừa đến gần lò sưởi bé ngửi thấy một mùi hôi kinh khủng, rồi bé nhìn lên hai người Da đỏ. Nhanh như chớp, Laura nấp vào tấm ván dài và hẹp dựng bên bức tường.

Laura nup

Tấm ván vừa đủ rộng để che lấp cả hai mắt bé. Nếu Laura giữ cho người thật yên và ép đầu mũi vào tấm ván thì bé không thể nhìn thấy hai người Da đỏ. Và bé cảm thấy yên ổn. Nhưng bé chẳng đặng đừng mà nhô đầu ra một tí, để ló một mắt ra mà nhìn hai người đàn ông hoang dã.

Đầu tiên, Laura nhìn ra đôi giầy da đanh của họ. Rồi Laura nhìn lên dọc đôi chân khẳng khiu, trần trụi, đỏ-nâu. Chung quanh eo, mỗi người Da đỏ mang một dây da, và một miếng da còn mang lông của một con thú nhỏ treo phía trước eo. Lông trên miếng da có mầu đen sọc trắng, và bây giờ Laura mới biết mùi hôi ấy đến từ đâu. Miếng da là da còn tươi của chồn hôi. Một con dao giống như dao của Bố và một chiếc rìu giống như rìu của Bố giắt vào miếng da. Xương sườn của hai người Da đỏ nổi to hai bên thân. Hai cánh tay của họ gấp lại trước ngực. Khi nhìn đến khuôn mặt hai người, Laura hoảng hốt núp lại sau tấm ván.

Khuôn mặt hai người trông can trường, hung dữ và kinh khủng. Đôi mắt đen sáng long lanh. Phía trên trán và vành tai đáng lẽ có tóc thì lại trọc. Nhưng trên đỉnh đầu có một dúm tóc dựng đứng thẳng lên. Một sợi dây cuộn quanh dúm tóc này, và những lông chim cắm lên đấy.

Khi Laura lại lén dòm ra từ sau tấm ván, bé thấy cả hai người Da đỏ đang nhìn đến mình. Tim bé hầu như nhảy ra khỏi lồng ngực! Hai con mắt đen long lanh nhìn xuống mắt bé. Người Da đỏ này không cử động gì cả, làn da mặt cũng không thể hiện thái độ gì. Chỉ có đôi mắt anh ta chiếu long lanh đến bé. Laura cũng không cử động. Bé không dám thở mạnh.

Người Da đỏ ấy kêu lên hai tiếng ngắn và khàn trong cổ họng. Người Da đỏ kia kêu lên một tiếng, nghe như “Ha!” Laura lại giấu hai mắt sau tấm ván.

Bé nghe tiếng Mẹ mở nắp lò nướng. Bé nghe tiếng hai người Da đỏ ngồi xuống trước lò sưởi. Sau một lúc, bé nghe tiếng họ ăn.

Laura ló mặt ra, rồi thụt vào, rồi ló mặt ra lại, trong khi hai người Da đỏ ăn món bánh mỳ bắp do Mẹ vừa nướng. Hai người ăn hết cả các mảnh vụn, lại còn nhặt những mảnh rơi trên nền lò sưởi. Mẹ đứng nhìn họ và vuốt ve đầu em bé Carrie. Mary đứng sát phía sau Mẹ và nắm lấy tay áo bà.

Laura nghe tiếng sợi xích của Jack kêu lóc cóc nho nhỏ. Hóa ra Jack vẫn đang cố thoát ra khỏi sợi xích.

Sau khi đã ăn hết chiếc bánh mỳ bắp kể cả mọi mảnh vụn, hai người Da đỏ đứng dậy. Khi hai người cử động, mùi chồn hôi lại càng nồng nặc. Một trong hai người lại kêu lên những tiếng ngắn và khàn trong cổ họng. Mẹ tròn mắt nhìn hai người; bà không nói lời nào. Một người Da đỏ quay đi, người kia cũng quay đi, rồi họ đi ra cửa. Bàn chân họ không gây ra tiếng động nào cả.

Mẹ thở dài, một tiếng rõ dài. Mẹ ôm chặt Laura trong một vòng tay và Mary trong vòng tay kia. Qua khung cửa sổ, ba mẹ con thấy hai người Da đỏ, người đi trước người đi sau, đi trên con đường mòn lờ mờ hướng về phía tây. Rồi Mẹ ngồi xuống giường, lại ôm Mary và Laura chặt hơn, và run rẩy. Thần sắc Mẹ trông như bị bệnh.

Mary hỏi: “Mẹ ạ, Mẹ không khỏe hay sao?”

Mẹ đáp: “Mẹ vẫn khỏe. Mẹ chỉ mừng là họ đi rồi.”

Laura nhăn mũi và nói: “Họ hôi kinh quá.”

Mẹ nói: “Họ mang da chồn hôi đấy.”

Rồi hai chị em kể cho Mẹ nghe chuyện đã bỏ Jack một mình bên ngoài và đi vào bởi vì hai bé sợ người Da đỏ sẽ làm hại Mẹ và em bé Carrie. Mẹ bảo hai bé là hai cô gái nhỏ can đảm.

Mẹ nói: “Bây giờ ta phải chuẩn bị bữa ăn chiều. Bố sắp về rồi; ta phải lo sẵn sàng cho Bố. Mary, đi lấy cho Mẹ ít củi. Laura, con bày bàn ăn.”

Mẹ xắn hai tay áo, rửa tay rồi trộn bột bắp, trong khi Mary mang củi vào và Laura bày bàn ăn. Bé bày đĩa thiếc, dao, nĩa và cốc cho Bố, một bộ như thế cho Mẹ, với cốc thiếc nhỏ cho em bé Carrie kế bên cốc thiếc của Mẹ. Rồi bé bày đĩa thiếc, dao và nĩa cho Chị Mary và cho bé, nhưng chỉ có một chiếc cốc dùng chung cho hai chị em.

Mẹ nhồi bột bắp thành hai ổ bánh, mỗi ổ hình nửa vòng tròn. Mẹ đặt hai ổ bánh với cạnh thẳng quay vào nhau trong lò nướng, và ép bàn tay phía trên mỗi ổ bánh. Bố luôn nói rằng ông không cần thêm bất cứ thứ gì làm cho bánh ngọt, khi Mẹ in dấu bàn tay trên ổ bánh.

Laura vừa bày bàn ăn xong xuôi thì Bố về đến. Bố để một con thỏ và hai con gà thảo nguyên bên ngoài cửa, bước vào rồi treo khẩu súng lên hai chiếc móc. Mary và Laura chạy đến ôm lấy Bố, cả hai mở miệng nói cùng một lúc.

Bố vừa vò mái tóc hai chị em vừa hỏi: “Chuyện gì thế? Chuyện gì? Thế là cuối cùng con đã thấy người Da đỏ, phải không Laura? Bố để ý thấy họ có một trại dưới một thung lũng nhỏ về hướng tây. Họ có vào nhà không, Caroline?”

Mẹ nói: “Có, Charles ạ. Hai người. Em thấy tiếc là họ lấy đi hết thuốc lá của anh rồi, và còn ăn nhiều bánh bắp. Họ chỉ đến bột bắp và ra dấu bảo em làm cho họ ăn. Em sợ quá nên phải làm. Ôi, Charles ơi! Em sợ!”

Bố nói: “Em làm thế là đúng. Mình không muốn gây thù chuốc oán với họ.” Rồi Bố nói: “Chà! mùi gì kinh quá!”

Mẹ nói: “Họ mang da chồn hôi. Và họ chỉ ăn mặc có thế.”

Bố nói: “Khi họ ở đây thì mùi hẳn phải nặng lắm.”

“Đúng thế, Charles ạ. Chúng ta lại sắp cạn hết bột bắp.”

“Ôi giào. Mình còn đủ để cầm cự một thời gian. Lại có thịt chạy tung tăng khắp vùng. Caroline à, đừng lo.”

“Nhưng họ lấy hết thuốc lá của anh.”

Bố nói: “Không sao. Anh có thể nhịn thuốc lá cho đến lúc đi Independence một chuyến. Chuyện quan trọng là giữ hòa khí với người Da đỏ. Mình không muốn giữa đêm khuya thức dậy nghe thất thanh một đám qu—”

Bố ngưng bặt. Laura rất muốn biết Bố định nói gì. Nhưng Mẹ mím môi và khẽ lắc đầu về phía Bố.

Bố nói: “Nào, Mary và Laura! Ta lột da con thỏ ấy và ướp thịt hai con gà thảo nguyên trong khi chờ bánh mỳ bắp chín. Nhanh lên! Bố đói rã ruột rồi!”

Hai chị em ngồi trên đống củi giữa gió lộng và ánh mặt trời nhìn Bố làm việc với con dao săn. Bố nói con thỏ to bị bắn giữa hai mắt, còn đầu hai con gà bị bắn bay đi. Chúng không biết bị cái gì bắn trúng.

Laura giữ lấy rìa tấm da thỏ trong khi con dao của Bố rọc tiếp tấm da khỏi lớp thịt. Bố nói: “Bố sẽ ướp muối tấm da rồi căng trên tường nhà cho khô. Nó sẽ làm thành chiếc mũ lông thú ấm áp cho bé gái nào đấy đội trong mùa đông tới.”

Nhưng Laura không thể nào quên hai người Da đỏ. Bé nói với Bố rằng nếu thả Jack ra thì nó có thể xơi ngay hai người Da đỏ ấy.

Bố đặt con dao xuống, hỏi với giọng kinh hoàng: “Hai con đã nghĩ đến việc thả Jack ra hở?”

Laura cúi gằm mặt, nói nhỏ: “Vâng, Bố ạ.”

Giọng Bố nghe kinh hoàng hơn: “Sau khi Bố đã dặn đừng làm thế hở?”

Laura không trả lời được, nhưng giọng Chị Mary nghẹn lại: “Vâng, Bố ạ.”

Bố im lặng một lúc. Bố thở ra một hơi dài giống như Mẹ đã thở dài sau khi hai người Da đỏ ra đi.

Với giọng nghe khiếp đảm, Bố nói: “Sau chuyện này, hai con phải luôn nhớ làm theo lời Bố. Thậm chí đừng có nghĩ đến việc cãi lời Bố. Hai con nghe ra chưa?”

Mary và Laura cùng đáp nhỏ: “Vâng, Bố ạ.”

Bố hỏi: “Hai con có biết chuyện gì sẽ xảy ra không nếu thả Jack ra?”

Hai chị em đáp nhỏ: “Không, Bố ạ.”

Bố đáp: “Lúc ấy, nó sẽ cắn hai người Da đỏ, rồi thì rắc rối sẽ xảy ra. Rắc rối to. Hai con hiểu không?”

Mary và Laura cùng đáp: “Vâng, Bố ạ.” Nhưng hai chị em không hiểu.

Laura hỏi: “Liệu họ có giết Jack không?”

“Có. Nhưng không chỉ có thế thôi đâu. Hai con cần nhớ điều này: Làm theo lời Bố dặn, cho dù xảy ra bất kỳ chuyện gì.”

Laura đáp: “Vâng, Bố ạ.” Chị Mary cũng đáp: “Vâng, Bố ạ.” Hai chị em thấy mừng vì mình đã không thả Jack ra.

Bố nói: “Cứ làm theo lời Bố dặn, rồi hai con sẽ không sao cả.”

Nước sạch để uống

Bố đã đóng xong khung giường.

Bố đã chà láng các tấm gỗ sồi cho đến khi không còn sót lại một mảnh dăm nào. Rồi Bố đóng chốt gỗ để ráp các tấm gỗ lại với nhau. Bốn tấm làm thành một cái hộp để chứa nệm lót. Ở ngang mặt dưới Bố căng một dây thừng chạy chéo qua chéo lại rồi kéo cho chặt.

Bố đóng chốt gỗ thật chắc một đầu khung giường vào tường, ở một góc ngôi nhà. Chỉ có một góc giường là không sát với tường. Ở góc này, Bố đặt một tấm ván cao, đóng chốt gỗ vào khung giường. Trên tầm cao Bố có thể với tới, ông đóng chốt hai bản gỗ sồi vào tường và vào tấm ván cao. Rồi Bố leo lên đấy, đóng chốt đầu tấm ván cao cho chặt vào rui. Và trên hai bản gỗ sồi, Bố đặt một ngăn kệ, phía trên giường.

Bố nói: “Caroline, xong rồi đấy.”

Mẹ nói: “Em nóng lòng thấy nó hoàn tất xong xuôi. Anh mang hộ nệm lót vào cho em.”

Sáng hôm ấy Mẹ đã nhồi nệm lót. Vì Thảo nguyên Cao không có rơm, nên Mẹ đã dùng cỏ khô sạch để nhồi vào tấm đệm. Cỏ nóng dưới ánh mặt trời và vẫn còn mùi cỏ ngọt dịu. Bố giúp Mẹ mang tấm nệm vào nhà rồi đặt vào khung giường. Mẹ tấn tấm trải giường lên, rồi trải tấm chăn bông. Mẹ đặt các chiếc gối lông ngỗng ở đầu giường rồi trải các tấm khăn phủ gối lên. Trên mỗi tấm khăn phủ gối trắng có hai con chim nhỏ được thêu bằng chỉ đỏ.

Bố Mẹ, Laura và Mary đứng chiêm ngưỡng chiếc giường. Đấy là một chiếc giường tiện nghi. Dây thừng đặt chéo qua chéo lại ở dưới làm cho giường êm hơn là đặt ngay trên sàn. Tấm nệm căng đầy cỏ có mùi thơm, tấm chăn bông mịn màng, và các tấm khăn phủ gối thẳng thớm. Khi có chiếc giường tươm tất thì ngôi nhà mang không khí ấm cúng thêm.

Đêm ấy khi đi ngủ, Mẹ nằm lên tấm nệm nhồi cỏ và nói với Bố: “Em dám nói mình cảm thấy thật tiện nghi đến mức dễ sinh lười biếng.”

Mary và Laura vẫn còn ngủ trên sàn, nhưng Bố sẽ đóng giường nhỏ cho hai bé ngay khi có thời giờ. Bố đã đóng được một chiếc giường lớn, và đã đóng được tủ đựng thức ăn có khóa, thế là người Da đỏ không thể lấy đi hết bột bắp nếu họ trở lại. Bây giờ Bố chỉ cần đào giếng nước, và đi thị trấn một chuyến. Bố phải lo đào giếng trước để Mẹ có nước dùng trong khi Bố đi vắng.

Sáng hôm sau, Bố đánh dấu một vòng tròn rộng trên bãi cỏ gần góc nhà. Bố dùng xẻng xắn lớp đất mặt bên trong vòng tròn, nhấc những mảng to lên. Rồi Bố bắt đầu xúc đất ra, đào xuống sâu hơn và sâu hơn nữa.

Mary và Laura không được đến gần giếng trong khi Bố đang đào. Thậm chí khi hai chị em không còn thấy đầu Bố, và khi Bố mạnh mẽ ném từng xẻng đất lên. Cuối cùng chiếc xẻng bay lên và rơi xuống bãi cỏ. Rồi Bố nhảy. Hai tay Bố nắm lấy đất mặt, rồi một cùi tay bám lấy đất, rồi cùi tay kia, và Bố nhấc thân người lên khỏi giếng. Bố nói: “Bố không thể ném đất từ đáy giếng lên được nữa.”

Bây giờ Bố cần sự hỗ trợ. Thế là Bố cầm khẩu súng và cưỡi con Patty đi. Khi trở về, Bố mang một con thỏ béo mập, và đã thỏa thuận vần công với Ông Scott. Ông này sẽ giúp Bố đào giếng cho nhà, rồi Bố sẽ giúp đào giếng của Ông Scott.

Mẹ, Mary và Laura chưa được gặp hai ông bà Scott. Ngôi nhà của họ nằm khuất ở đâu đấy dưới một thung lũng nhỏ trên thảo nguyên.

Sáng hôm sau lúc mặt trời mọc, Ông Scott đến. Ông có vóc người thấp và rắn chắc. Tóc ông bị nắng làm bạc, da đỏ lựng và đóng vảy. Da ông không sạm nắng, mà bong ra.

Ông nói: “Chỉ tại cái nắng gió ôn dịch! Xin lỗi bà, nhưng đến thánh chắc cũng phải nói ngôn ngữ bỗ bã. Đáng lẽ tôi phải làm thân con rắn, theo cách tôi lột da khi sống ở vùng này.”

Dao gieng

Laura mến ông. Mỗi sáng, ngay sau khi phụ giúp rửa bát đĩa và dọn giường, bé chạy ra để xem ông Scott và Bố làm việc ở giếng. Ánh nắng chói chang, ngay cả gió cũng nóng, và thảm cỏ trên thảo nguyên đang ngả vàng. Chị Mary thích ở trong nhà để may tấm chăn bông ghép vải. Nhưng Laura thích ánh nắng chói chang, mặt trời cùng gió lộng, và bé không muốn xa rời cái giếng. Nhưng bé không được phép đến gần miệng giếng.

Gieng nuoc_GOOD

Bố và Ông Scott đã làm ra một trục quay chắc chắn. Trục quay được đặt trên miệng giếng, và hai chiếc thùng được treo vào trục quay bằng dây thừng. Khi quay trục quay, một thùng đi xuống giếng và thùng kia đi lên. Buổi sáng, Ông Scott đi xuống đáy giếng qua dây thừng rồi đào đất. Ông nhanh nhẹn cho đất vào hai thùng trong khi Bố cũng nhanh nhẹn kéo thùng lên và đổ đất ra ngoài. Sau bữa ăn trưa, Bố xuống đáy giếng để đào đất trong khi ông Scott kéo thùng lên và đổ đất.

Mỗi sáng, trước khi Bố cho Ông Scott xuống giếng qua sợi dây thừng, Bố thắp một cây nến trong thùng rồi hạ thùng xuống đáy giếng. Có một lần Laura lén nhìn trên miệng giếng và thấy cây nến cháy sáng dưới đáy tối tăm.

Rồi Bố nói: “Trông có vẻ ổn.” Bố kéo thùng lên và thổi tắt ngọn nến.

Ông Scott nói: “Ingalls, làm như vậy là điên rồ. Ngày hôm qua giếng vẫn ổn.”

Bố đáp: “Bạn không biết được đâu. Cẩn tắc vô ưu mà.”

Laura không biết Bố muốn tìm sự nguy hiểm gì qua cây nến cháy ấy. Bé không hỏi, bởi vì Bố và Ông Scott đang bận rộn. Bé định sẽ hỏi sau, nhưng lại quên.

Một buổi sáng, Ông Scott đến trong khi Bố đang dùng điểm tâm. Gia đình nghe ông gọi to: “Này, Ingalls! Sáng rồi! Đi thôi!” Bố uống xong cốc cà phê rồi đi ra ngoài.

Trục quay bắt đầu kêu cót két và Bố bắt đầu huýt sáo. Mary và Laura đang rửa tô đĩa và Mẹ đang dọn giường, thì tiếng huýt sáo của Bố ngưng bặt. Rồi họ nghe Bố kêu lên: “Scott!” Bố hét lên: “Scott! Scott!” Rồi Bố gọi: “Caroline! Đến đây nhanh lên!”

Mẹ chạy ra khỏi nhà. Laura chạy theo sau.

Bố nói: “Scott bất tỉnh, hay bị gì đấy, dưới kia. Anh phải xuống với anh ấy.”

Mẹ hỏi: “Anh có đưa nến xuống không?”

“Không. Anh nghĩ anh ấy đã làm rồi. Anh hỏi có ổn không, và anh ấy cho biết ổn.” Bố cắt chiếc thùng ra khỏi dây thừng rồi cột chặt dây thừng vào trục quay.

Mẹ nói: “Charles, không nên. Anh không được làm thế.”

“Caroline, anh phải xuống.”

“Không được. Đừng, Charles!”

“Anh biết cách. Anh sẽ nín thở cho đến khi trở lên. Mình không thể để anh ấy chết dưới đó.”

Mẹ nghiêm giọng nói: “Laura, lui ra!” Thế là Laura lui ra. Bé đứng tựa vào tường nhà và run rẩy.

“Không, không, Charles! Em không để anh xuống. Cưỡi con Petty đi tìm người giúp.”

“Không có thời giờ.”

“Charles, nếu em không kéo anh lên được… nếu anh ngã úp xuống dưới đó và em không kéo anh lên được…”

Bố nói: “Caroline, anh phải xuống.” Bố quay người xuống giếng. Đầu Bố dần mất dạng, dưới dây thừng.

Mẹ quỳ, lấy tay che bớt mắt để nhìn cho rõ xuống giếng.

Trên khắp thảo nguyên, những con chiền chiện đồng đang bay lên, ca hót, tung cao trên bầu trời. Gió nóng đang thổi, nhưng Laura cảm thấy lạnh người.

Thình lình Mẹ nhảy dựng lên và nắm lấy cần trục quay. Mẹ cố hết sức quay mạnh cần. Dây thừng căng ra, trục quay kêu kèn kẹt. Laura nghĩ rằng Bố đã ngã úp xuống và Mẹ không kéo Bố lên được. Nhưng trục quay đã quay một ít, rồi thêm một ít.

Gieng nuoc B._GOOD

Một bàn tay của Bố xuất hiện, nắm chặt lấy dây thừng. Bàn tay kia đưa lên phía trên và nắm lấy dây thừng. Rồi đầu của Bố xuất hiện. Cánh tay Bố giữ lấy trục quay. Rồi bằng cách nào đấy Bố lên được mặt đất và ngồi phịch xuống.

Trục quay xoay tít và một tiếng thịch vang lên từ đáy giếng. Bố cố đứng dậy nhưng Mẹ nói: “Ngồi yên, Charles! Laura, đi lấy nước. Nhanh lên!”

Laura chạy. Bé vội quay lại, kéo lê theo một xô nước. Bố và Mẹ đang quay trục quay. Dây thừng từ từ cuốn vào trục, chiếc thùng đi lên từ đáy giếng, và cột vào chiếc thùng cùng dây thừng là Ông Scott. Tay chân và đầu ông buông thõng và lắc lư, miệng hơi hé mở, mắt nửa mở nửa nhắm.

Bố đẩy ông Scott nằm trên cỏ. Bố lăn ông và thân người ông cứ nhũn ra. Bố thăm dò cổ tay ông, lắng nghe trên lồng ngực ông, rồi Bố nằm xuống bên cạnh ông.

Bố nói: “Anh ấy còn thở. Anh ấy sẽ ổn thôi nơi có không khí. Anh ổn, Caroline à. Anh mệt phờ người, chỉ có thế.”

Mẹ trách móc: “Hừ! Em nghĩ anh phải mệt! Cứ làm chuyện điên rồ! Trời đất ơi! làm cho người ta hãi đến chết, chỉ vì thiếu một chút quan tâm đúng mức! Ôi trời! Em…” Mẹ vùi mặt trong tấm tạp dề mà khóc ngất lên.

Đấy là một ngày khủng khiếp.

Mẹ nức nở: “Em không cần giếng nước. Nó không đáng. Em không muốn anh chịu rủi ro như thế!”

Ông Scott đã hít phải một loại khí độc ở sâu dưới đất. Khí độc ở dưới đáy giếng bởi vì nó nặng hơn không khí. Không ai nhìn ra nó và cũng không ai ngửi được mùi của nó, nhưng ai đã hít nó một lúc thì không sống được. Bố đã đi xuống nơi có khí độc ấy để cột Ông Scott vào dây thừng, để Bố có thể kéo ông lên khỏi khí độc.

Khi sức khỏe đã hồi phục, ông Scott từ giã. Trước khi ra về, ông nói với Bố: “Ingalls à, anh đã đúng về việc đốt nến ấy. Tôi nghĩ đấy chỉ là việc điên rồ và tôi không để ý đến, nhưng tôi thấy mình đã sai.”

Bố nói: “À, nếu nến không cháy được nơi nào thì tôi biết mình cũng không sống được nơi ấy. Và tôi muốn mình được an toàn khi có thể được. Nhưng chuyện kết thúc tốt đẹp thì xem như nó tốt đẹp.”

Bố nghỉ ngơi một chốc. Bố đã hít phải một ít khí độc và cảm thấy cần nghỉ ngơi. Nhưng chiều hôm ấy Bố tháo một sợi chỉ từ một bao đay, và lấy một ít thuốc súng từ cái sừng đựng thuốc súng. Bố gói thuốc súng trong một mảnh vải cùng với đầu sợi dây đay nhúng trong thuốc súng.

Bố nói: “Laura, đi đến đây để Bố cho con xem cái này.”

Hai bố con đi đến giếng. Bố đốt đầu sợi dây và chờ cho đến khi tia lửa nhanh chóng cháy lan theo sợi dây. Rồi Bố ném cái gói nhỏ xuống giếng.

Trong một phút, hai bố con nghe một tiếng bang! nhỏ, và một cuộn khói bay lên khỏi lòng giếng. Bố nói: “Nó sẽ làm tan khí độc.”

Khi khói đã tan, Bố để cho Laura đốt cây nến và đứng kế bên trong khi ông hạ cây nến xuống giếng. Khi xuống thấp dần trong lòng giếng đen, cây nến vẫn tiếp tục cháy, trông như một ngôi sao.

Thế là ngày hôm sau Bố và Ông Scott tiếp tục đào giếng. Nhưng mỗi buổi sáng hai người luôn thắp một cây nến rồi đưa xuống lòng giếng.

Bắt đầu có một ít nước trong giếng, nhưng chưa đủ. Chiếc thùng đưa lên chứa toàn bùn, và Bố cùng Ông Scott phải làm việc mỗi ngày trong bùn. Vào những buổi sáng khi cây nến đi xuống, nó soi sáng cho thấy thành giếng ướt rỉ nước ra, và ánh sáng ngọn nến lấp lánh tạo ra những vòng tròn trên mặt nước khi chiếc thùng chạm xuống đáy.

Bố đứng trong nước ngập đến đầu gối và múc lên từng thùng nước đầy trước khi ông có thể đào tiếp trong bùn.

Một ngày khi Bố đang đào, một tiếng hét to vọng lên. Mẹ chạy ra khỏi nhà và Laura chạy đến giếng. Bố thét lên: “Kéo, Scott! Kéo!” Tiếng sột soạt, ùng ục vọng lên. Ông Scott cố sức quay nhanh trục quay, rồi Bố leo lên khi bàn tay này tiếp nối bàn tay kia nắm lấy dây thừng.

Bố hổn hển nói: “Tôi dám chắc đấy là vũng lầy. Tôi đang xắn mạnh cái xẻng xuống thì bất thình lình nó đi xuống luôn, xuống nguyên chiều dài cái cán. Và nước trào lên khắp chung quanh tôi.”

Ông Scott cuốn dây thừng lên rồi nói: “Cả hai mét dây thừng bị ướt.” Cái thùng đầy nước. “Anh đã có ý thức tốt khi thoát lên nhanh với dây thừng, Ingalls ạ. Nước trào lên nhanh hơn là tôi kéo anh lên.” Rồi Ông Scott vỗ đùi mà kêu lên: “Tôi mong anh còn nhớ mang cái xẻng lên!”

Y như rằng, Bố đã cứu được cái xẻng của Ông Scott.

Gieng nuoc C

Chỉ trong chốc lát, nước dâng lên gần đầy giếng. Một khung trời xanh tròn nằm cách mặt đất không xa. Khi Laura nhìn xuống, khuôn mặt của một bé gái nhỏ nhìn lên bé. Khi bé ngoắc tay, một bàn tay trên mặt nước cũng ngoắc lại.

Nước thật trong, mát và ngon. Laura nghĩ mình chưa bao giờ nếm được thứ gì ngon lành như khi uống một hơi thứ nước giếng mát này. Bố không còn mang về thứ nước hôi hôi, nóng nóng từ con sông. Bố xây một nền vững chắc trên thành giếng, và một tấm đậy cho miệng giếng qua đó đưa thùng xuống để lấy nước. Laura không bao giờ được chạm đến tấm đậy ấy. Nhưng mỗi khi Chị Mary hoặc Laura khát nước, Mẹ nhấc tấm đậy ra và kéo lên một thùng đang rỏ nước đựng nước mát và trong từ giếng ấy.

Bò sừng dài Texas

Một buổi tối, Bố và Laura đang ngồi trên ngạch cửa. Ánh trăng soi trên vùng thảo nguyên tối, gió lặng im, và Bố kéo đàn nhè nhẹ.

Bố để cho nốt nhạc cuối cùng run rẩy lan xa, xa thêm nữa, cho đến khi tiếng nhạc chan hòa vào ánh trăng. Vạn vật đều thật đẹp đẽ đến nỗi Laura muốn cứ ngồi yên như thế. Nhưng Bố nói đã đến giờ các bé gái phải đi ngủ.

Rồi Laura nghe âm thanh lạ lùng, trầm trầm từ xa dội đến. Bé nói: “Cái gì thế hở Bố?”

Bo sung dai

Bố lắng nghe. Bố nói: “Ôi chao! Đàn bò. Hẳn phải là đàn bò đang đi về hướng bắc để đến Pháo đài Dodge.”

Sau khi đã thay trang phục, Laura mặc áo ngủ đứng kế khung cửa sổ. Không khí thật tĩnh mịch, không có một cọng cỏ lung lay, và bé có thể nghe âm thanh ấy khe khẽ vang từ chốn xa xôi. Đấy gần như là âm thanh rầm rập mà cũng gần như là một bài hát.

Laura hỏi: “Bố ạ, đấy có phải là bài hát không?”

Bố đáp: “Phải. Mấy anh chăn bò đang ca hát để ru ngủ bò. Bây giờ lên giường đi, cái con bé láu lỉnh này!”

Laura nghĩ đến đàn bò đang nằm trên nền đất tối dưới ánh trăng, và đến các anh chăn bò đang thầm thì cất lên những lời hát ru.

Sáng hôm sau khi Laura chạy ra khỏi ngôi nhà, hai người đàn ông lạ mặt đang ngồi trên lưng ngựa kế chuồng gia súc. Họ đang nói chuyện với Bố. Da họ nâu-đỏ tựa người Da đỏ, nhưng mắt họ là những khe hẹp nằm giữa hai mí mắt nhấp nháy. Họ mang những tấm da phủ ngoài chân, cựa giầy, và đội mũ rộng vành. Khăn tay quấn quanh cổ, súng ngắn giắt bên hông.

Họ nói với Bố: “Tạm biệt”, và với ngựa “Này! Đi!”, rồi đôi ngựa phóng đi.

Bố nói với Mẹ: “Đây là một dịp may.” Hai người ấy là dân chăn bò. Họ yêu cầu Bố giúp họ giữ đàn bò tránh xa các hẻm núi giữa các vực dốc đứng ở vùng trũng bên bờ sông. Bố sẽ không lấy tiền công, nhưng ông nói với họ muốn nhận một miếng thịt bò. Bố hỏi: “Em thích có một miếng thịt bò ngon không?

Mẹ chỉ đáp: “Ồ, Charles!”, và đôi mắt Mẹ sáng lên.

Bố cột chiếc khăn tay to nhất của ông quanh cổ. Bố chỉ cho Laura cách thức kéo khăn tay lên che miệng và mũi để tránh bụi. Rồi Bố cưỡi con Patty phi về hướng tây trên đường mòn của người Da đỏ, cho đến lúc Mary và Laura không còn thấy ông đâu nữa.

Suốt ngày, mặt trời nóng chiếu chói chang và gió nóng thổi nung người. Tiếng của đàn bò đến gần hơn. Thoang thoảng tiếng đàn bò rống nghe não nuột. Đến giữa trưa, bụi bay mù mịt dọc chân trời. Mẹ nói đàn bò đông đúc dẫm bẹp lớp cỏ và quậy tung bụi lên trên vùng thảo nguyên.

Đến khi mặt trời lặn, Bố phi ngựa trở về, người bám đầy bụi. Bụi phủ bộ râu, len vào mái tóc, che lấp mí mắt, và bụi bay ra từ bộ quần áo. Bố không mang về nhà miếng thịt bò nào, bởi vì đàn bò chưa vượt sông. Đàn bò đi thật chậm rãi, vừa đi vừa gặm cỏ. Chúng phải ăn đủ cỏ để vỗ béo trước khi đến thành phố, nơi người ta hạ thịt chúng.

Tối hôm ấy Bố không chuyện trò nhiều, và Bố cũng không chơi đàn. Sau bữa ăn, ông vội đi ngủ.

Bây giờ đàn bò đang ở khá gần đến nỗi Laura nghe tiếng chúng khá rõ. Tiếng rống não nuột vang dội qua khu thảo nguyên cho đến khi trời tối hẳn. Rồi lũ bò im lặng hơn và các anh chăn bò bắt đầu hát. Những bài hát của các anh nghe không giống điệu hát ru. Đấy là những bài hát có âm điệu vút cao, cô đơn, gần giống như tiếng chó sói tru.

Laura nằm thao thức, lắng nghe những giọng hát cô đơn lang thang trong đêm. Xa hơn nữa, những con sói thực sự tru lên. Đôi lúc đàn bò lại rống. Nhưng tiếng hát của các anh chăn bò vẫn tiếp tục, trầm bổng và nỉ non dưới ánh trăng. Khi mọi người khác đã ngủ say, Laura rón rén bước đến khung cửa sổ, và bé thấy ba đốm lửa lập lòe giống như những con mắt đỏ, từ rìa tối của mặt đất. Trên cao, bầu trời rộng bao la, tĩnh lặng và đầy ánh trăng. Có vẻ như các bài hát cô đơn đang than khóc cho vầng trăng. Tiếng hát làm cho cổ họng Laura nghẹn lại.

Trọn ngày kế tiếp, Mary và Laura nhìn xa về hướng tây. Hai chị em có thể nghe tiếng bò rống xa xa, có thể thấy đám bụi bay. Đôi lúc hai chị em nghe văng vẳng một tiếng thét rít lên.

Cuoi ngua dat bo sung dai_GOOD

Thình lình một tá bò sừng dài phóng khỏi vùng thảo nguyên, không cách xa chuồng gia súc là bao. Chúng đã bị hấp dẫn để đi xuống khu đất trũng dọc bờ sông. Đuôi chúng vểnh cao, các cặp sừng trông dữ tợn lắc qua lắc lại, các móng dậm thình thịch trên nền đất. Một anh chăn bò cưỡi một con ngựa thảo nguyên đốm phi như điên đến phía trước đàn bò. Anh cầm chiếc mũ rộng vành phất qua phất lại và thét lên những tiếng chát chúa. “Đi! Này này! Đi!” Đàn bò chuyển hướng, các cặp sừng dài va vào nhau. Với đuôi vểnh cao, chúng lảo đảo chạy đi, phía sau chúng con ngựa thảo nguyên phi tới rồi xoay tít rồi lại phi tới, lùa đàn bò túm tụm lại với nhau. Tất cả đi lên một mô đất rồi đi xuống mất hút.

Laura chạy qua chạy lại, ve vẩy chiếc mũ che nắng và thét lên: “Đi! Này này!” cho đến khi Mẹ bảo bé phải ngưng lại. La thét như thế chẳng ra vẻ gì là quý cô cả. Laura ước gì mình là dân chăn bò.

Xế chiều hôm ấy, ba người cưỡi ngựa từ hướng tây đến, kéo theo một con bò cái đơn độc. Một trong ba người là Bố, trên lưng con Patty. Họ chầm chậm tiến đến gần, và Laura thấy một con bê đốm đi theo con bò cái.

Con bò cái đi chập choạng. Hai anh chăn bò cưỡi ngựa cách xa nhau phía trước. Đầu hai sợi dây thừng cột vòng qua hai sừng dài, đầu kia cột vào yên ngựa của hai anh chăn bò. Khi con bò cái húc cặp sừng dài về phía một anh chăn bò thì con ngựa của anh kia kéo nó lại. Con bò cái rống to lên, và con bê nhỏ nhẹ kêu theo.

Mẹ đứng nhìn từ khung cửa sổ, trong khi Mary và Laura đứng dựa tường nhà mà nhìn chăm chăm.

Hai anh chăn bò nắm hai dây thừng níu lấy con bò cái trong khi Bố cột nó vào chuồng gia súc. Rồi hai người cất tiếng giã từ Bố và phi ngựa đi.

Mẹ không thể nào tin được rằng Bố đã thật sự mang về một con bò cái. Nhưng đấy thật sự là con bò của họ. Bố cho biết con bê còn nhỏ quá nên không đi xa được, và con bò cái còn gầy quá nên không bán được, thế là hai anh chăn bò tặng Bố cả hai con. Họ còn tặng Bố thịt bò; một miếng thịt to được cột vào sừng yên ngựa.

Bố Mẹ, Mary và Laura và thậm chí em bé Carrie reo cười vì vui mừng. Bố luôn cười lớn, và tiếng cười của ông nghe như chuông vang vang. Khi Mẹ vui, bà mỉm cười nhẹ làm cho Laura cảm thấy ấm cả cõi lòng. Nhưng bây giờ Mẹ cười lớn vì gia đình có một con bò cái.

Bố nói: “Caroline, em lấy cho anh một cái xô.” Bố muốn vắt sữa con bò cái, ngay lúc này.

Bo da

Bố cầm lấy cái xô, kéo chiếc mũ về phía sau, rồi ngồi xuống kế bên con bò cái để chuẩn bị vắt sữa. Và con bò ấy thu mình lại rồi đá Bố một phát khiến ông nằm dài ra.

Bố nhảy bật dậy. Gương mặt ông đỏ nhừ, đôi mắt quắc ánh xanh lam.

Bố la lên: “Bây giờ, anh nhất quyết sẽ vắt sữa cho bằng được!”

Bố lấy chiếc rìu, đẽo hai thanh gỗ sồi cứng chắc. Bố đẩy cho con bò sát vào tường chuồng, rồi đóng hai thanh gỗ sâu xuống nền đất kế bên con bò cái. Con vật rống lên, và con bê cũng kêu la. Bố buộc các sào gỗ cho chắc vào mấy cây cột rồi nhét đầu sào vào những khe hở của tường chuồng, để làm thành một hàng rào.

Bây giờ con bò cái không thể đi tới, đi lui hoặc đi ngang. Nhưng con bê có thể đứng chen giữa mẹ nó và tường chuồng. Thế là con bê cảm thấy an toàn và không kêu la nữa. Nó đứng kề bên con bò cái và bú sữa cho bữa chiều. Bố đưa bàn tay qua khe hàng rào và vắt sữa từ phía bên kia. Bố được một cốc thiếc gần đầy sữa.

Bố nói: “Ta sẽ thử lại sáng mai. Con vật khốn khổ này hoang dại như nai rừng. Nhưng ta sẽ thuần hóa nó, nhất định ta sẽ thuần hóa nó cho được.”

Bóng tối đang phủ xuống. Những con cú muỗi đang đuổi bắt côn trùng trong bầu không gian tối tăm. Những con ếch đực đang kêu ồm ộp ở khu đất trũng dọc bờ sông. Một con chim kêu lên: “Híp! Híp! Híp-pua-hiu!” Một con cú lên tiếng hỏi “Ai? A-ai?” Từ xa xa những tiếng sói tru vọng đến, và con Jack đang gầm gừ.

Bố nói: “Lũ sói đang lần theo đàn bò. Ngày mai anh sẽ đóng một sân chuồng chắc chắn cho hai mẹ con bò, để sói không vào được.”

Thế là cả gia đình đi vào nhà với miếng thịt bò. Bố Mẹ, Mary và Laura đều đồng ý dành sữa cho em bé Carrie. Mọi người nhìn em bé uống sữa. Chiếc cốc thiếc che mặt bé, nhưng Laura có thể thấy từng ngụm sữa đi xuống cổ họng của bé. Bé nuốt từng ngụm và từng ngụm sữa ngon ngọt ấy. Rồi bé thè chiếc lưỡi hồng liếm bọt sữa trên môi, và nở nụ cười.

Có vẻ như phải mất thời gian lâu bánh mỳ bắp và món bít-tết kêu xèo xèo mới đủ chín. Nhưng không có gì ngon bằng món thịt bò dai tươm nước. Và mọi người đều lấy làm vui bởi vì bây giờ sẽ có sữa để dùng, và thậm chí có lẽ sẽ có bơ để dùng với bánh mỳ bắp.

Tiếng rống của đàn bò lại vọng về từ xa, nhưng tiếng hát của các anh chăn bò nghe thật nhỏ. Cả đàn bò ấy hiện giờ đã qua bên kia bờ sông, thuộc Bang Kansas. Ngày mai chúng sẽ chầm chậm đi xa hơn về hướng bắc để đến Pháo đài Dodge, nơi các binh sĩ trú đóng.

Trại người Da đỏ

Từng ngày qua, thời tiết nóng hơn ngày trước. Gió thật nóng. Mẹ nói: “Gió nóng như thể thổi ra từ lò nướng.”

Thảm cỏ đang chuyển thành màu vàng. Cả vùng đất lăn tăn mầu lục và vàng óng dưới bầu trời nóng bỏng.

Đến giữa trưa, trời im gió. Chim chóc không hót nữa. Vạn vật đều tĩnh lặng đến mức Laura có thể nghe đàn sóc kêu chiu chít trên đám cây ở khu đất trũng dọc bờ sông. Thình lình những con quạ đen bay ngang qua, kêu lên những tiếng quạ-quạ sắc lẻm. Rồi tất cả lại rơi vào im lặng.

Mẹ nói đã đến cao điểm giữa mùa hè.

Bố thắc mắc những người Da đỏ đã đi về đâu. Bố cho biết họ đã từ bỏ trại nhỏ của họ trên thảo nguyên. Và một ngày, Bố hỏi Mary và Laura muốn đi xem trại ấy hay không.

Laura nhảy nhót và vỗ tay, nhưng Mẹ phản đối.

Mẹ nói: “Charles à, con đường khá xa. Và thời tiết đang nóng bức.”

Đôi mắt xanh của Bố nhấp nháy. Ông nói: “Sức nóng này không làm hại người Da đỏ và cũng sẽ không làm hại ta. Đi nào, hai con gái nhỏ.”

Laura nài nỉ: “Bố vui lòng cho Jack đi theo nhé?” Bố đã cầm lấy khẩu súng, nhưng ông nhìn qua Laura rồi nhìn Jack và nhìn qua Mẹ, rồi ông treo lại khẩu súng trên hai chiếc móc.

Bố nói: “Được rồi, Laura. Caroline à, anh dẫn theo Jack và để lại cho em khẩu súng.”

Con Jack nhảy nhót lăng xăng chung quanh ba bố con, chiếc đuôi ngắn ngúc ngoắc. Ngay khi thấy họ sẽ đi theo đường nào là nó đã phóng đi phía trước. Bố đi theo, tiếp theo là Mary và Laura. Mary giữ chiếc mũ che nắng trên đầu, nhưng Laura để nó cột lủng lẳng sau lưng.

Nền đất nóng dưới chân trần. Ánh nắng xuyên qua các lớp áo quần đã bạc mầu, tỏa sức nóng lăn tăn trên cánh tay và lưng. Không khí thật sự nóng như từ lò nướng tỏa ra, và thoang thoảng mùi bánh mỳ đang nướng. Bố cho biết mùi này là do các hạt cỏ đang khô ran dưới khí trời nóng.

Ba bố con đi xa hơn và xa hơn nữa trong vùng thảo nguyên bao la. Laura cảm thấy mình bé nhỏ và bé nhỏ hơn. Ngay cả Bố cũng trông không có vẻ cao lớn như bình thường. Cuối cùng ba bố con đi xuống một vùng trũng nhỏ nơi những người Da đỏ đã hạ trại.

Jack đuổi theo một con thỏ to. Khi con thỏ phóng ra khỏi thảm cỏ, Laura nhảy dựng lên. Bố vội nói: “Jack, tha cho nó! Ta đã có đủ thịt.” Thế là con Jack ngồi xuống và nhìn con thỏ to phóng đi xuống vùng trũng.

Dau vet 2Mary và Laura nhìn chung quanh. Hai chị em đi kế bên Bố. Những bụi rậm nhỏ mọc lên hai bên vùng trũng – cỏ nai với những chùm quả mọng mầu hồng, những cây sơn khoe những quả xanh hình nón và điểm lấm tấm những chiếc lá đỏ tươi. Những chùm hoa hoàng cẩm phượng đang ngả mầu xám, và những cánh hoa cúc dại vàng rũ xuống từ chóp ở giữa.

Tất cả những hoa lá ấy được che giấu trong vùng trũng nhỏ bí ẩn. Từ ngôi nhà Laura chỉ thấy toàn là thảm cỏ, và bây giờ từ vùng trũng này bé không thể thấy ngôi nhà. Thảo nguyên trông có vẻ bằng phẳng, nhưng không thật sự bằng phẳng.

Laura hỏi Bố có nhiều khoảnh đất trũng trên thảo nguyên giống như ở đây không. Bố đáp rằng có.

Bé gần như thì thầm: “Có người Da đỏ sống ở đấy không?” Bố đáp ông không biết. Có thể có.

Laura bám chặt lấy tay Bố và Mary bám lấy tay kia, cả ba cha con nhìn vào trại của người Da đỏ. Có lớp tro còn lại nơi người Da đỏ đã đốt lửa trại. Có những lỗ trên mặt đất nơi họ đã đóng cọc lều xuống. Xương xẩu rải rác những nơi đàn chó của người Da đỏ đã gặm. Chung quanh khoảnh đất trũng, đàn ngựa của người Da đỏ đã ăn trụi cỏ.

Có những dấu giầy da đanh của người lớn và trẻ em, và những dấu chân trần. Trên những dấu vết này là dấu vết của thỏ, chim và chó sói.

Bố nêu tên các loại dấu vết. Ông chỉ cho Mary và Laura xem những dấu vết của một đôi giầy da đanh có kích cỡ trung bình bên rìa đống tro của lửa trại. Một phụ nữ người Da đỏ đã ngồi ở đây. Người này mặc một chiếc váy bằng da có đính tua; có những dấu vết li ti của tua trên nền đất. Vết các ngón chân trong giầy da đanh thì sâu hơn vết của gót chân, bởi vì người phụ nữ này đã vươn người phía trước để khuấy món ăn gì đấy trong cái nồi đặt trên ngọn lửa.

Rồi Bố nhặt lên một cây cọc phân làm hai nhánh bị ám khói đen. Bố giải thích cái nồi đã được treo lên giữa hai cây cọc phân nhánh cắm thẳng đứng. Bố chỉ cho Mary và Laura xem nơi cây cọc phân nhánh được đóng xuống đất. Rồi Bố bảo hai bé quan sát các mẩu xương chung quanh đống lửa trại và nói cho ông biết họ đã nấu gì trong cái nồi ấy.

Hai bé quan sát, rồi trả lời: “Thỏ!” Đúng thế; các mảnh xương là xương của thỏ.

Thình lình Laura kêu lên: “Xem này! Xem này!” Có một vật gì đấy lấp lánh mầu lam trên nền đất. Bé nhặt lên, đấy là một hạt chuỗi đẹp. Laura reo lên vì vui mừng.

Rồi Mary tìm thấy một hạt chuỗi mầu đỏ, Laura tìm thấy một hạt chuỗi mầu lục, thế là hai chị em quên bẵng mọi chuyện khác. Bố tìm giúp cho hai bé. Ba bố con tìm được những hạt trắng, hạt nâu, có thêm những hạt đỏ và lam. Cả buổi chiều hôm ấy, ba bố con đi tìm thêm hạt chuỗi trên nền đất của trại người Da đỏ. Thỉnh thoảng Bố bước lên rìa khoảnh đất trũng mà nhìn về phía ngôi nhà, rồi Bố quay lại tiếp tục săn tìm thêm hạt chuỗi. Ba bố con cẩn thận tìm kiếm khắp nơi.

Khi không thể tìm kiếm thêm hạt nào nữa, thì trời đã về chiều. Laura có một vốc những hạt chuỗi, Chị Mary cũng thế. Bố cẩn thận gói các hạt vào tấm khăn tay của ông, các hạt của Laura ở một góc và các hạt của Chị Mary ở một góc khác. Bố đặt chiếc khăn tay vào túi quần, rồi ba bố con quay về.

Khi ba bố con ra khỏi khoảnh đất trũng thì mặt trời đã xuống thấp phía sau lưng họ. Ngôi nhà trông nhỏ xíu, còn cách rất xa. Và Bố không mang súng.

Bố bước nhanh đến nỗi Laura phải cố gắng lắm mới theo kịp. Bé chạy lúp xúp cho nhanh, nhưng mặt trời lại lặn nhanh hơn. Có vẻ như ngôi nhà lại càng xa hơn và xa hơn mãi. Vùng thảo nguyên có vẻ như rộng thêm, và một cơn gió thổi qua, vang lên những tiếng thầm thì nghe sờ sợ. Tất cả các bụi cỏ run rẩy như sợ hãi theo.

Rồi Bố quay đầu, đôi mắt nhấp nháy với Laura. Ông nói: “Con gái rượu mệt rồi phải không? Đường đi khá xa so với đôi chân bé nhỏ.”

Bố nhấc bé lên, cô bé đang lớn, và Bố đặt bé an toàn lên đôi vai của ông. Bố nắm lấy tay Mary, thế là ba bố con cùng nhau đi về nhà.

Bữa ăn chiều đang sôi trên bếp lò, Mẹ đang dọn bàn ăn, còn em bé Carry đang chơi với những mảnh gỗ trên sàn.

Bố trao chiếc khăn tay cho Mẹ. Ông nói: “Caroline à, anh về muộn hơn dự tính, nhưng hãy xem hai con đã tìm được gì.” Bố cầm lấy cái xô sữa và nhanh nhẹn đi ra ngoài để dẫn Pet và Patty từ dây cọc vào và vắt sữa con bò.

Mẹ mở chiếc khăn tay ra, reo lên khi thấy những gì bên trong. Các hạt chuỗi trông còn đẹp hơn khi ở trong trại người Da đỏ.

Laura xoay các hạt của bé giữa các ngón tay và chiêm ngưỡng các sắc mầu lóng lánh. Bé nói: “Các hạt này là của con.”

Rồi Chị Mary nói: “Con cho em Carrie hạt của con.”

Mẹ chờ xem Laura sẽ nói gì. Laura không muốn nói gì cả. Bé muốn giữ các hạt của mình làm của riêng. Lồng ngực bé đang nóng bỏng, bé ước gì Chị Mary không luôn tỏ ra là một cô bé ngoan như thế. Nhưng bé không thể để Chị Mary hơn mình.

Thế là bé chậm rãi nói: “Con cũng cho em Carrie hạt của con.”

Mẹ nói: “Hai con là con gái nhỏ không ích kỷ của Mẹ.”

Mẹ cho hạt của Mary vào bàn tay Mary, hạt của Laura vào bàn tay Laura, và nói sẽ cho hai bé một ít chỉ để xâu các hạt thành chuỗi. Em bé Carrie sẽ có một chuỗi hạt đẹp để đeo quanh cổ.

Xau chuoi 2

Mary và Laura ngồi kế bên nhau trên giường, xâu các hạt vào sợi chỉ mà Mẹ cho hai bé. Mỗi bé ngậm đầu chỉ trong miệng cho ướt và xoắn chặt. Rồi Mary luồn đầu chỉ vào cái lỗ nhỏ của các hạt, và Laura cũng luồn đầu chỉ qua các hạt của bé, tuần tự từng hạt một.

Hai chị em không nói lời nào. Có lẽ thâm tâm Mary cảm thấy vui, nhưng Laura không hẳn thế. Khi bé nhìn Chị Mary, bé chỉ muốn tát chị. Thế nên bé không dám nhìn Chị Mary nữa.

Các hạt tạo nên xâu chuỗi đẹp. Carrie vỗ tay và cười to khi trông thấy xâu chuỗi. Rồi Mẹ đeo xâu chuỗi quanh cổ Carrie, các hạt lóng lánh. Laura cảm thấy dễ chịu hơn một chút. Dù sao chăng nữa, các hạt của bé không đủ để làm một xâu chuỗi, và các hạt của Chị Mary cũng thế, nhưng gộp chung lại với nhau em bé Carrie có một xâu chuỗi đẹp.

Khi Carrie nhận ra có một xâu chuỗi quấn quanh cổ, bé đưa tay giật lấy. Bé còn quá nhỏ nên chưa biết gì cả, chỉ lấy tay giật xâu chuỗi ra. Thế là Mẹ gỡ xâu chuỗi mang đi cất, chờ cho đến khi Carrie lớn hơn sẽ cho dùng. Nhiều khi sau đó, Laura vẫn nghĩ về các hạt chuỗi đẹp đẽ ấy, và bé chưa đủ ngoan nên vẫn còn muốn giữ các hạt ấy cho riêng mình.

Nhưng đấy là một ngày tuyệt vời. Laura có thể luôn nghĩ về chuyến đi bộ dài qua thảo nguyên, và về những gì ba bố con đã thấy ở trại người Da đỏ.

Sốt và phát lãnh

Bây giờ mâm xôi đã chín, và vào những buổi chiều nóng Laura theo Mẹ đi hái. Các quả mâm xôi to, mầu đen, mọng nước treo dầy đặc trên các bụi rậm ở khu đất trũng dọc bờ sông. Một số ở dưới bóng râm cây cối và một số phơi ra nắng, nhưng mặt trời quá nóng khiến cho Mẹ và Laura thích ở trong bóng râm. Có rất nhiều quả mâm xôi.

Bầy nai ở trong những trảng cây dưới bóng râm và nhìn Mẹ cùng Laura. Những con giẻ cùi xanh bay lượn quanh chiếc mũ che nắng của hai người và cất tiếng phiền trách vì bị chiếm phần mâm xôi. Những con rắn nhanh nhẹn lủi tránh hai người, và trên các cành cây những con sóc thức dậy và chiu chít chuyện trò với họ. Mỗi khi hai mẹ con đi qua những bụi mâm xôi gai góc, từng đàn muỗi bay tản lên vang tiếng rì rào.

Đàn muỗi dầy đặc trên các quả mâm xôi to chín, hút lấy nước quả ngọt. Nhưng chúng cũng thích đốt Mẹ và Laura ngang bằng với việc chúng thích hút nước quả mâm xôi.

Các ngón tay và miệng của Laura nhuộm mầu đen-tím của nước quả mâm xôi. Mặt mũi, tay và chân trần của bé mang những vết trầy do gai cây mâm xôi và do các vết chích của muỗi. Và cũng mang nhiều vệt mầu tím, nơi bé đập muỗi. Nhưng mỗi ngày hai mẹ con đều mang về những xô đựng đầy quả mâm xôi, và Mẹ mang phơi dưới ánh nắng.

Mỗi ngày cả nhà tha hồ ăn mâm xôi, và còn có mâm xôi khô để dùng trong mùa đông.

Mary ít khi đi hái mâm xôi. Vì là chị cả, Mary ở nhà để trông nom em bé Carrie. Ban ngày, chỉ có một hoặc hai con muỗi trong nhà. Nhưng ban đêm, nếu gió không thổi mạnh, từng đàn muỗi bay vào nhà. Vào những đêm lặng gió, Bố chất những đống cỏ ẩm chung quanh nhà để đốt. Cỏ ẩm tạo ra những làn khói dầy, xua lũ muỗi đi. Nhưng làm gì thì cũng có nhiều con muỗi lọt vào nhà.

Bố không thể chơi đàn buổi tối vì bị muỗi đốt quá nhiều. Chú Edwards không còn đến chơi nữa, bởi vì muỗi dầy đặc ở khu đất trũng. Ban đêm, Pet và Patty cùng con ngựa non, con bò và con bê hay dậm chân và quật đuôi phần phật trong chuồng. Vào buổi sáng, trán của Laura lấm tấm những vết muỗi đốt.

Bố nói: “Tình hình này sẽ không kéo dài. Mùa thu sắp đến, và ngọn gió lạnh đầu tiên sẽ xử lý được chúng.”

Laura cảm thấy không được khỏe. Đến một ngày, bé cảm thấy lạnh cho dù ánh mặt trời đang nóng, và bé không thể làm ấm người khi ở gần lửa.

Mẹ hỏi tại sao bé không ra ngoài chơi với Chị Mary, và Laura đáp bé không thích chơi. Bé cảm thấy mệt mỏi, người đau nhức. Mẹ ngưng công việc, hỏi: “Con thấy đau nhức ở đâu?”

Laura không biết chính xác ở đâu. Bé chỉ đáp: “Con chỉ thấy nhức. Hai chân con nhức.”

Mary nói: “Con cũng bị nhức.”

Mẹ nhìn hai bé và nói hai bé trông vẫn khỏe mạnh. Nhưng Mẹ cũng nói có chuyện gì đấy không ổn, nếu không hai bé không im lìm như thế. Mẹ kéo chiếc váy ngoài và váy lót dài của Laura lên để xem bé đau nhức ở chân ra sao, và thình lình toàn thân Laura run rẩy. Bé run đến mức hai hàm răng đánh lập cập.

Mẹ đặt bàn tay lên gò má Laura. Mẹ nói: “Con không thể bị phát lãnh được. Mặt con nóng như lửa.”

Laura muốn khóc, nhưng dĩ nhiên bé không khóc. Chỉ có em bé nhỏ khóc. Bé nói: “Bây giờ con thấy lạnh. Và lưng con bị đau nhức.”

Mẹ gọi Bố, và ông đi vào. Mẹ nói: “Charles à, anh xem hai con này. Em nghĩ hai đứa ngã bệnh.”

Bố nói: “À, chính anh cũng thấy không được khỏe. Ban đầu sốt, rồi có lúc rét, và đau nhức toàn thân. Hai con à, có phải hai con cảm thấy như thế không? Hai con có thấy nhức xương không?”

Mary và Laura cùng nói hai bé cảm thấy như thế. Mẹ và Bố nhìn nhau một hồi lâu, rồi Mẹ nói: “Hai con nên nằm nghỉ trên giường.”

Cảm giác thật kỳ lạ khi phải nằm trên giường vào ban ngày, và Laura cảm thấy nóng đến nỗi mọi vật trông như chập chờn. Khi Mẹ thay trang phục cho Laura, bé vòng tay ôm lấy cổ Mẹ và xin bà nói cho biết bé đang bị chuyện gì.

Mẹ trấn tĩnh nói vui vẻ: “Con sẽ ổn thôi. Đừng lo.” Laura bò vào giường, Mẹ tấn chăn cho bé. Nằm trên giường có cảm giác thật dễ chịu. Bàn tay mát dịu của Mẹ xoa trán bé, Mẹ nói: “Nào, bây giờ con ngủ đi.”

Laura không thật sự thiếp ngủ, nhưng trong một thời gian dài, thật dài, bé không tỉnh hẳn. Có những thứ kỳ lạ diễn ra trong cơn mộng mị. Bé thấy Bố ngồi thu mình kế bên ngọn lửa giữa đêm tối, rồi thình lình ánh mặt trời làm mắt bé cay xè và Mẹ đút muỗng canh cho bé. Có cái gì đấy thu nhỏ chầm chậm, nhỏ hơn nữa, cho đến lúc nhỏ li ti. Rồi thình lình nó căng phồng to ra, to hơn bất kỳ thứ gì khác. Hai giọng nói liến thoắng nhanh hơn và nhanh hơn nữa, rồi một giọng nói chậm rãi lè nhè, chậm đến mức Laura không thể nào chịu đựng được. Rồi thì không có ngôn từ gì cả, chỉ có những giọng nói.

Người Chị Mary nóng rực kề bên bé. Chị Mary tung tấm chăn ra, và Laura khóc lên vì cảm thấy quá rét. Rồi bé cảm thấy nóng hừng hực, và bàn tay Bố cầm cốc nước đang sóng sánh. Nước chảy dọc xuống cổ bé. Chiếc cốc thiếc va lộc cộc vào răng bé cho đến lúc bé phải cố gắng lắm mới uống nước được. Rồi Mẹ tấn bé dưới tấm chăn, bàn tay Mẹ nóng hổi trên gò má Laura.

Bé nghe Bố nói: “Caroline, em lên giường nghỉ đi.”

Mẹ nói: “Charles, anh còn yếu hơn em nữa.”

Laura mở mắt và thấy ánh nắng chói chang. Chị Mary đang nức nở: “Con muốn uống nước! Con muốn uống chút nước! Con muốn uống nước!” Con Jack chạy tới lui giữa giường lớn và giường nhỏ. Laura thấy Bố đang nằm trên sàn nhà kế bên giường lớn.

Jack cào cấu Bố và kêu ư ử. Nó cắn tay áo Bố giữa hai hàm răng và giật giật. Bố ngẩng đầu một ít, rồi nói: “Bố phải ngồi dậy, phải cố. Caroline và hai con.” Rồi đầu Bố lại gục xuống và ông nằm bất động. Jack ngước đầu lên và cất tiếng tru.

Laura cố ngồi dậy, nhưng bé đã quá mệt mỏi. Rồi bé thấy khuôn mặt đỏ nhừ của Mẹ đang nhìn qua mép giường. Mary vẫn luôn khóc đòi uống nước. Mẹ nhìn qua Mary rồi nhìn qua Laura, thầm thì: “Laura, con giúp được không?”

Laura: “Được, Mẹ ạ.” Lần này bé ngồi dậy được. Nhưng khi bé cố đứng dậy, sàn nhà có vẻ như rung chuyển, và bé ngã xuống. Lưỡi con Jack liếm và liếm mặt bé, con vật run rẩy và kêu ư ử. Nhưng nó đứng yên và trụ vững chắc khi Laura níu lấy nó mà ngồi dậy.

Laura biết mình phải cố lấy nước cho được để Chị Mary không khóc nữa, nên bé quyết tâm. Bé bò suốt chiều dài sàn nhà đến xô nước. Chỉ có một ít nước trong xô. Bé run lập cập vì cữ rét đến nỗi khó cầm lấy cái gáo. Nhưng bé cố cầm được. Bé múc ít nước trong cái gáo, rồi lại bò ngang sàn nhà trông dường mênh mông. Con Jack vẫn ở kề bên bé.

Chị Mary của bé không mở mắt được. Hai tay chị nắm lấy gáo nước, chị uống hết nước trong gáo. Rồi chị không khóc nữa. Chiếc gáo rơi xuống sàn nhà, và Laura chui vào trong chăn. Phải một lúc lâu bé mới cảm thấy ấm người lại.

Đôi lúc bé nghe tiếng con Jack như là nức nở. Đôi lúc nó tru lên, bé nghĩ nó là chó sói nhưng bé không sợ. Bé nằm với cữ sốt hầm hập và nghe nó tru. Bé lại nghe một giọng nói liến thoắng, và một giọng nói khác trầm, lè nhè. Bé mở mắt ra và thấy một khuôn mặt to, da đen cúi xuống gần mặt mình.

Khuôn mặt đen như than, bóng lưỡng. Đôi mắt đen và dịu dàng. Hàm răng trắng trong cái miệng dầy, to. Khuôn mặt ấy mỉm cười, và giọng nói trầm trầm bảo: “Cô bé, uống thuốc này đi.”

Một cánh tay nhấc hai vai bé lên, và một bàn tay đen giữ một chiếc cốc trên môi bé. Laura uống một ngụm đắng và cố quay đầu đi, nhưng chiếc cốc di chuyển theo miệng bé. Giọng nói trầm trầm, ngọt ngào lại cất lên: “Uống đi. Thuốc này làm bé khỏe lại.” Thế là bé uống hết liều thuốc.

Khi bé tỉnh lại, một phụ nữ mập mạp đang ngồi cào than củi. Laura nhìn kỹ, thấy bà không phải da đen. Bà có nước da sạm nắng, giống như Mẹ.

Laura nói: “Làm ơn cho cháu uống nước.”

Người phụ nữ mập mạp mang nước đến ngay. Nước mát lạnh, ngọt ngào làm cho Laura thấy khỏe hơn. Bé nhìn qua Chị Mary đang say ngủ kế bên mình; bé nhìn qua Bố và Mẹ đang say ngủ trên chiếc giường to. Jack nằm nửa thức nửa ngủ trên sàn nhà. Bé lại nhìn qua người phụ nữ mập mạp và hỏi: “Bác là ai?”

Người phụ nữ mỉm cười: “Bác là Bà Scott. Bây giờ cháu cảm thấy khỏe hơn, phải không?”

Laura lễ độ đáp: “Vâng, cảm ơn bà ạ.” Người phụ nữ mập mạp mang đến cho bé một cốc nước canh gà thảo nguyên.

Bà nói: “Cháu dùng canh này đi, ngoan đi nào.” Laura dùng hết nước canh trong chiếc cốc.

Bà Scott nói: “Bây giờ cháu ngủ đi. Bác ở đây lo mọi việc cho đến khi cả nhà khỏe lại.”

Sáng hôm sau, Laura cảm thấy khỏe lên nhiều đến nỗi bé muốn ngồi dậy, nhưng Bà Scott bảo bé phải nằm nghỉ trên giường cho đến khi bác sĩ đến. Bé lại nằm, nhìn Bà Scott dọn dẹp ngôi nhà, và lại bón thuốc cho Bố, Mẹ và Mary. Rồi đến phiên Laura. Bé mở miệng ra, và Bà Scott trút một vị đắng kinh khiếp từ trong một mảnh giấy gấp vào lưỡi Laura. Bé uống nước, nuốt và nuốt rồi lại uống nước. Bé có thể nuốt loại thuốc bột ấy nhưng không thể nào nuốt được vị đắng.

Cho uong thuoc 2.jpg

Rồi vị bác sĩ đến. Ông ấy là người da đen. Từ trước đến giờ Laura chưa từng thấy người da đen nào, và bé không rời mắt khỏi Bác sĩ Tan[M]. Ông có nước da thật đen. Nếu không biết ông là bác sĩ thì bé hẳn đã sợ ông đến chết khiếp. Ông mỉm cười với bé, hai hàm răng trắng nhe ra. Ông nói chuyện với Bố Mẹ, và có những tràng cười lanh lảnh nghe thật vui tai. Mọi người đều muốn ông lưu lại lâu hơn, nhưng ông phải vội đi.

Bà Scott cho biết rất nhiều người định cư dọc hai bờ sông bị bệnh sốt và phát lãnh. Không có đủ người khỏe mạnh chăm sóc người bệnh, nên bà phải đi từ nhà này qua nhà kia, giúp đỡ họ cả ngày lẫn đêm.

Bà nói: “Quả là lạ lùng khi gia đình đều lướt qua được. Cả nhà ngã bệnh cùng một lúc.” Nếu Bác sĩ Tan không tìm ra gia đình thì Bà không biết sự thể sẽ ra sao.

Bác sĩ Tan là bác sĩ trị bệnh cho người Da đỏ. Ông đang trên đường đi Independence về hướng bắc khi đi ngang qua nhà Bố. Quả là điều kỳ lạ vì bình thường Jack không ưa người lạ và không cho họ lại gần trừ khi Bố hoặc Mẹ trấn an nó, thế mà nó lại chạy ra gặp Bác sĩ Tan và có ý như muốn ông vào nhà.

Bà Scott nói: “Thế là ông ấy thấy cả gia đình ở đây, gần như chết.” Bác sĩ Tan đã lưu lại một ngày và một đêm, trước khi Bà Scott ghé qua. Bây giờ ông đang lo chữa trị những người định cư khác.

Bà Scott cho biết bệnh này là do ăn dưa hấu. Bà nói: “Tôi đã bảo hàng trăm lần rồi, mỗi khi có dịp, rằng dưa hấu…”

Bố thốt lên: “Chuyện gì thế? Ai có dưa hấu?”

Bà Scott cho biết một người định cư đã trồng dưa hấu ở khu đất trũng dọc bờ sông, và ai ăn dưa hấu này đều bị ngã bệnh. Bà bảo mình đã cảnh báo họ. Bà nói: “Nhưng không. Không ích gì mà biện luận với họ. Họ đã ăn loại dưa hấu ấy, và bây giờ họ phải trả giá.”

Bố nói: “Tôi chưa từng được ăn một miếng dưa hấu nào cho ngon từ thời ông Bành Tổ.”

Ngày hôm sau, Bố bước ra khỏi giường. Ngày kế tiếp, Laura đứng dậy được. Rồi Mẹ đứng dậy đi lại, và đến phiên Chị Mary. Mọi người đều gầy yếu và đi chưa vững lắm, nhưng có thể lo cho chính mình được. Thế là Bà Scott trở về nhà.

Mẹ bảo không biết phải ngỏ lời cảm ơn bà thế nào cho đủ, và Bà Scott đáp: “Ôi chao! Là láng giềng mà không giúp nhau thì láng giềng để làm gì?”

Đôi gò má Bố tóp lại, ông phải bước chầm chậm. Mẹ thường ngồi xuống nghỉ mệt. Mary và Laura không còn thích chơi đùa. Mỗi buổi sáng cả nhà đều dùng loại thuốc bột đắng ấy. Nhưng Mẹ lại mỉm nụ cười dễ yêu như trước, và Bố lại huýt sáo vui vẻ như trước.

Bố nói: “Như người ta nói, trong cái xấu có cái tốt.” Bố không thể làm việc nặng, nhưng ông có thể đóng một ghế xích đu cho Mẹ.

Bố mang về nhà một ít thân cây liễu nhỏ từ khu đất trũng dọc bờ sông, và ngồi trong nhà đóng một chiếc ghế xích đu. Bất kỳ lúc nào Bố cũng có thể dừng công việc để giúp cho thêm củi vào bếp lò hoặc nhấc ấm nước cho Mẹ.

Đầu tiên, Bố làm bốn chân ghế chắc chắn và ràng với nhau bằng các thanh gỗ ngang và dọc. Rồi Bố cắt ra những dải mỏng gỗ liễu dai, ngay dưới lớp vỏ cây. Bố đan các dải này tới lui, trên dưới, cho đến lúc làm thành tấm chỗ ngồi của chiếc ghế.

Bố chẻ đôi một cây liễu dài và thẳng, dọc theo đường giữa. Bố đóng chốt một đầu phân nửa khúc cây này vào một bên tấm chỗ ngồi, uốn khúc cây này lên, uốn qua và uốn xuống, rồi đóng chốt đầu kia của khúc cây vào bên kia tấm chỗ ngồi. Như thế làm thành khung lưng ghế cao, uốn cong. Bố buộc chắc lưng ghế, rồi đan các dải gỗ liễu ngang dọc và lên xuống, phía dưới và phía trên với nhau, cho đến khi lấp đầy thành tấm lưng ghế hoàn chỉnh.

Với nửa phần còn lại của khúc cây chẻ đôi, Bố làm thành hai tay vịn của ghế. Bố uốn hai đoạn cây chẻ đôi từ phía trước tấm chỗ ngồi lên tấm lưng ghế, rồi bọc quanh bằng những dải gỗ chạy ngang dọc.

Cuối cùng, Bố chẻ đôi một thân cây gỗ liễu lớn hơn đã mọc thành đường cong. Bố quay ghế xuống dưới, đóng chốt hai thanh gỗ cong ở bốn chân ghế, để làm thành hai thanh chân xích đu. Thế là hoàn tất chiếc ghế xích đu.

Rồi Bố Mẹ ăn mừng chiếc ghế xích đu. Mẹ tháo tạp dề ra, vuốt mái tóc nâu bóng. Mẹ gài một kim vàng trước cổ áo. Mary quàng chuỗi hạt quanh cổ Carrie. Bố và Laura đặt chiếc gối của Mary lên tấm chỗ ngồi, và đặt chiếc gối của Laura dựa theo lưng ghế. Bố trải tấm chăn bông phủ lên hai chiếc gối. Rồi Bố cầm lấy tay Mẹ dẫn bà ngồi vào chiếc ghế, và bế em bé Carrie cho ngồi trên lòng Mẹ.

Mẹ ngả người dựa vào lưng gối mềm. Đôi má Mẹ ửng hồng, đôi mắt long lanh ngấn lệ, nhưng Mẹ mỉm nụ cười xinh đẹp. Chiếc ghế đu đưa nhè nhẹ, và Mẹ nói: “Ôi, Charles ạ, từ lâu lắm rồi em mới được thoải mái như thế này.”

Rồi Bố nhấc cây đàn, vừa đàn vừa hát cho Mẹ trong ánh lửa lò sưởi. Mẹ đong đưa, em bé Carrie dần đi vào giấc ngủ, trong lúc Mary và Laura ngồi trên một băng ghế mà cảm thấy hạnh phúc.

Ngày hôm sau, Bố cưỡi con Patty ra đi mà không cho biết đi đâu. Mẹ cứ tự hỏi và tự hỏi mãi Bố đi đâu. Và khi trở về, Bố giữ một quả dưa hấu cho vững trên yên ngựa phía trước người ông.

Bố không thể mang quả dưa hấu vào nhà. Ông để nó rơi xuống mặt đất, rồi xuống ngựa.

Bố nói: “Anh nghĩ chắc mình chẳng bao giờ mang quả dưa về được. Nó hẳn phải nặng gần hai mươi kí, trong khi anh lại yếu như sên. Em đưa cho anh con dao.”

Mẹ nói: “Nhưng, Charles! Anh không được ăn. Bà Scott nói…”

Bố cười, tiếng cười dòn tan như trước. Bố nói: “Nhưng điều ấy không có lý. Đây là quả dưa ngon. Tại sao nó lại chứa mầm bệnh sốt và phát lãnh cơ chứ? Mọi người đều biết sốt và phát lãnh là do mình hít không khí ban đêm.”

Mẹ nói: “Nhưng quả dưa này lớn lên trong không khí ban đêm.”

Bố nói: “Vớ vẩn! Đưa cho anh con dao hạ thịt. Anh ăn quả dưa này để biết liệu nó sẽ làm cho anh lên cữ rét và cữ sốt nào không.”

Mẹ trao con dao cho Bố nhưng vẫn nói: “Em e rằng anh sẽ lại mắc bệnh ấy.”

Con dao xẻ vào quả dưa với âm thanh nghe ngọt ngào. Lớp vỏ xanh tách ra, phần đỏ tươi bên trong lộ ra, lấm tấm những hạt đen. Phần thịt đỏ thật ra trông giống như băng tuyết. Vào một ngày nóng bức này thì không gì trông hấp dẫn bằng quả dưa hấu như thế.

Mẹ nhất định không muốn ăn dưa hấu. Mẹ cũng không cho Mary và Laura ăn miếng nào. Nhưng Bố ăn hết miếng này qua miếng kia rồi lại thêm miếng nữa, cho đến lúc ông thở dài khoan khoái rồi cho biết con bò sẽ ăn phần còn lại.

Ngày hôm sau, Bố lên một cữ rét nhẹ rồi một cữ sốt nhẹ. Mẹ cho rằng đấy là do quả dưa hấu. Nhưng ngày hôm sau nữa, đến phiên Mẹ lên một cữ rét rồi một cữ sốt nhẹ. Thế là Bố Mẹ không biết cái gì gây ra bệnh sốt và phát lãnh.

Vào thời ấy, không ai biết rằng chứng bệnh mà mọi người gọi là sốt và phát lãnh đúng ra phải được gọi là sốt rét, và rằng một số loài muỗi truyền bệnh này qua người khi đốt họ.

Lửa trong ống khói

Vùng thảo nguyên đã thay đổi. Mầu sắc chuyển thành vàng sậm, gần như nâu, và những dải mầu đỏ của cây sơn chạy ngang dọc. Gió rên rỉ qua thảm cỏ héo úa, và thầm thì nghe buồn tênh qua những bụi cỏ bò rừng cong, ngắn. Vào ban đêm, tiếng gió nghe như có ai đang than khóc.

Bố lại nhận xét đây là một vùng tuyệt vời. Ở Rừng Đại Ngàn ông phải lo đi cắt cỏ, phơi khô để trữ được lâu, rồi chất vào chuồng trại để dùng trong mùa đông. Nhưng ở vùng Thảo nguyên Cao này, mặt trời làm cho cỏ khô tại chỗ, suốt mùa đông các con ngựa thảo nguyên và bò có thể tha hồ ăn cỏ khô. Bố chỉ cần có một đống cỏ khô nhỏ để phòng bị cho những ngày bão tuyết.

Bây giờ thời tiết đã mát mẻ nên Bố muốn đi thị trấn. Mùa hè nóng bức Bố không muốn đi, vì hai con Pet và Patty sẽ quá mệt mỏi do sức nóng. Hai con ngựa phải kéo chiếc xe goòng gần bốn mươi cây số mỗi ngày, trong quãng đường mất hai ngày. Và Bố không muốn đi xa nhà lâu quá mức cần thiết.

Bố chất đống cỏ khô gần chuồng gia súc. Bố đốn củi cho mùa đông và cột lại dọc tường nhà. Bây giờ chỉ cần kiếm đủ thịt cho bốn mẹ con dùng trong khi Bố đi vắng, thế là ông mang súng đi săn.

Mary và Laura chơi đùa trong gió bên ngoài ngôi nhà. Mỗi khi nghe một tiếng súng vọng về từ khu rừng dọc bờ sông, hai chị em biết Bố có được một ít thịt rừng.

Bây giờ gió lạnh hơn, dọc theo khu đất trũng bên bờ sông từng đàn vịt hoang dã vút lên, bay cao, rồi lại bay ngang. Phía trên vực đất, đàn ngỗng trời bay thành hình chữ V để di cư về phương nam. Con bay đầu cất tiếng gọi những con bay theo sau: “Hon!” Và từng con bay theo sau lần lượt đáp lại: “Hon!” “Hon!” “Hon!” Rồi con bay đầu kêu tiếp: “Hon!” và những con phía sau trả lời: “Hon-Hon!” “Hon-Hon!” Hướng về phương nam, con ngỗng dẫn đầu bay thẳng trên đôi cánh mạnh khỏe, và hai hàng ngỗng bay theo phía sau thẳng tắp.

Các ngọn cây dọc bờ sông giờ đã ngả mầu. Các cây sồi mang những mầu đỏ, vàng, nâu và lục. Các loài cây khác như cây dương, cây óc chó ngả mầu vàng tươi. Bầu trời không còn trong xanh nữa, và gió thổi vần vũ.

Chiều hôm ấy, gió thổi dữ dội và trời trở lạnh thêm. Mẹ gọi Mary và Laura đi vào nhà. Mẹ đốt lửa trong lò sưởi, kéo chiếc ghế xích đu đến gần rồi ngồi bế em bé Carrie đong đưa và hát nho nhỏ:

Ngủ đi nào bé ngoan hiền Bố đi tìm thú trong miền Cố kiếm ra da thỏ dịu mềm Để bọc lấy người bé cả thân mình[N]

Laura nghe một tiếng rắc nhỏ trong ống khói. Mẹ ngưng hát. Bà cúi người về phía trước, nhìn lên ống khói. Rồi Mẹ yên lặng đứng lên, trao Carrie cho Mary bế, đẩy Mary ngồi xuống ghế xích đu, rồi vội vã chạy ra ngoài. Laura chạy theo.

Cả phần ống khói đang bốc cháy. Các thanh gỗ dùng để xây ống khói đang bắt lửa. Ngọn lửa bùng lên trong gió và liếm qua mái nhà không có gì bảo vệ. Mẹ vơ lấy một cây sào dài rồi đánh liên tục vào ngọn lửa, và những thanh gỗ cháy rơi chung quanh bà.

Laura không biết phải làm gì. Bé cũng vơ lấy một cây sào, nhưng Mẹ bảo bé tránh xa. Ngọn lửa cháy bùng trông kinh khiếp. Nó có thể thiêu rụi cả ngôi nhà mà Laura không thể làm gì được.

Bé chạy vào nhà. Các thanh gỗ và than củi đang rơi từ ống khói xuống và lăn ra trên sàn lò sưởi. Ngôi nhà đầy khói. Một thanh gỗ to cháy bỏng lăn trên sàn, dưới tà váy của Chị Mary. Chị của bé không thể cử động vì quá kinh hãi.

Chay trong ong khoi

Laura cũng quá kinh hãi nên không suy nghĩ gì được. Bé níu lấy lưng ghế xích đu rồi cố hết sức kéo. Chiếc ghế mang Mary và Carrie lướt về phía sau qua sàn nhà. Laura nắm lấy thanh gỗ đang cháy ném vào lò sưởi vừa kịp lúc Mẹ đi vào.

Mẹ nói: “Laura, con giỏi lắm vì đã nhớ Mẹ dặn không bao giờ được để lửa trên sàn nhà.” Mẹ đi lấy một xô nước rồi nhanh nhẹn và im lặng đổ nước vào đống lửa trong lò sưởi. Một đám mây hơi nước bốc lên.

Rồi Mẹ hỏi: “Con có bị bỏng tay không?” Mẹ nhìn hai bàn tay Laura, thấy bé không bị bỏng vì đã ném thanh gỗ cháy thật nhanh.

Thật sự Laura không khóc. Bé đã lớn rồi, không nên khóc. Chỉ là một giọt lệ chảy ra từ một bên mắt và cổ họng bé nghẹn lại, nhưng đấy không phải là khóc. Bé giấu mặt vào người Mẹ và ôm chặt lấy bà. Bé thấy thật vui vì Mẹ đã không bị bỏng.

Vuốt ve tóc bé, Mẹ nói: “Laura à, đừng khóc. Con có sợ không?”

Laura đáp: “Có. Con sợ Chị Mary và em bé Carrie bị cháy tiêu mất. Con sợ nhà sẽ bị cháy rụi và chúng ta sẽ không có chỗ ở. Con… bây giờ con sợ!”

Bây giờ Chị Mary mới lên tiếng được. Chị của bé kể cho Mẹ nghe chuyện Laura kéo chiếc ghế xích đu khỏi thanh gỗ cháy. Laura còn nhỏ, chiếc ghế lại to và nặng vì có Mary và Carrie ngồi lên, đến nỗi Mary cảm thấy kinh ngạc. Chị của bé nói không thể hiểu Laura đã làm được như thế nào.

Chị Mary nói: “Laura à, em là bé gái can đảm.” Nhưng Laura đã thật sự kinh hãi.

Mẹ tiếp lời: “Và không có thiệt hại gì cả. Nhà không cháy, váy Mary không bắt lửa, Carrie vẫn bình an. Thế là mọi việc đều ổn.”

Khi trở về nhà, Bố thấy lửa đã tắt. Gió đang gầm thét thổi qua phần đỉnh bằng đá của ống khói, ngôi nhà lạnh lẽo. Nhưng Bố cho biết sẽ xây ống khói cao thêm với những nhánh cây xanh cùng đất sét mới, và Bố sẽ trét cẩn thận để cây không bắt lửa nữa.

Bố đã mang về bốn con vịt béo, và Bố kể đáng lẽ có thể kiếm cả trăm con cũng được. Nhưng nhà chỉ cần bốn con. Bố bảo Mẹ: “Em để dành lông các con vịt và ngỗng mà mình ăn thịt, rồi anh sẽ săn cho cho em một chiếc giường lót lông vũ.”

Dĩ nhiên là Bố có thể săn được một con nai, nhưng thời tiết chưa đủ lạnh để trữ đông nên không thể để dành thịt được lâu ngày. Và Bố đã tìm ra nơi một đàn gà tây hoang dã làm tổ. Bố nói: “Gà tây cho lễ Tạ Ơn và Giáng Sinh của chúng ta. Mấy chú chàng to béo. Bố sẽ mang về khi cần làm bữa.”

Bố huýt sáo đi trộn đất sét, cắt những cành xây xanh để xây lại ống khói, trong khi Mẹ làm thịt các con vịt. Rồi bếp lò lại vang tiếng lách tách nghe vui tai, một con vịt béo được nướng, và thêm bánh mỳ bắp. Mọi thứ trở lại thân thương và ấm áp.

Sau bữa ăn chiều, Bố nói ông phải đi thị trấn sáng sớm hôm sau. Bố nói: “Cần đi cho xong việc.”

Mẹ nói: “Vâng, Charles à, anh nên đi.”

Bố nói: “Nếu anh không đi thì chúng ta vẫn sống ổn. Không nên mỗi lúc mỗi đi vì những việc nhỏ nhặt. Anh đã từng hút loại thuốc lá ngon hơn loại Scott trồng ở Indiana, nhưng tạm được. Mùa hè tới anh sẽ trồng ít thuốc lá để trả lại cho anh ấy. Anh ước gì đã không mượn đinh của chú Edwards.”

“Charles, dù sao thì anh đã mượn rồi. Còn về thuốc lá, anh cũng như em đều không muốn vay mượn. Chúng ta cần có thêm ký-nin. Em đã dùng dè sẻn bột bắp nhưng nó đã gần bị khô, còn đường đã gần hết. Anh có thể tìm ra một cây tổ ong[O], nhưng theo em biết thì anh không tìm ra được cây bột bắp, mà năm tới ta mới trồng bắp được. Một ít thịt lợn muối cũng sẽ là món ngon sau khi ta đã ăn các món vịt hoang dã. Và này, Charles, em muốn viết thư cho họ hàng ta ở Wisconsin. Nếu bây giờ anh đi gửi thư, họ có thể phúc đáp mùa đông này, và mình có thể nhận được thư họ phúc đáp mùa xuân tới.”

Bố trả lời: “Caroline à, em có lý. Lúc nào em cũng có lý.” Rồi Bố quay sang Mary và Laura, bảo đã đến giờ đi ngủ. Nếu muốn đi sớm sáng hôm sau thì tối nay Bố cần đi ngủ sớm.

Bố cởi đôi ủng của ông ra trong khi Mary và Laura thay vào bộ áo ngủ. Nhưng khi hai chị em đã nằm trên giường, Bố nhấc cây đàn xuống.

Nguyệt quế đã xanh tốt     khi cành đầy hoa lá Ta vẫn cảm thấy xót xa     khi mình phải xa nhau[P]

Mẹ quay nhìn Bố và mỉm cười. Bà nói với Bố: “Charles ạ, anh bảo trọng trên đường đi, và đừng lo lắng việc nhà. Mẹ con em sẽ ổn mà.”

Bố đi thị trấn

Bố ra đi lúc sớm tinh mơ. Khi Mary và Laura thức dậy thì Bố đã đi rồi, mọi thứ trong ngôi nhà đều trống vắng và cô đơn. Không giống như khi Bố đi săn. Bố đi thị trấn, và bốn ngày sau mới về đến nhà.

Con la Bunny đã bị nhốt trong chuồng, nên nó không thể đi theo mẹ nó. Quãng đường quá dài đối với một ngựa non. Bunny hí lên những tiếng cô đơn. Mary và Laura ở trong nhà với Mẹ. Khi Bố đi vắng thì bên ngoài trở nên quá to rộng và quá trống vắng nên hai chị em không thích chơi đùa. Jack cũng cảm thấy bất an, và có ý cảnh giác trông chừng.

Đến giữa trưa, Laura đi với Mẹ để tiếp nước cho Bunny và dời cọc rào đến chỗ có cỏ tươi. Bây giờ con bò đã trở nên hiền từ. Nó ngoan ngoãn đi theo Mẹ, và thậm chí còn để cho Mẹ vắt sữa nó.

Vào giờ vắt sữa, Mẹ đang đội chiếc mũ chống nắng lên, thì thình lình lông cổ và lưng của Jack dựng đứng lên, và nó chạy ra khỏi nhà. Có tiếng la và có tiếng chạy, rồi tiếng thét: “Kêu chó lại! Kêu chó lại!”

Nguoi mang sung & con cho sua

Chú Edwards đang đứng trên đống gỗ, và Jack đang tìm cách leo lên.

Chú Edwards nói, khi đi lùi lại trên đống gỗ: “Nó làm cho tôi phải trốn trên cây.” Mẹ khó kiềm giữ được Jack. Nó cứ nhe răng gầm gừ, đôi mắt đỏ long lanh. Nó cho phép chú bước xuống từ đống gỗ, nhưng vẫn để mắt trông chừng chú từng phút một.

Mẹ nói: “Tôi dám chắc nó biết anh Ingalls không có ở nhà.”

Chú Edwards nói chó biết nhiều hơn là những gì người ta nhìn nhận.

Trên đường đi thị trấn sáng sớm hôm ấy, Bố đã tạt sang nhà chú Edwards và nhờ chú ghé qua nhà mỗi ngày để chắc chắn mọi việc được ổn thỏa. Và chú Edwards là một láng giềng tốt, nên chú đã đến vào giờ làm công việc ngoài nhà để phụ giúp Mẹ. Nhưng Jack nhất quyết không để cho ai khác ngoại trừ Mẹ đến gần con bò hoặc Bunny trong khi Bố đi vắng. Trong khi chú Edwards phụ giúp công việc thì phải nhốt Jack trong nhà.

Khi chú Edwards ra về, chú nói với Mẹ: “Chị giữ con chó ấy trong nhà là sẽ được an toàn.”

Bóng tối chầm chậm lan quanh ngôi nhà. Gió thổi nghe ảo não, và mấy con cú kêu lên nghe như là câu hỏi “Ai-ai? Hù-hù.” Một con sói tru lên, và Jack gầm gừ trong cổ họng. Mary và Laura ngồi sát vào Mẹ bên lò sưởi. Hai chị em biết mình được bình an trong ngôi nhà, bởi vì Jack đang ở bên trong và Mẹ đã cài then cửa.

Ngày hôm sau cũng trống vắng như ngày đầu. Jack đi tuần quanh chuồng gia súc và quanh ngôi nhà, rồi lại đi quanh chuồng gia súc và trở lại ngôi nhà. Nó không còn để ý gì đến Laura.

Chiều hôm ấy, Bà Scott đến thăm Mẹ. Khi bà ở đây, Mary và Laura ngồi yên lặng ngoan ngoãn như hai con cừu. Bà Scott khen ngợi chiếc ghế xích đu. Càng ngồi đu đưa trên ghế, bà càng thấy thích. Bà khen ngôi nhà thật ngăn nắp, thoải mái và xinh xắn.

Bà nói hy vọng gia đình sẽ không gặp vấn đề gì với người Da đỏ. Bà Scott đã nghe những lời đồn đại về những rắc rối với họ. Bà nói: “Đất đã biết rõ, tự bản thân họ đã chẳng làm gì với vùng đất này. Họ chỉ lang thang đây đó như động vật hoang dã. Dù có thỏa ước hay không thì đất vẫn phải thuộc về người đang canh tác. Đấy là quy luật thông thường và cũng là công lý.”

Bà không biết tại sao chính phủ phải ký thỏa ước với người Da đỏ. Bà nghĩ chỉ có người Da đỏ đã chết mới là người Da đỏ tốt. Chỉ nghĩ đến người Da đỏ là bà lạnh người. Bà nói: “Tôi không thể nào quên vụ Thảm sát Minnesota. Cha tôi và các anh tôi cùng tiến ra ngoài với tất cả những di dân khác, và chặn đứng được họ chỉ cách nơi chúng tôi ở mười lăm dặm[Q]. Tôi vẫn thường nghe Cha tôi kể lại làm thế nào mà…”

Mẹ đằng hắng một cái trong cổ họng, và Bà Scott dừng lại. Dù cho vụ thảm sát là gì đi nữa, đấy là chuyện mà người lớn không nên đề cập đến trong khi hai cô bé đang lắng nghe.

Sau khi Bà Scott ra về, Laura hỏi Mẹ vụ thảm sát là gì. Mẹ nói bây giờ bà không thể giải thích được; để khi Laura lớn lên thì bé sẽ hiểu.

Tối hôm ấy, chú Edwards lại đến để phụ giúp công việc ngoài nhà, và một lần nữa Jack lại đuổi chú chạy lên đống gỗ. Mẹ phải kéo Jack trở lại. Mẹ nói với chú Edwards bà không biết việc gì xảy ra với con chó. Có lẽ gió lạnh làm cho nó bồn chồn.

Gió mang đến tiếng rú nghe kỳ lạ, hoang dã. Gió thổi qua trang phục Laura như thể bé không mặc gì cả. Khi hai chị em mang củi vào nhà, răng hai bé đánh lập cập.

Tối hôm ấy, hai chị em nghĩ về Bố giờ này đang ở Independence. Nếu không có gì khiến cho Bố phải chậm trễ thì giờ này Bố hẳn đang hạ trại ở đấy, gần nhà cửa và cư dân thị trấn. Ngày mai Bố sẽ đi vào cửa hàng để mua sắm. Rồi nếu trở về sớm, tối mai Bố có thể hạ trại trên thảo nguyên. Và đến tối hôm sau nữa Bố sẽ về đến nhà.

Buổi sáng, gió thổi dữ dội và lạnh đến nỗi Mẹ phải đóng cánh cửa ra vào. Mary và Laura chơi đùa kế bên lò sưởi và lắng nghe tiếng gió đang la thét quanh ngôi nhà và gầm rú trong ống khói. Xế chiều hôm ấy, hai chị em tự hỏi Bố đã rời thị trấn chưa mà về với hai bé, trong cơn gió như thế này.

Đến khi trời tối, hai chị em tự hỏi Bố đang hạ trại ở đâu. Gió lạnh cắt da. Thậm chí gió còn chui được vào ngôi nhà ấm cúng, làm cho lưng hai bé run rẩy trong khi mặt hai bé như thể bị nướng qua sức nóng của lò sưởi. Đâu đó trên thảo nguyên bao la, tối tăm, cô đơn, Bố đang hạ trại giữa cơn gió này.

Ngày kế tiếp dài lê thê. Hai chị em biết Bố không thể về kịp buổi sáng, nhưng vẫn có lòng trông chờ. Đến xế chiều, hai chị em bắt đầu trông ngóng nơi con đường từ bờ sông. Jack cũng đang dõi trông về hướng ấy. Nó rên rỉ để xin ra ngoài, rồi nhe răng ra đi vòng quanh chuồng gia súc và ngôi nhà. Ngọn gió mạnh gần như thổi nó bay khỏi mặt đất.

Khi Jack đi vào nhà, nó không muốn nằm xuống. Nó đi vòng quanh, tỏ vẻ bồn chồn. Lông cổ nó dựng lên, nằm xuống, rồi lại dựng lên. Nó cố nhìn qua khung cửa sổ, rồi lại rên rỉ với cửa ra vào. Nhưng khi Mẹ mở cửa, nó thay đổi ý định và không muốn đi ra.

Mary nói: “Jack đang sợ cái gì đó.”

Laura cãi lại: “Jack chẳng bao giờ sợ cái gì hết.”

Mẹ nói: “Laura, Laura, cãi lại người khác là thiếu lịch sự.”

Sau một phút, Jack quyết định đi ra ngoài. Nó đi ra để biết chắc con bò, con bê và Bunny được an toàn trong chuồng. Và Laura muốn nói với với Mary: “Em đã bảo với chị mà!” Tuy muốn nói ra, Laura vẫn không nói.

Đến giờ làm công việc ngoài nhà, Mẹ giữ Jack trong nhà vì không muốn nó xua đuổi chú Edwards lên đống gỗ. Bố vẫn chưa về. Có vẻ như gió thổi chú Edwards bay vào qua khung cửa. Chú thở không ra hơi, người cóng vì lạnh. Chú sưởi người cho ấm lại bên lò sưởi trước khi phụ giúp làm công việc ngoài nhà, và khi làm xong xuôi chú lại sưởi người cho ấm.

Chú báo cho Mẹ biết người Da đỏ đang hạ trại trong khu được che chắn của các vực đất. Khi vượt sông, chú đã thấy khói bốc lên từ lửa của họ. Chú hỏi Mẹ có súng hay không.

Mẹ cho biết Mẹ có khẩu súng lục của Bố. Chú Edwards nói: “Tôi đoán trong đêm lạnh như thế này, họ sẽ ở trong trại.”

Mẹ đáp: “Vâng.”

Chú Edwards nói chú có thể được thoải mái với cỏ khô trong chuồng gia súc, và chú sẽ ngủ đêm ở đấy nếu Mẹ chấp thuận. Mẹ cảm ơn chú một cách lịch sự, nhưng nói Mẹ không muốn làm phiền chú đến thế. Cả nhà sẽ được an toàn nhờ có Jack.

Mẹ nói với chú: “Tôi nghĩ từ bây giờ anh Ingalls sẽ về bất cứ lúc nào.” Thế là chú Edwards mặc áo choàng, đội mũ và chụp tai, mang găng tay và nhặt lấy khẩu súng. Chú cho biết dù sao thì chú nghĩ sẽ không có chuyện rắc rối gì xảy ra cho Mẹ.

Mẹ nói: “Không có đâu.”

Chú đi rồi, Mẹ đóng cánh cửa ra vào, gài chốt cửa cho dù trời chưa tối. Mary và Laura có thể nhìn thấy rõ con đường từ bờ sông, và hai chị em nhìn cho đến khi bóng tối phủ xuống. Rồi Mẹ đóng các lá chớp cửa sổ. Bố vẫn chưa về.

Mấy mẹ con dùng bữa chiều. Họ rửa tô đĩa, quét nền lò sưởi, và Bố vẫn chưa về. Bên ngoài trời tối nơi Bố đang đi, gió vẫn rền rĩ, nỉ non, gầm thét. Gió đập then cài cửa phần phật và lung lay các lá chớp của cửa sổ. Gió gầm thét xuống ống khói, làm cho lửa cháy phừng phừng.

Mary và Laura luôn dỏng tai để nghe ngóng tiếng bánh xe goòng. Hai chị em biết Mẹ cũng đang nghe ngóng, dù Mẹ đang ngồi đu đưa và hát ru cho Carrie.

Carrie đã thiếp ngủ mà Mẹ vẫn tiếp tục đu đưa. Cuối cùng, Mẹ thay trang phục cho Carrie và đặt em bé xuống giường. Mary và Laura nhìn nhau; hai chị em không muốn đi ngủ.

Mẹ nói: “Các con gái, đến giờ đi ngủ rồi!” Laura nài nỉ được ngồi để chờ Bố về, và Mary phụ họa theo, rốt cuộc Mẹ đành chiều lòng.

Một lúc lâu, khá lâu, hai chị em ngồi thẳng người. Rồi Mary ngáp, rồi Laura ngáp, rồi hai bé cùng ngáp. Nhưng hai chị em vẫn cố mở mắt. Laura nhìn các thứ to lên rồi nhỏ lại, đôi khi nhìn thấy hai Chị Mary và đôi khi không nhìn thấy gì cả, nhưng bé vẫn cố ngồi chờ Bố về. Thình lình một tiếng “bịch!” nghe ghê người làm cho bé kinh sợ, rồi Mẹ bế bé dậy. Thì ra bé đã ngã từ băng ghế, rơi thẳng xuống sàn nhà.

Bé cố giải thích với Mẹ rằng mình chưa buồn ngủ lắm để phải đi ngủ, nhưng bé lại ngoác miệng ngáp một cái đến gần trẹo quai hàm.

Đến giữa đêm, Laura ngồi thẳng dậy. Mẹ đang ngồi yên trên chiếc ghế xích đu gần lò sưởi. Then cài cửa kêu lách cách, các lá chớp của cửa sổ rung chuyển, và gió đang hú. Mắt Mary mở to, còn Jack đi tới đi lui. Rồi Laura lại nghe một tiếng hú hoang dã cất lên, chùng xuống rồi lại cất lên.

Mẹ nhẹ nhàng nói: “Laura, con nằm xuống ngủ đi.”

Laura hỏi: “Con gì đang tru thế hở Mẹ?”

Mẹ đáp: “Đấy chỉ là gió hú. Laura à, bây giờ con nên nghe theo Mẹ.”

Laura nằm xuống, nhưng hai mắt vẫn mở thao láo. Bé biết Bố đang đi trong bóng tối, nơi có tiếng hú kinh khiếp. Những người hoang dã đang ở gần các vực đất trên khu đất trũng dọc bờ sông, và Bố phải vượt sông nơi này trong bóng đêm. Jack lại gầm gừ.

Mẹ bắt đầu đu đưa nhè nhẹ trên chiếc ghế xích đu thoải mái. Ánh lửa lò sưởi chạy lên và xuống, rồi lại lên và xuống trên nòng khẩu súng lục đặt trên lòng bà. Và Mẹ cất tiếng hát trầm ấm, ngọt dịu:

Thân thương một vùng đất mới
    xa xa bạt ngàn
Nơi thiên thần ngự sáng chói
    tôn vinh vô vàn
Hãy lắng nghe ca khúc âm vang
   tôn thờ ngôi Cứu thế nhân gian[R]

Laura không biết rằng mình đã ngủ. Bé nghĩ những thiên thần sáng chói bắt đầu cất tiếng hát cùng với Mẹ. Bé nằm lắng nghe tiếng hát như là vang vọng trên thiên đường, cho đến lúc thình lình bé mở mắt ra và thấy Bố đứng bên lò sưởi.

Bé nhảy ra khỏi giường, reo lên: “Ôi Bố! Bố!”

Đôi ủng của Bố đóng cứng bùn đã đông lạnh, sống mũi Bố đỏ hồng vì lạnh, tóc dựng đứng trông hoang dại. Người Bố lạnh đến nỗi cái lạnh truyền sang bộ áo ngủ của Laura khi bé đến gần ông.

Bố nói: “Khoan đã!” Ông lấy tấm khăn choàng to của Mẹ quấn quanh người Laura, rồi ôm lấy bé. Mọi việc đều trở lại bình thường. Ngôi nhà lại ấm cúng với ánh lửa lò sưởi, có mùi cà phê nâu nồng nàn, Mẹ đang mỉm cười, và Bố đang đứng ở đây.

Tấm khăn choàng to đến nỗi đầu kia còn thừa cho Mary quấn quanh người. Bố cởi đôi ủng ra, xoa hai bàn tay tê cứng cho ấm lại. Rồi Bố ngồi trên băng ghế, đặt Mary lên một đầu gối và Laura lên đầu gối kia, và ôm chặt hai bé vào người, tất cả được ôm ấp trong tấm khăn choàng. Các ngón chân của ba bố con gần như bị nướng trong hơi nóng của lò sưởi.

Bố thở dài: “Ôi thôi! Bố cứ ngỡ sẽ không bao giờ về được đến nhà.”

Mẹ lục lọi trong các món Bố đã mua ở cửa hàng, và dùng muỗng múc đường cho vào cốc thiếc. Bố đã mua đường cát ở Independence. Mẹ nói: “Charles, trong một phút nữa cà phê sẽ sẵn sàng cho anh.”

Bố kể: “Mưa rơi suốt quãng đường từ đây đến Independence. Trong chuyến trở về, bùn đông lạnh giữa các nan hoa bánh xe đến lúc bốn bánh xe gần như đông cứng lại. Thế là anh phải xuống xe đập cho bùn rơi xuống, để đôi ngựa kéo được chiếc xe goòng. Rồi tưởng chừng chỉ mới bắt đầu đi lại thì đã phải xuống xe lần nữa. Anh chỉ làm được đến thế để hai con Pet và Petty tiếp tục đi trong cơn gió. Chúng quá mệt mỏi đến mức chỉ có thể lảo đảo đi từng bước. Anh chưa từng thấy gió nào như thế; nó như là con dao cứa vào da ấy.”

Trận gió bắt đầu khi Bố còn ở thị trấn. Người ở đấy đã khuyên Bố nên chờ cho im gió rồi mới quay về, nhưng Bố lại muốn về nhà sớm.

Pa trong gio

Bố nói: “Anh không hiểu nổi tại sao họ gọi gió thổi từ phương nam là gió bấc, và làm thế nào gió phương nam lại lạnh đến kinh người như thế. Anh chưa từng thấy trận gió nào như vậy. Ở vùng đất này, đầu bắc của một cơn gió nam lại là gió lạnh nhất mà anh từng nghe nói.”

Bố uống cà phê, dùng khăn tay lau ria mép rồi nói: “Hà! Trúng tiêu điểm rồi, Caroline! Bây giờ anh mới bắt đầu khỏe người lại.”

Rồi Bố nhấp nháy mắt nhìn Mẹ và bảo Mẹ mở cái gói hình vuông đặt trên mặt bàn. Bố nói: “Cẩn thận, đừng làm rơi.”

Khi đang mở cái gói, Mẹ dừng tay lại và nói: “Charles! Đáng lẽ anh không nên!”

Bố nói: “Em cứ mở đi.”

Trong cái gói hình vuống ấy là tám tấm kính cửa sổ hình vuông. Nhà sẽ có những cánh cửa sổ bằng kính.

Không có tấm kính nào bị vỡ. Bố đã mang về nhà an toàn. Mẹ lắc đầu, nói Bố không nên tiêu nhiều tiền như thế, nhưng cả khuôn mặt Mẹ cười rạng rỡ và Bố bật tiếng cười vui vẻ. Cả Bố lẫn Mẹ đều rất vui. Suốt mùa đông hai người có thể nhìn phong cảnh bên ngoài qua khung cửa sổ, và ánh mặt trời chiếu vào được.

Bố nói mình đã nghĩ Mẹ, Mary và Laura thích có kính cửa sổ hơn bất kỳ món quà gì khác, và Bố đã nghĩ đúng. Ai cũng thích. Nhưng Bố không chỉ mua kính cửa sổ. Còn có một gói giấy đựng đầy đường cát trắng. Mẹ mở gói ra, Mary và Laura cùng nhìn vào các hạt đường trắng lóng lánh xinh đẹp, và mỗi bé nếm một ít từ chiếc muỗng. Rồi Mẹ cẩn thận gói lại. Nhà sẽ dùng đường này khi có khách.

Điều tuyệt vời là Bố đã về nhà được bình an.

Mary và Laura đi ngủ lại, cảm thấy rất thoải mái. Mọi thứ đều tốt lành khi có sự hiện diện của Bố. Và bây giờ ông đã có đinh, bột bắp, thịt lợn, muối, và mọi thứ. Trong một thời gian dài Bố sẽ không phải đi thị trấn nữa.

Người Da đỏ cao lớn

Trong ba ngày, gió bấc hú và hét qua vùng thảo nguyên, rồi dịu đi. Sau đấy mặt trời lại ấm, nhưng có cảm giác mùa thu trong không khí.

Nhiều người Da đỏ cưỡi ngựa trên con đường mòn đi ngang qua ngôi nhà. Họ cứ phóng ngựa như thể ngôi nhà không có ở đấy.

Họ có khổ người mảnh khảnh, nước da nâu, ăn mặc đơn sơ trần trụi. Họ cưỡi những con ngựa nhỏ không có yên và dây cương. Họ ngồi thẳng người trên lưng ngựa trần trụi mà không nhìn sang phải hoặc trái. Nhưng đôi mắt đen của họ thì long lanh.

Mary và Laura chạy vào trong nhà và nhìn ra. Hai chị em thấy nước da nâu-đỏ sáng bóng trên nền trời xanh, những búi tóc được buộc bằng chỉ mầu, và những lông chim phất phơ. Khuôn mặt của người Da đỏ trông giống như loại gỗ nâu-đỏ mà Bố đã khắc để làm cái giá cho Mẹ.

Bố nói: “Trước đây anh nghĩ con đường mòn này đã có từ lâu mà bây giờ họ không dùng nữa. Nếu biết được đấy là con đường chính thì anh đã không xây nhà ở địa điểm này.”

Jack có ác cảm với người Da đỏ, và Mẹ bảo bà không trách nó được. Mẹ nói: “Em dám chắc người Da đỏ đang đông đảo thêm lên đến mức em nhìn lên hướng nào cũng sẽ thấy họ.”

Trong khi kể Mẹ nhìn lên, và thấy một người Da đỏ. Ông đang đứng ở ngạch cửa nhìn họ, mà họ không hề nghe một tiếng động.

Mẹ kêu lên: “Ối trời!”

Con Jack nhảy đến người Da đỏ mà không kêu lên tiếng nào. Bố nắm lấy vòng cổ nó kéo lại vừa kịp lúc. Người Da đỏ không hề nhúc nhích, ông đứng yên như thể Jack không hiện diện ở đấy.

Người Da đỏ nói với Bố: “Chào!”

Bố nắm lấy con Jack và đáp: “Chào!” Ông kéo Jack đến bên chân giường và cột nó ở đấy. Trong lúc ấy, người Da đỏ đi vào rồi ngồi xếp bằng gần lò sưởi.

Rồi Bố cũng ngồi xếp bằng kế bên ông ta. Hai người ngồi đấy, tỏ ra thân thiện nhưng không nói gì thêm, trong khi Mẹ đang nấu bữa ăn chiều.

Mary và Laura lặng yên ngồi kế bên nhau ở một góc giường. Hai chị em không thể dời mắt khỏi người Da đỏ. Ông ngồi thật yên đến nỗi các sợi lông chim cắm trên búi tóc của ông không động đậy gì cả. Chỉ có lồng ngực trần và các rẽ xương sườn cử động đôi chút theo nhịp thở. Ông mang hai ống xà cạp bằng da, và đôi giầy da đanh được phủ bằng những hạt chuỗi.

Mẹ trao cho Bố và người Da đỏ thức ăn chiều đựng trên hai đĩa thiếc, và hai người im lặng dùng bữa. Rồi Bố cho ông ta một ít thuốc lá. Hai người nhồi thuốc lá vào ống vố, đốt thuốc bằng than hồng trong lò sưởi, và im lặng hút thuốc cho đến khi thuốc trong ống vố cháy hết.

Cho đến lúc này, không ai nói lời nào. Nhưng bây giờ người Da đỏ nói gì đấy với Bố. Bố lắc đầu và trả lời ngắn gọn: “Không nói.”

Hai người lại im lặng một lúc. Rồi người Da đỏ đứng dậy, ra về mà không nói lời nào.

Mẹ kêu lên: “Ôi trời ơi!”

Mary và Laura chạy ra khung cửa sổ. Hai chị em thấy tấm lưng thẳng của người Da đỏ, đang phóng ngựa đi. Ông cầm một khẩu súng ngang hai đầu gối, mũi súng và đế súng chĩa ra mỗi bên.

Bố cho biết ông ấy không phải là người tầm thường. Dựa theo búi tóc của ông, Bố đoán ông thuộc dân tộc Osage.

Bố nói: “Nếu anh đoán không nhầm thì ông ta nói tiếng Pháp. Anh ước gì đã học đôi chút ngoại ngữ ấy.”

Mẹ nói: “Cứ để người Da đỏ sống với họ, và mình cũng thế. Em không thích người Da đỏ quanh quẩn bên mình.”

Bố bảo Mẹ đừng lo lắng.

Bố nói: “Người Da đỏ ấy hoàn toàn thân thiện. Và trại của họ đóng giữa các vực đất tỏ ra hòa hiếu. Nếu mình đối xử tử tế với họ và trông chừng con Jack thì mình sẽ không bị rắc rối gì cả.”

Đúng vào sáng hôm sau, khi Bố mở cửa để đi đến chuồng gia súc, Laura thấy Jack đang đứng trên con đường mòn của người Da đỏ. Con vật đứng yên, dáng vẻ căng thẳng, cả hai hàm răng nhe ra. Trên con đường mòn phía trước nó, người Da đỏ cao lớn ngồi trên mình ngựa.

Cả người Da đỏ và con ngựa đều bất động. Rõ ràng là Jack tỏ ý cho ông kia biết nếu người ngựa cử động thì nó sẽ nhảy xổ tới. Chỉ có các cọng lông chim diều hâu cắm trên búi tóc của người Da đỏ là lung lay trong gió.

Khi người Da đỏ trông thấy Bố, ông ta nhấc khẩu súng lên và chỉ về phía Jack.

Laura chạy ra cửa, nhưng Bố còn nhanh hơn. Ông bước đến giữa Jack và khẩu súng ấy, rồi nắm lấy vòng cổ của Jack. Ông kéo Jack khỏi con đường của người Da đỏ, và ông này phi ngựa đi theo con đường mòn.

Bố đứng hai chân dạng ra, hai tay trong túi quần, nhìn người Da đỏ phóng ngựa đi xa và xa thêm xuyên qua thảo nguyên.

Bố nói: “Suýt chút nữa thì nguy! Đấy là con đường của ông ta. Một con đường mòn của người Da đỏ, đã có từ lâu trước khi mình đến đây.”

Bố đóng một vòng sắt vào một súc gỗ của tường nhà, rồi xích con Jack vào đấy. Từ lúc này trở đi, con Jack luôn bị xích. Ban ngày nó bị xích vào nhà, còn ban đêm nó bị xích vào cửa chuồng gia súc, bởi vì hiện giờ các kẻ trộm ngựa đã đến đây. Chúng đã trộm đôi ngựa của chú Edwards.

Càng ngày Jack càng trở nên hậm hực vì bị xích. Nhưng phải như thế. Jack không nhìn nhận đấy là con đường của người Da đỏ; nó cứ nghĩ con đường là của Bố. Laura biết sẽ có chuyện kinh khủng xảy ra nếu Jack gây thương tích cho người Da đỏ.

Bây giờ mùa đông đã đến. Trảng cỏ chuyển mầu xỉn dưới khung trời xỉn. Gió thổi rền rĩ như thể đang đi tìm không ra cái gì đấy. Các con thú hoang dã đang mang bộ lông mùa đông dầy, và Bố đi đặt bẫy ở khu đất trũng dọc bờ sông. Mỗi ngày Bố đều đi thăm bẫy, và mỗi ngày Bố đều đi săn. Bây giờ vì ban đêm đã giá lạnh, Bố bắn nai để lấy thịt. Bố bắn chó sói và chồn để lấy lông, còn các chiếc bẫy của Bố bắt được hải ly, chuột xạ, chồn vizon.

Bố căng các tấm da bên ngoài ngôi nhà và cẩn thận đóng lên tường gỗ để phơi khô. Buổi tối, Bố làm việc với các tấm da khô để da và lông được mềm mại, rồi Bố chất các bộ da ở góc nhà thành từng bó. Mỗi tối các bó da cao dần lên.

Laura thích vuốt ve bộ lông dầy của chồn đỏ. Bé cũng thích bộ lông mềm mầu nâu của hải ly, và bộ lông xù của chó sói. Nhưng bé thích nhất lông chồn vizon. Đấy là tất cả các loại bộ lông Bố để dành mang đi bán ở Independence vào mùa xuân sắp tới. Mary và Laura có những chiếc mũ bằng lông thỏ, còn chiếc mũ của Bố là loại lông chuột xạ.

Một ngày khi Bố đi săn, hai người Da đỏ đến. Họ đi vào nhà, bởi vì Jack đang bị xích.

Hai người Da đỏ này dơ bẩn, cáu kỉnh và kém cỏi. Họ có thái độ như thể ngôi nhà là nhà của họ. Một người xem qua ngăn kệ của Mẹ và lấy đi tất cả bánh mỳ bắp. Người kia lấy túi thuốc lá của Bố. Họ nhìn lên hai chiếc móc trên tường nơi Bố treo khẩu súng. Rồi một người nhấc các bó lông thú lên.

Mẹ bế Carrie trong vòng tay; Mary và Laura đứng sát bên bà. Ba mẹ con nhìn người Da đỏ ấy lấy đi các bộ lông thú của Bố. Không ai làm gì được để ngăn anh ta lại.

2 nguoi Ban dia om long thu

Anh ta mang các bộ lông thú đến khung cửa ra vào. Rồi người Da đỏ kia nói gì đấy với anh ta. Cả hai trao đổi với nhau qua những âm thanh khàn đục trong cổ họng, và anh ta bỏ các bó lông thú xuống. Rồi hai người đi ra.

Mẹ ngồi xuống. Bà ôm Mary và Laura sát vào người, và Laura nghe rõ tiếng tim bà đập thình thịch.

Mẹ mỉm cười nói: “À, Mẹ cảm ơn họ đã không lấy đi chiếc cày và hạt giống.”

Laura ngạc nhiên. Bé hỏi: “Chiếc cày nào hở Mẹ?”

Mẹ đáp: “Chiếc cày và hạt giống ở trong các bó lông thú ấy.”

Khi Bố trở về nhà, Mẹ kể cho Bố nghe chuyện hai người Da đỏ. Bố trông bình tĩnh, và nói chuyện kết thúc tốt đẹp thì xem như nó tốt đẹp.

Tối hôm ấy, khi Mary và Laura đã lên giường, Bố kéo đàn. Mẹ đang đu đưa trên ghế xích đu, ôm Carrie trong lòng, và Mẹ bắt đầu hát nhè nhẹ theo tiếng đàn:

Ấy cô đẹp xinh chèo thuyền
Nàng Alfarata
Sóng đưa thuyền trôi bồng bềnh
Dọc dòng xanh, mờ khuất xa

Cung tên cứng vẫn mang bên mình
Trong bao, sơn đầy hoa lá
Ca nô chóng lướt trôi gập ghềnh
Dọc dòng xanh, mờ khuất xa

Ấy anh người yêu hào hùng
của nàng Alfarata
Giắt lông phất phơ khắp cùng
Dọc dòng xanh, mờ khuất xa

Anh tha thiết với em âu sầu
Hô vang lên lời chiến đấu
Tiếng như sấm thét, như mưa ngàn
Vọng về núi đồi chứa chan

Hát lên bài ca chạnh lòng
Nàng Alfarata
Nước khóc cùng cô não nùng
Dọc dòng xanh, mờ khuất xa

Bao năm tháng sóng đưa đùng đùng
Âm vang Alfarata
Sông thương nhớ tiếng reo chập chùng
Dọc dòng xanh, mờ khuất xa
[S]

Tiếng hát của Mẹ và tiếng đàn vĩ cầm dìu dặt nhỏ dần rồi dứt hẳn. Và Laura hỏi: “Mẹ ạ, âm vang Alfarata đi về đâu?”

Mẹ nói: “Trời đất! Con vẫn chưa ngủ sao?”

Laura nói: “Con sắp ngủ đây. Nhưng xin Mẹ cho con biết tiếng hát của Alfarata đi về đâu?”

Mẹ đáp: “À, Mẹ đoán cô ấy đi về miền tây. Người Da đỏ đều đi về hướng ấy.”

Laura hỏi: “Tại sao họ lại đi về miền tây hở Mẹ?”

Mẹ đáp: “Họ phải đi.”

Laura hỏi tiếp: “Tại sao họ phải đi hở Mẹ?”

Bố đáp: “Vì chính phủ bắt họ phải đi. Bây giờ con ngủ đi.”

Bố kéo đàn nhè nhẹ một lúc. Rồi Laura hỏi: “Bố ạ, con hỏi một câu nhé?”

Mẹ chữa cho bé: “Con xin hỏi.”

Laura lại bắt đầu: “Bố ạ, con xin hỏi”

Bố ngắt ngang: “Chuyện gì thế?” Bé gái nhỏ ngắt ngang thì thiếu lịch sự, nhưng dĩ nhiên Bố có thể làm thế.

“Chính phủ sẽ bắt họ phải đi về miền tây hay sao?”

Bố đáp: “Đúng thế. Khi người định cư da trắng đến một vùng đất nào, thì người Da đỏ phải dời đi. Bất kỳ lúc nào chính phủ sẽ di dời người Da đỏ về miền tây. Chính vì thế mà chúng ta ở đây, Laura à. Người da trắng đang định cư ở vùng này, và chúng ta lấy được đất tốt nhất bởi vì chúng ta đến đây trước và chọn nơi định cư. Bây giờ con đã hiểu chưa?”

Laura đáp: “Con hiểu rồi, Bố ạ. Nhưng mà Bố ơi, con nghĩ ở đây là Lãnh thổ Da đỏ. Có phải việc này sẽ làm cho người Da đỏ tức giận mà…”

Bố nói một cách cương quyết: “Laura, không hỏi nữa. Con ngủ đi.”

Chú Edwards gặp Ông già Nô-en

Ngày trở nên ngắn và lạnh, gió rít chát chúa, nhưng chưa có tuyết. Mưa lạnh đang rơi. Mưa rơi hết ngày này sang ngày khác, đập lách cách trên mái nhà và chảy xuống dưới các mái hiên.

Mary và Laura ngồi gần lò sưởi, may các tấm chăn bông ghép chín miếng, hoặc cắt búp bê giấy từ những mảnh giấy gói đồ, và nghe tiếng mưa rơi ẩm ướt. Mỗi đêm trời đều trở lạnh đến nỗi hai chị em nghĩ sáng hôm sau tuyết sẽ rơi, nhưng vào buổi sáng hai bé chỉ thấy lớp cỏ ướt át, ỉu xìu.

Hai chị em dí mũi lên mặt kính mà Bố đã lắp vào khung cửa sổ, và thấy vui vì nhìn ra được bên ngoài. Nhưng hai bé ước gì bây giờ được nhìn thấy tuyết.

Laura bồn chồn vì Giáng Sinh đang đến gần, nhưng Ông già Nô-en và đàn tuần lộc của ông không đi đến cho quà được nếu không có tuyết. Chị Mary thì e rằng, ngay cả nếu có tuyết, Ông già Nô-en không thể tìm ra ngôi nhà, hiện đang ở quá xa trong Lãnh thổ Da đỏ. Khi hai bé hỏi Mẹ về những vấn đề này, Mẹ đáp Mẹ không biết.

Hai bé lo lắng hỏi: “Hôm nay là ngày gì hở Mẹ?” hoặc “Còn bao nhiêu ngày đến Giáng Sinh hở Mẹ? Và hai chị em đếm ngược số ngày trên các ngón tay, cho đến khi chỉ còn một ngày.

Mưa vẫn rơi sáng hôm ấy. Bầu trời xám xịt không một kẽ hở. Hai chị em hầu như chắc chắn sẽ không có Giáng Sinh. Tuy thế, hai bé vẫn nuôi hy vọng.

Ngay trước giữa trưa, thời tiết thay đổi. Mây xám tách ra và trôi đi, ánh nắng sáng chói qua bầu trời trong xanh. Mặt trời rực sáng, chim chóc hót líu lo, và hàng nghìn giọt nước lóng lánh trên thảm cỏ. Nhưng khi Mẹ mở cửa cho làn gió mát lạnh thổi vào, hai chị em nghe tiếng nước sông gầm thét.

Hai chị em đã không nghĩ đến con sông. Bây giờ hai bé biết chắc sẽ chẳng có Giáng Sinh, bởi vì Ông già Noel không thể nào vượt qua con sông đang gầm thét ấy.

Bố bước vào, mang theo một con gà tây béo mập. Bố đánh cược, nói nếu nó nặng không tới mười kí lô thì Bố sẽ chịu thua mà ăn hết cả lông gà. Bố hỏi Laura: “Ăn gà tây mừng Giáng Sinh nhé? Liệu con có ăn hết một đùi gà tây này không?”

Laura nói có, bé có thể ăn hết. Nhưng bé lại rầu rĩ. Khi Chị Mary hỏi Bố nước sông đang xuống hay không, Bố cho biết nước sông vẫn đang dâng cao.

Mẹ nói thế thì không hay chút nào. Mẹ buồn cho chú Edwards phải lẻ loi ăn thức ăn của người cô đơn vào ngày Giáng Sinh. Chú Edwards đã yêu cầu ăn mừng Giáng Sinh với gia đình, nhưng Bố lắc đầu nói nếu tìm cách vượt sông lúc này thì quá nguy hiểm.

Bố nói: “Không được. Nước đang chảy xiết. Mình phải chuẩn bị tư tưởng là ngày mai Edwards không thể đến đây được.”

Như thế có nghĩa là Ông già Nô-en cũng không thể đến được.

Mary và Laura cố không bận tâm đến điều này. Hai chị em nhìn Mẹ nêm gia vị món gà tây rừng, và đấy là một con gà tây thật béo. Mary và Laura là hai bé gái may mắn, có một ngôi nhà thân thương, có lò sưởi ấm cúng để ngồi kề, và có một con gà tây như thế cho bữa ăn Giáng Sinh. Mẹ đã bảo thế, và Mẹ nói đúng. Mẹ nói thật là tiếc vì năm nay Ông già Nô-en không đến được, nhưng vì hai bé là gái ngoan nên Ông già Nô-en sẽ không quên; chắc chắn năm sau ông sẽ đến.

Dù cho được an ủi, hai chị em vẫn không vui.

Sau bữa ăn chiều hôm ấy, hai chị em rửa mặt mũi, cài cúc chiếc áo ngủ, cột dải mũ đội đi ngủ, và nghiêm trang đọc lời cầu nguyện. Hai bé nằm trên giường và kéo tấm chăn lên. Chẳng có gì trông giống như mùa lễ hội Giáng Sinh cả.

Bố và Mẹ ngồi im lặng kế bên lò sưởi. Sau một lúc, Mẹ hỏi Bố tại sao không chơi đàn. Bố nói: “Caroline à, anh không hứng thú.”

Sau một lúc lâu, thình lình Mẹ đứng dậy: “Các con à, Mẹ sẽ treo các bít tất của các con. Biết đâu sẽ có chuyện gì đấy xảy ra.”

Tim Laura đập mạnh vì vui mừng. Nhưng rồi bé lại nghĩ đến con sông và biết sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra cả.

Mẹ lấy một chiếc bít tất sạch của Mary và một chiếc bít tất sạch của Laura rồi treo lên hai đầu bệ lò sưởi. Mary và Laura dõi nhìn theo Mẹ qua mép chăn.

Mẹ đến hôn hai bé rồi nói: “Bây giờ hai con ngủ đi. Nếu ngủ được thì sẽ chóng đến trời sáng.”

Mẹ lại ngồi kế bên lò sưởi và Laura gần đi vào giấc ngủ. Bé mơ màng nửa thức nửa ngủ khi nghe Bố nói: “Caroline à, em chỉ làm cho tồi tệ thêm thôi.” Và bé nghe Mẹ nói: “Không sao, Charles à. Mình có đường trắng.” Nhưng có lẽ bé đang nằm mơ.

Rồi bé nghe con Jack gầm gừ dữ tợn. Then cài cửa kêu lách cách, và tiếng người gọi: “Ingalls! Ingalls!” Bố đang cời cho lửa cháy to, và khi ông mở cửa Laura thấy trời đã sáng. Khung cảnh bên ngoài mang mầu xám.

Bố kêu lên: “Edwards, trời đất quỷ thần ơi! Vào đây, anh chàng! Chuyện gì đã xảy ra vậy?”

Laura thấy các chiếc bít tất đung đưa ủ rũ, và bé vùi đôi mắt nhắm vào chiếc gối. Bé nghe Bố chất thêm củi vào lò sưởi, và bé nghe chú Edwards cho biết chú đã đội quần áo lên đầu khi vượt qua con sông. Răng chú đánh nghe lập cập, tiếng nói run rẩy. Chú nói khi làm nóng người lại thì chú sẽ ổn ngay.

Bố nói: “Edwards à, anh liều quá! Chúng tôi vui mà thấy anh đến, nhưng quá rủi ro đối với một bữa ăn Giáng Sinh.”

Chú Edwards đáp: “Các cháu bé phải có Giáng Sinh. Sau khi tôi tìm được quà cho các cháu ở Independence thì không có sông nào ngăn tôi được.”

Laura ngồi bật dậy, thốt lên: “Chú có gặp Ông già Nô-en hay sao?”

Chú Edwards đáp: “Chắc chắn là chú gặp.”

Mary và Laura cùng hỏi dồn dập: “Ở đâu thế chú? Khi nào hở chú? Ông già Nô-en trông ra sao? Ông ấy nói gì hở chú? Ông ấy có thật sự mang quà cho bọn cháu không?”

Chú Edwards cười lớn: “Hai cháu chờ, chờ một phút!” Rồi Mẹ cho biết bà sẽ đặt quà vào các chiếc bít tất như Ông già Nô-en mong muốn. Bà bảo các bé không được nhìn.

Chú Edwards đến ngồi trên sàn nhà kế bên giường hai bé, và trả lời mọi câu hỏi của hai bé. Mary và Laura cố tỏ ra chân thật mà không nhìn đến Mẹ, nên không trông thấy rõ Mẹ đang làm gì.

Chú Edwards kể rằng khi thấy nước sông dâng cao, chú biết Ông già Nô-en không thể nào qua sông được. (Laura nhận xét: “Nhưng chính chú đã qua được.” Chú Edwards đáp: “Đúng, nhưng Ông già Nô-en già rồi, lại còn béo phịch nữa. Ông không qua sông được, nhưng với người gầy tong teo như chú thì là chuyện nhỏ.”) Rồi chú giải thích rằng nếu Ông già Nô-en không vượt sông được, thì có lẽ ông chỉ đi đến Independence thôi. Tại sao ông ấy lại đi hơn sáu chục cây số trên thảo nguyên để rồi phải quay lại giữa chừng? Tất nhiên là ông ấy không làm thế!

Thì ra chú Edwards đã đi bộ đến Independence. (Chị Mary hỏi: “Chú đi trong mưa hở?” Chú Edwards đáp chú mang áo mưa bằng nhựa.) Ở thị trấn, chú đã gặp Ông già Nô-en. (Laura thắc mắc: “Chú gặp giữa ban ngày hay sao?” Bé vẫn nghĩ chưa có ai từng gặp Ông già Nô-en ban ngày. Chú Edwards đáp không; đấy là ban đêm, nhưng có ánh đèn từ các quán rượu chiếu ra.)

À, câu đầu tiên Ông già Nô-en nói là “Chào, Edwards!” (Chị Mary hỏi: “Ông ấy biết chú à?” và Laura hỏi: “Làm thế nào chú biết ông ấy đúng là Ông già Nô-en?” Chú Edwards cho biết Ông già Nô-en biết tất cả mọi người. Và chú nhận ra ngay Ông già Nô-en nhờ bộ râu. Ông già Nô-en có bộ râu dài nhất, rậm nhất và trắng nhất cả miền tây Sông Mississippi.)

Thế là Ông già Nô-en nói: “Chào! Edwards! Lần trước già thấy anh thì anh đang ngủ trên đống vỏ bắp ở Tennessee.” Và chú Edwards còn nhớ rõ lúc ấy Ông già Nô-en đã mang đến cho chú một đôi găng tay nhỏ mầu đỏ.

Rồi Ông già Nô-en nói: “Già biết bây giờ anh đang sống bên Sông Verdigris. Ở dưới đấy anh đã gặp hai bé gái nhỏ tên Mary và Laura chưa?”

Chú Edwards đáp: “Chắc chắn là tôi đã quen biết hai bé gái ấy.”

Edwards loi songÔng già Noel nói: “Già vẫn mang nặng trong lòng chuyện này. Hai cháu nhỏ đều hiền dịu, xinh xắn, lại có lòng tốt, và già biết hai cháu đang trông ngóng già. Thực lòng già không muốn làm cho hai cháu ngoan như thế thất vọng. Nhưng mà khi nước sông dâng cao như thế, già không thể vượt sông được. Già không thể tìm ra cách nào để đi đến nhà hai cháu trong năm nay.” Rồi Ông già Nô-en nói tiếp: “Edwards, anh có thể giúp mang quà của già cho hai cháu, chỉ lần này thôi, được không?”

Chú Edwards trả lời Ông già Nô-en: “Tôi rất vui mà làm việc này.”

Thế là Ông già No Nô-en el cùng chú Edwards băng qua đường đến nơi con lừa thồ bao đựng quà đang được cột. (Laura thắc mắc: “Ông già Nô-en không có tuần lộc hay sao hở chú?” Chị Mary giải thích: “Em phải biết ông ấy không dùng tuần lộc. Chẳng có tuyết gì cả.” Chú Edwards đáp đúng thế. Ở vùng tây-nam Ông già Nô-en đi bằng lừa thồ.)

Ông già Nô-en tháo bao đựng quà để chọn quà cho Mary và Laura.

Laura reo lên: “Ồ, quà gì thế hở chú?” Nhưng Chị Mary hỏi: “Thế rồi ông ấy làm gì?”

Thế rồi ông ấy bắt tay chú Edwards, và leo lên lưng con ngựa hồng của ông. Với thân người phục phịch như thế thì kể ra Ông già Nô-en cưỡi ngựa khá giỏi. Ông vén bộ râu dài, trắng dưới tấm khăn tay lớn in hoa. Ông nói: “Giã từ, Edwards.” Rồi ông vừa huýt sáo vừa điều khiển ngựa đi trên con đường mòn Pháo đài Dodge, dẫn theo con lừa thồ các món quà.

Mary và Laura cùng im lặng, nghĩ ngợi về chuyện này.

Rồi Mẹ gọi: “Các con, bây giờ có thể đến xem được rồi.”

Có vật gì đấy đang chiếu sáng từ chiếc bít tất của Laura. Bé kêu rú lên, nhảy ra khỏi giường. Mary cũng thế, nhưng Laura chạy đến lò sưởi nhanh hơn. Và vật chiếu sáng là một chiếc cốc thiếc mới.

Mary cũng có một chiếc cốc giống y như thế.

Mỗi chiếc cốc thiếc này là dành riêng cho mỗi bé. Bây giờ mỗi bé có thể uống từ chiếc cốc của riêng mình. Laura nhảy nhót và reo cười, nhưng Mary chỉ ngồi im với đôi mắt sáng ngắm chiếc cốc của mình.

Hai chị em lại đưa tay vào chiếc bít tất của mình, mỗi bé kéo ra một thỏi kẹo dài, thật dài. Đấy là kẹo bạc hà, có những sọc trắng và đỏ. Hai bé cứ ngắm mãi thỏi kẹo đẹp đẽ, rồi Laura liếm thỏi kẹo của bé, chỉ liếm một cái thôi. Nhưng Mary thì không tham lam như thế. Thậm chí chị của bé chưa muốn liếm kẹo chút nào.

Hai chiếc bít tất vẫn còn quà. Mary và Laura kéo ra hai cái gói nhỏ. Mỗi bé tháo gói quà ra, và mỗi bé nhận được một chiếc bánh nhỏ hình trái tim. Chiếc bánh có lớp phủ ngoài mầu nâu, có đường trắng rắc lên trên. Các hạt đường lóng lánh trông như những tinh thể tuyết li ti.[T]

Chiếc bánh trông quá đẹp nên ăn thì thấy tiếc. Mary và Laura chỉ ngắm nhìn. Nhưng cuối cùng Laura xoay chiếc bánh của bé lên, cắn lấy một miếng thật nhỏ phía dưới để giấu đi vết cắn. Và phía trong chiếc bánh nhỏ có mầu trắng!

Bánh đã được làm bằng bột trắng tinh, và đường cũng trắng tinh.

Đáng lẽ Mary và Laura không còn phải lục lọi trong bít tất nữa. Chiếc cốc, thỏi kẹo và cái bánh đã là quá nhiều. Hai bé sung sướng quá nên không biết nói gì. Nhưng Mẹ lại hỏi hai bé có chắc trong bít tất không còn món quà nào hay không.

Thế là hai chị em lại luồn tay vào bít tất, để biết chắc.

Và dưới đáy của mỗi chiếc bít tất có một đồng tiền 1 cent mới, sáng ánh.

Hai chị em chưa từng nghĩ đến việc có một cent. Bạn thử tưởng tượng có cả một cent cho riêng mình. Thử tưởng tượng có chiếc cốc, thỏi kẹo và cái bánh lại thêm đồng một cent.

Chưa từng có kỳ lễ Giáng Sinh nào như thế.

Tất nhiên là bây giờ, đáng lẽ Mary và Laura phải lập tức cảm ơn chú Edwards đã mang những món quà dễ thương như thế qua quãng đường từ Independence. Nhưng hai chị em đã quên chú Edwards. Hai chị em đã quên Ông già Noel. Có lẽ nếu chờ trong một phút thì hai chị em sẽ nhớ ra, nhưng Mẹ đã nhẹ nhàng nhắc nhở trước: “Hai con sẽ cảm ơn chú Edwards chứ?”

Hai chị em nói: “Ồ, cảm ơn chú Edwards! Cảm ơn chú nhiều!” Hai bé đã thốt ra từ cõi lòng. Bố bắt tay chú Edwards, và bắt tay thêm lần nữa. Bố và Mẹ và chú Edwards trông như có vẻ sắp khóc. Laura không hiểu tại sao. Thế là bé lại ngắm nhìn các món quà xinh đẹp của mình.

Bé ngẩng đầu lên khi Mẹ bỗng thở hắt. Và chú Edwards đang lấy những củ khoai lang từ túi áo ra. Chú cho biết các củ khoai lang này đã giúp chú giữ thăng bằng khi lội ngang con sông. Chú nghĩ chắc là Bố Mẹ thích dùng khoai với món gà tây Giáng Sinh.

Có chín củ khoai lang ngon ngọt. Chú Edwards cũng mang các củ khoai này từ thị trấn về. Bố nói thế là quá nhiều. Bố nói: “Edwards à, thế là quá nhiều đấy.” Bố Mẹ không biết nói lời nào cảm ơn chú Edwards cho đủ.

Mary và Laura vì quá vui mừng nên không ăn sáng được. Hai bé chỉ uống sữa từ chiếc cốc mới sáng ánh, nhưng không nuốt trôi món thịt thỏ hầm và cháo bột bắp.

Mẹ nói: “Charles à, đừng ép hai con. Chẳng bao lâu sẽ đến bữa ăn chính.”

Bữa ăn chính lễ Giáng Sinh có món gà tây nướng mềm mại, tươm nước sốt. Còn có khoai lang ngọt nào, nướng trong tro và được lau cẩn thận để mọi người ăn cả vỏ ngon lành. Lại còn có bánh mỳ nêm muối làm từ phần bột trắng cuối cùng.

Sau đấy có món mâm xôi khô hầm và những chiếc bánh ngọt nhỏ. Nhưng những chiếc bánh này làm bằng đường nâu và không có đường trắng rắc bên ngoài.

Rồi Bố Mẹ và chú Edwards ngồi bên lò sưởi mà chuyện trò về những kỳ Giáng Sinh trước ở Tennessee và Rừng Đại Ngàn. Nhưng Mary và Laura chỉ biết ngắm nhìn chiếc bánh đẹp đẽ, chơi với đồng 1 cent và uống nước từ chiếc cốc thiếc mới. Rồi hai bé chầm chậm liếm mút thỏi kẹo, cho đến khi đầu thỏi kẹo nhọn lại.

Đấy là một kỳ lễ Giáng Sinh thật vui.

Tiếng hét trong đêm

Bây giờ ngày ngắn lại và xám xịt, còn đêm thì tối đen và lạnh lẽo. Những cụm mây treo thấp trên ngôi nhà nhỏ, trải thấp và rộng xa xa trên vùng thảo nguyên hoang vắng. Mưa rơi, và đôi lúc tuyết bay la đà trong gió. Những lọn tuyết cứng nhỏ bay vần vũ trong không khí và lượn nhốn nháo trên thảm cỏ khốn khổ. Và ngày hôm sau không còn tuyết nữa.

Mỗi ngày Bố đều đi săn và đặt bẫy. Trong ngôi nhà ấm cúng, sáng ánh lửa lò sưởi, Mary và Laura phụ giúp Mẹ làm công việc nhà. Rồi hai chị em may tấm chăn bông ghép vải mảnh. Hai chị em chơi trò Nhồi Bánh Chả với Carrie, và chơi với nhau trò Giấu Đê. Với một sợi chỉ to và mười ngón tay, hai chị em chơi trò Nôi Mèo. Rồi hai chị em chơi trò Cháo Đậu Nóng. Ngồi đối diện với nhau, hai bé vỗ hai bàn tay vào nhau và vỗ bàn tay bé đối diện, theo nhịp điệu của bài đồng dao:

Cháo đậu nóng bỏng
           Cháo đậu mát lành
Cháo đậu ăn trong xoong
           Chín ngày lạnh tanh

Người thích nóng bỏng
           Người thích mát lành
Người thích ăn trong xoong
           Chín ngày lạnh tanh

Em thích nóng bỏng
           Em thích mát lành
Em thích ăn trong xoong
           Chín ngày lạnh tanh

Đúng thế. Không có món ăn chiều nào ngon bằng cháo đậu sánh đặc được thêm một ít thịt lợn muối mà Mẹ sớt ra đĩa thiếc khi Bố đã về nhà lạnh cóng và mệt nhoài sau chuyến đi săn. Laura thích ăn cháo đậu nóng, và cũng thích cháo đậu lạnh, vẫn ngon lành dù để lâu. Nhưng không bao giờ kéo dài đến chín ngày. Nhà đã ăn hết từ trước.

Lúc nào gió cũng vẫn thổi, vẫn gào thét, rền rĩ, nỉ non, than van ai oán. Mọi người dần quen với tiếng gió. Cả ngày nghe tiếng gió, và ban đêm trong giấc ngủ vẫn nghe ra gió đang thổi. Nhưng một đêm, cả nhà nghe một tiếng hét kinh hoàng khiến cho ai nấy đều choàng dậy.

Bố nhảy ra khỏi giường, và Mẹ hỏi: “Charles! Cái gì thế?”

Bố nói: “Đấy là tiếng phụ nữ hét.” Ông đang vội vã thay trang phục. “Nghe chừng tiếng hét vang từ nhà anh Scott.”

Mẹ kêu lên: “Ôi, có thể nào!”

Bố đang mang đôi ủng. Ông xỏ chân vào, luồn các ngón tay qua quai dây ở miệng giầy ống. Rồi ông giật mạnh, dậm chân mạnh xuống sàn nhà, thế là mang xong một chiếc ủng.

Trong khi mang chiếc ủng kia, Bố nói: “Có lẽ Scott ngã bệnh.”

Mẹ hỏi nhỏ: “Anh không nghĩ là…?”

Bố đáp: “Không. Anh vẫn thường nói họ sẽ không gây rắc rối gì cả. Những người sống trong các trại giữa những vực đất ấy hoàn toàn trầm lặng và hòa hiếu.”

Laura bắt đầu leo ra khỏi giường, nhưng Mẹ nói: “Laura, con nằm xuống và đừng khuấy động.” Thế là bé nằm xuống.

Bố mặc chiếc áo choàng hàng len sọc vuông trơn, đội mũ lông thú có mảnh chụp tai. Ông đốt ngọn nến trong chiếc đèn lồng, nhấc lấy khẩu súng, rồi vội vã đi ra khỏi nhà.

Trước khi Bố đóng cánh cửa lại sau lưng ông, Laura kịp nhìn thấy màn đêm bên ngoài, hoàn toàn tối đen. Không có một vì sao nào. Laura chưa từng thấy màn đêm đen kịt như thế.

Bé gọi: “Mẹ ơi?”

“Gì thế hở, Laura?”

“Tại sao ngoài trời đen thế hở Mẹ?”

Mẹ đáp: “Trời sắp mưa.” Bà hạ then cài cửa và cho một khúc củi vào lò sưởi. Rồi bà nằm xuống giường, nói: “Mary và Laura, hai con ngủ đi.”

Nhưng Mẹ không ngủ được, Mary và Laura cũng thế. Ba mẹ con thao thức lắng nghe. Không thể nghe gì khác ngoài tiếng gió hú.

Chị Mary dụi đầu dưới tấm chăn bông và thầm thì cùng Laura: “Chị mong Bố mau quay về.” Laura gật đầu trên gối, nhưng không biết nói gì.

Den nha ong Scott

Có vẻ như bé thấy Bố đang đi dọc đỉnh vực đất, trên con đường mòn dẫn đến nhà Ông Scott. Những đốm sáng li ti của ngọn nến phóng ra đây đó qua những lỗ đục trên khung thiếc của đèn lồng. Những tia sáng lập lòe nhỏ dường như chìm lấp vào đêm đen.

Sau một lúc lâu, Laura thì thầm: “Bây giờ chắc là gần sáng.” Chị Mary gật đầu. Hai chị em vẫn nằm thao thức ngóng nghe tiếng gió, và Bố vẫn chưa về.

Thế rồi, qua tiếng gió gầm rú trên cao, hai bé lại nghe tiếng hét kinh hoàng ấy. Có vẻ như tiếng hét khá gần ngôi nhà.

Laura cũng hét lên, và nhảy ra khỏi giường. Chị Mary vùi đầu dưới lớp chăn. Mẹ ngồi dậy và vội vã mặc thêm trang phục. Mẹ cho thêm một cây củi vào lò sưởi và bảo Laura quay trở lại giường. Nhưng Laura nài nỉ thiết tha đến nỗi Mẹ cho phép bé ngồi dậy. Mẹ nói: “Con choàng khăn quàng lên người đi.”

Hai mẹ con đứng bên lò sưởi mà nghe ngóng. Không nghe gì cả ngoại trừ tiếng gió. Hai mẹ con không thể làm gì được. Nhưng ít nhất không nằm trên giường.

Thình lình có tiếng đập cửa, và Bố kêu lên: “Caroline! Cho anh vào, nhanh lên!”

Mẹ mở cửa, rồi Bố đóng sập cánh cửa lại lập tức. Ông thở không ra hơi. Ông kéo ngược chiếc mũ về phía sau rồi nói: “Kinh quá! Anh vẫn còn sợ.”

Mẹ hỏi: “Chuyện gì thế?”

Bố đáp: “Một con báo.”

Bố đã đi đến nhà Ông Scott càng nhanh càng tốt. Khi Bố tới nơi, ngôi nhà tối đen và mọi thứ đều yên lặng như tờ. Bố đi vòng quanh nhà, nghe ngóng, và xem xét với ánh sáng chiếc đèn lồng. Bố không tìm thấy dấu hiệu nào bất ổn. Thế nên Bố nghĩ mình cứ như là người ngu xuẩn, thức dậy thay trang phục giữa đêm và đi bộ hơn ba cây số, tất cả chỉ vì ông nghĩ mình đã nghe tiếng gió hú.

Con bao tren ngon cay 2

Bố không muốn hai ông bà Scott biết chuyện này. Vì thế mà Bố không đánh thức hai người. Ông quay về nhà càng nhanh càng tốt bởi vì gió lạnh như cắt da. Bố đang vội vã qua về theo con đường mòn, dọc theo rìa vực đất, thì thình lình ông nghe tiếng hét ấy ngay dưới chân.

Bố kể cho Laura nghe: “Nói cho con biết, tóc Bố dựng cả lên như muốn nhấc cả chiếc mũ khỏi đầu. Bố hoảng hốt chạy về nhà như con mèo bị cắt tai.”

Laura hỏi: “Con báo ở đâu, hở Bố?”

Bố đáp: “Trên ngọn cây. Trên ngọn cây dương đen mọc ở bờ đất ấy.”

Laura hỏi tiếp: “Bố ạ, thế nó có đuổi theo Bố không?”

Bố đáp: “Bố không biết, Laura à.”

Mẹ nói: “Charles ạ, dù sao thì bây giờ anh đã an toàn.”

Bố nói: “Đúng, và anh lấy làm vui. Đêm quá tối nên dễ bị nguy hiểm với mấy con báo. Laura, bây giờ cái tháo ủng của Bố đâu?”

Pa thao ung

Laura mang cái tháo ủng đến cho Bố. Đấy là một mảnh gỗ sồi mỏng với một khía ở một đầu và một cái chêm ở phần giữa. Laura đặt cái tháo ủng trên sàn nhà với cái chêm quay xuống dưới, và cái chêm nâng đầu có khía lên. Bố đứng một chân trên cái tháo ủng, đặt chân kia vào khía, và cái khía giữ lấy chiếc ủng ở gót trong khi Bố kéo chân ra. Rồi bằng cách ấy, Bố kéo chân kia ra khỏi chiếc ủng. Đôi ủng bình thường bó sát vào chân, nhưng lúc này phải rời ra.

Laura xem Bố tháo ủng, rồi hỏi: “Bố ạ, con báo có tha đi bé gái nhỏ không?”

Bố đáp: “Có chứ. Chẳng những tha đi mà còn ăn thịt luôn nữa. Mary và con phải ở trong nhà cho đến khi Bố bắn được con báo ấy. Ngay khi trời vừa sáng, Bố sẽ mang súng đi tìm nó.”

Suốt ngày hôm sau, Bố đi săn lùng con báo ấy. Bố lại săn lùng ngày kế, và ngày kế tiếp nữa. Bố tìm thấy vết chân của con báo, tìm thấy cả da và xương của một con linh dương mà con báo bắt ăn thịt, nhưng không thấy con báo đâu. Nó đã chuyền từ ngọn cây này sang ngọn cây khác nên không để lại dấu chân trên mặt đất.

Bố bảo ông sẽ không ngưng săn lùng cho đến khi bắn được con báo ấy. Bố nói: “Ta không thể để cho báo chạy tung tăng ở nơi có những bé gái nhỏ.”

Nhưng Bố chưa giết được con báo, và vẫn chưa ngưng săn lùng.

Một ngày, Bố gặp một người Da đỏ trong rừng. Hai người đứng trong khoảnh rừng ướt át, lạnh lẽ mà nhìn nhau, không nói câu nào vì không hiểu tiếng nhau. Nhưng người Da đỏ chỉ xuống các vết chân con báo, và ra hiệu với khẩu súng để cho Bố biết anh ta đã bắn con báo ấy. Anh chỉ lên ngọn cây và chỉ xuống mặt đất, để cho biết anh đã bắn con báo từ trên cây và nó rơi xuống đất. Rồi anh ra dấu đến bầu trời, đến hướng tây và hướng đông, để cho biết anh đã bắn nó ngày trước.

Thế thì tình hình được ổn. Con báo đã chết.

Laura hỏi con báo có thể tha một papoose nhỏ và ăn thịt không. Bố đáp có thể lắm. Có lẽ vì vậy mà anh người Da đỏ đã bắn con báo ấy.

Đại hội người Da đỏ

Cuối cùng thì mùa đông chấm dứt. Tiếng gió đã dịu đi, và cái lạnh cắt da đã không còn. Một ngày, Bố cho biết ông đã nhìn thấy một đàn ngỗng trời bay về phương bắc. Đã đến lúc mang các tấm da thú của Bố đi bán ở Independence.

Mẹ nói: “Người Da đỏ ở gần đây quá!”

Bố nói: “Họ hoàn toàn thân thiện.” Trong khi đi săn, Bố thường gặp họ trong rừng. Không có gì phải sợ người Da đỏ.

Mẹ nói: “Đúng thế.” Nhưng Laura biết Mẹ sợ người Da đỏ. Mẹ nói: “Charles à, anh phải đi. Chúng ta phải có cày và hạt giống. Và chẳng bao lâu anh sẽ về.”

Hôm sau, bình minh chưa lên Bố đã thắng hai con Pet và Patty vào xe goòng, chất các bó lông thú lên, rồi đánh xe đi.

Mary và Laura đếm từng ngày dài, trống vắng. Một, hai, ba, bốn ngày, mà Bố vẫn chưa về. Sáng ngày thứ năm, hai chị em bồn chồn trông ngóng Bố.

Đấy là một ngày nắng đẹp. Vẫn còn có một ít khí lạnh trong cơn gió, nhưng đã có hơi hướng mùa xuân. Khung trời xanh cao rộng vang tiếng quàng quạc của những con vịt hoang dã và tiếng hon-hon-hokin của những con ngỗng trời. Từng hàng dài những chấm đen của chúng đều bay về phương bắc.

Mary và Laura chơi bên ngoài, trong tiết trời dìu dịu ngọt ngào. Và con Jack tội nghiệp nhìn hai chị em mà thở dài. Nó không còn được chạy nhảy và nô đùa, bởi vì đang bị xích. Mary và Laura cố an ủi Jack, nhưng nó không muốn được nựng nịu. Nó muốn được tự do trở lại như đã từng được tự do trước đây.

Sáng hôm ấy Bố vẫn chưa về. Chiều cùng ngày Bố vẫn chưa về. Mẹ nói Bố phải mất thời gian lâu để bán các bộ lông thú.

Buổi chiều, Mary và Laura chơi nhảy lò cò. Hai chị em dùng một cây gậy để vẽ nên những ô trên nền đất. Mary không thật sự muốn chơi nhảy lò cò; chị của bé đã gần tròn tám tuổi và nghĩ mình nhảy lò cò thì không ra vẻ quý cô trẻ tí nào. Nhưng Laura dẫn dụ và nài nỉ, bảo nếu chơi bên ngoài nhà, khi Bố từ khu đất trũng dọc bờ sông trở về thì hai chị em sẽ thấy ngay. Thế là Chị Mary chấp thuận chơi nhảy lò cò.

Thình lình, Chị Mary co một chân, dừng lại và hỏi: “Cái gì thế?”

Laura đã nhận ra âm thanh kỳ quặc, và đang lắng nghe cho rõ. Bé nói: “Đấy là những người Da đỏ.”

Chân kia của Mary buông xuống, chị của bé đứng ngây người, kinh hãi. Laura không thật sự kinh hãi, nhưng âm thanh ấy khiến cho bé cảm thấy lạ lùng. Đấy là âm thanh của khá nhiều người Da đỏ, đầy những tiếng nói lao xao. Đấy là vừa giống như tiếng rìu đang chặt đốn, vừa giống như tiếng chó đang sủa, và cũng giống như một bài hát, nhưng không giống như bất kỳ bài hát nào Laura đã từng nghe. Đó là một âm thanh hoang dã, nghe mãnh liệt, nhưng có vẻ như không phải giận dữ.

Laura cố lắng nghe cho rõ hơn. Bé không thể nghe rõ, bởi vì các ngọn đồi, các cội cây và gió ngăn chặn, và Jack đang gầm gừ dữ tợn.

Mẹ bước ra khỏi nhà và lắng nghe một phút. Rồi Mẹ bảo Mary và Laura đi vào nhà. Mẹ cũng dẫn Jack vào, và hạ then cài cửa xuống.

Hai chị em không chơi đùa nữa. Hai chị em nhìn qua khung cửa sổ, và lắng nghe âm thanh ấy. Ở trong nhà thì khó nhận ra âm thanh ra sao. Đôi lúc hai bé không nghe được, rồi lại nghe được. Âm thanh ấy vẫn vang không dứt.

Mẹ và Laura làm công việc ngoài nhà sớm hơn ngày thường. Hai mẹ con nhốt Bunny, con bò và con bê trong chuồng, và mang sữa vào nhà. Mẹ lược sữa rồi mang đi cất. Bà múc một xô nước đầy từ giếng, trong khi Mary và Laura mang củi vào. Trong thời gian ấy âm thanh kia vẫn vọng đến, bây giờ to hơn và nhanh hơn. Âm thanh làm cho tim Laura cũng đập nhanh lên.

Tất cả đi vào nhà rồi Mẹ chắn cánh cửa. Then cài cửa đã được hạ xuống. Đến sáng mấy mẹ con mới ra khỏi nhà.

Mặt trời lặn thấp dần. Chung quanh cả mép thảo nguyên, rìa của bầu trời ửng ánh hồng. Ánh sáng lò sưởi lập lòe trong ngôi nhà mờ tối. Mẹ đang làm bữa ăn chiều, nhưng Mary và Laura vẫn im lặng nhìn qua khung cửa sổ. Hai chị em thấy mầu sắc nhạt đi từ mọi vật. Vùng đất mang nhiều bóng tối, còn bầu trời thì trong, xám nhạt. Trong lúc ấy, âm thanh vẫn vọng lên từ khu đất trũng dọc bờ sông, càng lúc càng to thêm, càng lúc càng nhanh thêm. Và tim Laura cũng đập nhanh thêm và to thêm.

Bé kêu lên tiếng rõ to khi nghe tiếng xe goòng! Bé chạy ra cửa, nhảy lên nhảy xuống nhưng không thể nhấc then cài cửa lên. Mẹ không muốn bé đi ra. Mẹ đi ra để giúp Bố mang vào các gói.

Mary & Laura hug Pa

Bố đi vào với hai tay mang đầy các món. Mary và Laura níu lấy hai tay áo ông và nhảy lên hai chân ông. Bố cất tiếng cười rổn rảng: “Này! này! đừng làm Bố ngã! Hai con xem Bố là gì? Cội cây để leo hở?”

Bố bỏ các bó xuống bàn, ôm lấy Laura siết chặt, tung bé lên rồi lại ôm chặt. Rồi Bố ôm lấy Mary trong vòng tay kia.

Laura nói: “Bố ạ, nghe này. Nghe người Da đỏ! Tại sao họ phát âm thanh kỳ lạ thế hở Bố?”

Bố đáp: “À, họ có buổi đại hội gì đấy. Bố đã nghe tiếng họ khi vượt qua khu đất trũng dọc bờ sông.”

Bố đi ra để tháo đôi ngựa và mang các bó còn lại vào. Bố đã mang về cái cày; ông để cày trong chuồng gia súc nhưng mang tất cả hạt giống vào cho an tâm. Bố mang về đường, lần này không phải là đường trắng, mà là đường nâu. Đường trắng có giá quá đắt. Nhưng Bố mua một ít bột mỳ trắng. Còn có bột bắp, muối, cà phê, và tất cả các loại hạt giống cần thiết. Thậm chí Bố còn mua củ khoai tây giống. Laura thèm ăn khoai tây, nhưng phải để dành mang ra vườn trồng.

Mặt Bố sáng lên; ông mở một gói giấy nhỏ ra. Gói chứa đầy bánh quy. Bố đặt gói bánh trên bàn, mở ra và đặt kế bên một lọ thủy tinh chứa đầy dưa chuột xanh muối.

Bố nói: “Bố nghĩ ta sẽ có một bữa tiệc thịnh soạn.”

Laura chảy nước bọt, và đôi mắt Mẹ long lanh dịu dàng nhìn Bố. Ông vẫn nhớ bà thích ăn dưa chua.

Chưa hết. Bố trao cho Mẹ một gói và nhìn bà mở ra. Trong gói ấy có vải trúc bâu đủ cho Mẹ may một bộ áo.

Mẹ nói: “Ồ, Charles, anh không nên mua! Tốn kém quá!” Nhưng khuôn mặt Mẹ và khuôn mặt Bố ngời hai ánh hạnh phúc.

Bây giờ Bố mới treo chiếc mũ và chiếc áo choàng hàng len sọc vuông lên cái móc trên lò sưởi.

Mary cũng ngồi xuống, và gấp hai cánh tay trong lòng. Nhưng Laura leo lên đầu gối Bố và đấm ông thùm thụp. Bé vừa hỏi vừa đấm ông: “Ở đâu hở Bố? Nó ở đâu? Quà của con đâu?”

Bố cười sang sảng, nghe như những quả chuông to đang ngân, rồi nói: “ Sao hở, Bố nghĩ có cái gì đấy trong túi áo của Bố.”

Bố rút ra một gói có hình dạng lạ lùng, rồi chầm chậm, rất chậm, mở ra.

Bố nói: “Mary à, con nhận trước, bởi vì con thật kiên nhẫn. Bố dành một vòng kẹp tóc cho chị của bé. Bố nói với Laura: “Và đây con gái yêu! món này dành cho con.”

Mary

Hai chiếc vòng kẹp tóc giống y như nhau. Cả hai làm bằng cao su đen, uốn cong cho vừa với mái đầu của mỗi bé. Phía trên vòng kẹp tóc có một mảnh cao su đen dẹt, với những rãnh cong cắt sâu xuống, và ở giữa khắc một ngôi sao năm cánh. Một dải ruy băng mầu sáng nằm dọc phía dưới, mầu ánh lên trên.

Ruy băng trên vòng kẹp tóc của Mary mầu lam, còn ruy băng trên vòng kẹp tóc của Laura mầu đỏ.

Mẹ chải mái tóc hai bé về phía sau rồi gài vòng kẹp tóc lên, thế là trên mái tóc vàng, giữa đỉnh đầu của Mary là một ngôi sao mầu lam. Và trên mái tóc nâu, đỉnh đầu trán của Laura là một ngôi sao mầu đỏ.

Laura

Laura ngắm ngôi sao của Chị Mary, và Mary ngắm ngôi sao của Laura, rồi hai bé cười lên sung sướng. Hai chị em chưa từng có món nào để chưng diện đẹp đến thế.

Mẹ nói: “Nhưng Charles à, anh không có món gì cho anh cả!”

Bố đáp: “À, anh có chiếc cày. Chẳng bao lâu tiết trời sẽ ấm, rồi anh sẽ đi cày.”

Đấy là một bữa ăn chiều hạnh phúc nhất mà gia đình từng hưởng được. Bố lại trở về nhà bình an. Món lợn muối rán thật là ngon, sau nhiều tháng ăn toàn thịt vịt, ngỗng, gà tây và thịt thú rừng. Và không có hương vị nào tuyệt bằng bánh quy và món dưa chua.

Bố kể cho nghe về các loại hạt giống. Bố mang về hạt giống củ cải, cà rốt, củ hành và bắp cải. Cũng có hạt các loại đậu. Còn thêm bắp, lúa mỳ, thuốc lá và củ khoai tây giống. Lại thêm hạt giống dưa hấu. Bố nói với Mẹ: “Caroline à, anh nói cho nghe, khi mình bắt đầu thu hoạch hoa mầu từ mảnh đất phì nhiêu này, thì mình sẽ sống như ông hoàng bà chúa!”

Mọi người hầu như quên bẵng âm thanh vọng đến từ trại người Da đỏ. Các cánh cửa sổ đã đóng lại, gió đang than thở trong ống khói và nỉ non quanh nhà. Đã quen với gió đến nỗi mọi người không còn nghe tiếng gió thổi. Nhưng khi gió lặng một lúc, Laura lại nghe âm thanh hoang dã, gầm rú, dậm dật từ các lều trại người Da đỏ.

Rồi Bố kể cho Mẹ chuyện gì đấy khiến cho Laura phải ngồi yên lặng mà lắng nghe. Bố nói cư dân ở Independence cho biết chính phủ sẽ di dời người định cư da trắng khỏi Lãnh thổ Da đỏ. Bố nói người Da đỏ đang khiếu nại và họ đã nhận được câu trả lời như thế từ Washington.

Mẹ nói: “Ôi, Charles, không đâu! Không thể nào, sau khi mình đã bỏ ra nhiều công sức nơi đây.”

Bố nói ông không tin chuyện ấy. Bố nói: “Họ luôn cho phép người định cư giữ đất. Họ sẽ di dời người Da đỏ đi nữa. Có phải anh đã nhận tin tức trực tiếp từ Washington nói rằng vùng đất này sẽ được mở ra cho người định cư bất kỳ lúc nào hay không?”

Mẹ nói: “Em ước gì họ quyết định cho xong và không bàn bạc đến chuyện này nữa.”

Sau khi lên giường, Laura thao thức hồi lâu, và Mary cũng thế. Bố Mẹ ngồi bên lò sưởi và cây nến. Bố đã mang về một tờ nhật báo ở Kansas, và ông đọc cho Mẹ nghe. Tờ báo chứng tỏ Bố đã đúng: chính phủ sẽ không làm gì đối với người định cư da trắng cả.

Mỗi khi tiếng gió dịu đi thì Laura lại thoáng nghe âm thanh của đại hội hoang dã ấy ở trại người Da đỏ. Đôi lúc thậm chí qua tiếng gào của gió Laura nghĩ mình vẫn còn nghe những tiếng hét cuồng dại. Tiếng hét dồn dập thêm khiến cho tim của bé đập nhanh thêm. “Hi! Hi! Hi-di! Ha! Hi! Ha!”

Lửa cháy trên thảo nguyên

Mùa xuân đến. Từng luồng gió ấm áp tỏa hương vị phấn khích; vạn vật ngoài trời đều mở rộng bát ngát, bừng sáng và êm dịu. Những đám mây trắng to sáng chói trôi lơ lửng trong khoảng không gian tinh khiết. Mây tạo từng bóng râm la đà trên vùng thảo nguyên. Các bóng mỏng, có mầu nâu, phần lộ ra ngoài sáng có mầu nhạt dìu dịu của cỏ khô.

Chuong chay

Bố đang vỡ đất mặt thảo nguyên cùng với hai con Pet và Patty được thắng vào chiếc cày. Đất mặt là một thảm rễ cỏ chặt và dầy. Pet và Patty đi chầm chậm, cố hết sức kéo chiếc cày, và lưỡi cày bén lật lên thành từng luống dài thảm rễ cỏ ấy.

Lớp cỏ khô dài và dầy đến nỗi đất mặt dính chặt với nhau. Sau khi Bố đã cày qua một lượt, đất vẫn chưa thành cánh đồng được cày hoàn thiện. Những dải rễ cỏ dài nằm phía trên thân cỏ, và thân cỏ lại xen giữa những dải rễ.

Nhưng Bố cùng hai con Pet và Patty tiếp tục làm việc. Bố cho biết năm nay lớp rễ của khoai tây và bắp sẽ phát triển, đến năm tới rễ và thân cỏ sẽ mục nát. Trong vòng hai hoặc ba năm sẽ có những cánh đồng được cày chỉn chu. Bố thích đất nơi này vì độ phì nhiêu, và cũng vì không có cây to hoặc gốc cây còn sót hoặc đá tảng.

Bây giờ có rất nhiều người Da đỏ cưỡi ngựa dọc theo con đường mòn của họ. Người Da đỏ có mặt khắp nơi. Tiếng súng của họ vang vọng từ khu đất trũng dọc bờ sông nơi họ đi săn. Không ai biết được có bao nhiêu người Da đỏ ẩn nấp trong thảo nguyên vốn có vẻ bằng phẳng nhưng không bằng phẳng. Laura thường trông thấy một người Da đỏ ở nơi mà ngay lúc trước không có ai cả.

Người Da đỏ thường đi đến nhà của Laura. Có người thân thiện, có người cáu kỉnh. Tất cả đều muốn tìm thức ăn, thuốc lá, và Mẹ cho họ lấy thứ nào họ muốn. Mẹ sợ làm trái ý họ. Khi người Da đỏ chỉ đến món gì và nói ra tiếng ậm ừ, Mẹ cho anh ta món ấy. Nhưng phần lớn thức ăn được che giấu và giữ trong chạn có khóa.

Jack luôn tỏ ra bực dọc, ngay cả với Laura. Nó luôn bị xích, và lúc nào cũng tỏ dấu hiệu có ác cảm với người Da đỏ. Bây giờ Mary và Laura đã quen dần với hình ảnh người Da đỏ. Nhưng hai chị em luôn cảm thấy yên tâm khi có Bố hoặc Jack ở bên cạnh.

Một ngày, hai chị em phụ giúp Mẹ sửa soạn bữa ăn chiều. Em bé Carrie đang chơi trên sàn nhà dưới ánh nắng, và thình lình ánh nắng vụt tắt.

Mẹ nhìn qua khung cửa sổ và nói: “Mẹ tin chắc trời sắp mưa.” Laura cũng nhìn, thấy những đám mây đen to đang đùn lên ở hướng nam, che khuất mặt trời.

Pet và Patty đang từ cánh đồng chạy về, Bố đang nắm chiếc cày nặng phóng những bước dài theo sau.

Bố thét lên: “Cháy thảo nguyên! Lấy chậu đựng đầy nước! Cho bao đay vào! Nhanh lên!”

Mẹ chạy ra giếng nước. Laura chạy kéo chậu nước đến giếng. Bố cột Pet vào tường nhà. Ông dẫn con bò và con bê từ cọc rào vào chuồng gia súc rồi đóng cửa lại. Ông tóm lấy Bunny và cột nó vào góc hướng bắc ngôi nhà. Mẹ đang cố hết sức kéo những gàu nước từ lòng giếng lên. Laura chạy nhặt những bao đay mà Bố đã ném ra từ chuồng gia súc.

Bố đang cày, la thét đốc thúc Pet và Patty đi nhanh thêm. Bây giờ bầu trời đen kịt, không gian tối sầm như thể mặt trời đã lặn. Bố cày một luống dài ở hướng tây ngôi nhà đến hướng nam ngôi nhà, rồi trở lại hướng đông ngôi nhà. Những con thỏ nhảy nhót ngang qua Bố như thể ông không có mặt.

Pet và Patty chạy nước kiệu, chiếc cày và Bố theo sau. Bố cột hai con vật vào góc hướng bắc ngôi nhà. Cái chậu đã đầy nước. Laura phụ giúp Mẹ cho các bao đay vào chậu để thấm ướt.

Bố nói: “Anh chỉ có thể cày một luống; không có thời giờ. Nhanh lên, Caroline. Ngọn lửa này cháy lan nhanh hơn là ngựa chạy.”

Một con thỏ to nhảy ngang qua chậu nước mà Bố Mẹ đang khiêng. Mẹ bảo Laura ở trong nhà. Bố Mẹ khiêng chậu nước loạng choạng chạy ra luống cày.

Dam chay

Laura vẫn ở gần nhà. Bé có thể thấy ngọn lửa đỏ dưới những cuộn khói đen. Thêm những con thỏ phóng qua. Chúng không để ý đến Jack, và Jack cũng không nghĩ gì đến chúng. Con chó nhìn đến ngọn lửa dưới làn khói cuộn, run rẩy và rên rỉ nép vào bên Laura.

Gió đang thổi lên và gào thét điên dại. Hàng nghìn con chim bay phía trước ngọn lửa, hàng nghìn con thỏ đang chạy trốn khỏi lửa.

Bố vừa đi dọc luống cày vừa đốt cỏ phía bên kia luống. Mẹ cầm một bao đay thấm nước theo sao, đập xuống đám lửa nào cố vượt qua luống cày. Toàn vùng thảo nguyên dẫy đầy những con thỏ nhảy nhót. Những con rắn luồn lách lăn tăn qua sân vườn. Những đàn gà thảo nguyên chạy im lìm, cổ vươn dài và cánh giang rộng. Chim chóc la hét trong cơn gió đang la hét.

Bây giờ những đốm lửa của Bố đang cháy vòng quanh ngôi nhà, và Bố phụ giúp Mẹ chữa lửa với những bao đay thấm nước. Những ngọn lửa bay cuồng loạn, táp đến cỏ khô bên trong luống. Bố Mẹ dùng bao đay thấm nước dập các đốm lửa, và khi lửa lan qua luống cày hai người dẫm chân lên để dập lửa. Bố Mẹ chạy tới lui trong làn khói, cố chống chọi với đám cháy ấy. Bây giờ đám cháy trên thảo nguyên đang gầm thét, càng gầm thét to hơn và to hơn trong cơn gió rền rĩ. Những đốm lửa tách ra rồi theo gió rơi xuống trảng cỏ, lại cháy bùng lên phía trước bức tường lửa gầm thét. Một ánh sáng đỏ phát ra từ những làn khói đen cuồn cuộn trên đầu.

Mary và Laura đứng bên ngôi nhà, run rẩy nắm tay nhau. Em bé Carrie ở trong nhà. Laura muốn phụ giúp việc gì đấy, nhưng chính đầu bé lại gầm thét và quay cuồng như đám cháy ngoài kia. Người bé run rẩy, nước mắt trào ra từ đôi mắt nhức nhối. Mắt, mũi và cổ họng bé đều bị khói làm cho cay sè.

Con Jack tru lên. Bunny, Pet và Patty đang cố giật ra khỏi sợi dây thừng và kêu ré kinh hoàng. Những ngọn lửa cam và vàng kinh khiếp đang di chuyển nhanh hơn ngựa, ánh sáng chuyển động nhảy múa khắp nơi.

Những đốm lửa của Bố đã cháy thành một dải tro đen. Những ngọn lửa nhỏ chầm chậm đi ngược chiều gió, chầm chậm bò đến bức tường lửa đang chạy điên cuồng. Và thình lình bức tường lửa nuốt chửng lấy những ngọn lửa nhỏ.

Gió tốc cao những ngọn lửa kêu lách tách, rền rĩ hòa vào bầu không khí đen đét. Lửa bao vòng quanh ngôi nhà.

Thế rồi, cơn hoạn nạn qua đi. Ngọn lửa gầm thét vút qua rồi đi xa.

Bây giờ Bố Mẹ đang dập những ngọn lửa nhỏ lác đác đây đó trong vườn nhà. Khi hai người xong xuôi, Mẹ đi vào nhà để rửa tay, lau mặt. Người bà vẫn còn những vệt khói và mồ hôi, và bà đang run rẩy.

Mẹ nói không có gì phải lo lắng. “Lửa cháy ngược đã cứu chúng ta. Chuyện gì kết thúc tốt đẹp thì xem như nó tốt đẹp.”

Bầu không khí sặc mùi khét lẹt. Thảo nguyên đã cháy đen trơ trụi đến tận chân trời. Những cuộn khói vẫn còn tỏa lên. Tro bay mù mịt trong không gian. Mọi thứ đều thay đổi, khốn khổ. Nhưng Bố và Mẹ đều vui vì cơn hỏa hoạn đã qua đi và không gây tổn hại gì.

Bố nói lửa đã bén gần đến nhà, nhưng sai một li như thế quý bằng một dặm. Ông hỏi Mẹ: “Nếu đám cháy bén đến như thế trong khi anh đi Independence, thì em sẽ làm sao?”

Mẹ nói: “Tất nhiên là mẹ con em sẽ chạy xuống bờ sông để sống cùng chim và thỏ.”

Tất cả các loài hoang dã trên thảo nguyên đã biết phải làm gì. Chúng cố hết sức chạy, bay, nhảy và bò đến nơi có nước để được an toàn khỏi ngọn lửa. Riêng những con chuột vàng bé xíu đã chui sâu xuống hang ổ, và chúng là những con vật đầu tiên ngoi lên nhìn quanh thảo nguyên trơ trụi còn đang bốc khói.

Từ khu đất trũng dọc bờ sông từng đàn chim bay lên; một con thỏ vừa nhảy nhót vừa e dè nhìn quanh quất. Phải một lúc lâu các con rắn mới bò ra khỏi vùng trũng và những con gà thảo nguyên mái trở về.

Lửa đã tắt ở các vực đất. Lửa không hề bén xuống khu đất trũng dọc bờ sông hoặc các lều trại của người Da đỏ.

Tối hôm ấy, chú Edwards và Ông Scott đến thăm Bố. Họ lo lắng vì nghĩ có lẽ người Da đỏ đã cố ý đốt lửa để thiêu rụi người da trắng định cư.

Bố không tin chuyện này. Bố cho biết người Da đỏ luôn đốt lửa để cỏ xanh chóng mọc lên, và để họ di chuyển dễ hơn. Dòng ngựa nhỏ của họ không thể phi dễ dàng qua thảm cỏ khô dầy và cao. Bây giờ mặt đất đã cháy sạch. Và Bố vui về điều này, bởi vì ông sẽ cày đất dễ dàng hơn.

Trong khi mọi người đang trò chuyện, họ có thể nghe tiếng trống vang lên từ lều trại của người Da đỏ, cùng những tiếng hô. Laura ngồi yên lặng ở ngạch cửa, lắng nghe lời trò chuyện từ người lớn và âm thanh từ người Da đỏ. Những vì sao to lơ lửng thấp xuống, lung linh trên vùng thảo nguyên cháy rụi, và cơn gió thổi nhè nhẹ qua tóc Laura.

Chú Edwards cho biết có quá nhiều người Da đỏ trong các lều trại ấy; chú không thích việc này. Ông Scott bảo không hiểu nhiều người hoang dã ấy tụ tập với nhau để làm gì, nếu họ không có ý xấu.

Ông Scott nói: “Chỉ có người Da đỏ đã chết mới là người Da đỏ tốt.”

Bố nói mình không biết gì về việc này. Ông nghĩ nếu người Da đỏ được để yên thì họ cũng hiền hòa như bất cứ người nào khác. Mặt khác, họ đã bị ép buộc di dời về miền tây nhiều lần nên lẽ tự nhiên là họ căm ghét người da trắng. Nhưng người Da đỏ phải có đủ trí khôn để biết kiềm chế khi bị ức hiếp. Với những binh sĩ Mỹ trú đóng trong các Pháo đài Gibson và Pháo đài Dodge, Bố không tin rằng người Da đỏ sẽ gây rắc rối.

Bố nói: “Anh Scott à, còn về việc tại sao họ đang tụ họp với nhau ở các lều trại, thì tôi có thể nói được. Họ đang chuẩn bị cho chiến dịch săn bò rừng lớn lao vào mùa xuân.”

Bố cho biết có dăm bảy bộ tộc ở các lều trại ấy. Các bộ tộc thường đánh nhau, nhưng vào mỗi mùa xuân họ hòa hoãn với nhau và tụ họp nhau lại để tham gia vào chiến dịch săn lớn lao.

Bố nói: “Họ đã thề giữ hòa hiếu với nhau, và họ đang tính chuyện săn bò rừng. Vì thế mà không có lý nào họ định gây chiến với ta. Họ bàn thảo với nhau và ăn uống với nhau, rồi một ngày họ sẽ lên đường đuổi theo các đàn bò rừng. Chẳng bao lâu bò rừng sẽ đi về phương bắc để tìm cỏ mới mọc. Ôi trời ạ! ước gì tôi được tham gia vào cuộc săn như thế! Cảnh tượng hẳn là rất đáng xem.”

Ông Scott nói chậm rãi: “Anh Ingalls à, có lẽ anh nói đúng. Dù sao đi nữa, tôi sẽ rất vui kể cho vợ tôi nghe điều anh nói. Bà ấy vẫn bị ám ảnh về vụ Thảm sát Minnesota.”

Tiếng thét xung trận của người Da đỏ

Sáng hôm sau Bố huýt sáo đi cày. Đến trưa Bố trở về, người lấm đầy bồ hóng từ vùng thảo nguyên bị cháy rụi, nhưng tinh thần tỏ ra phấn khởi. Ông không còn bị trở ngại bởi lớp cỏ cao khi cày bừa nữa.

Nhưng có cảm giác không an tâm về người Da đỏ. Càng ngày càng có thêm người Da đỏ ở khu đất trũng dọc bờ sông. Ban ngày Mary và Laura thấy khói bốc lên từ những đống lửa của họ, và ban đêm hai chị em nghe những tiếng thét hoang dại.

Buổi chiều Bố trở về nhà sớm. Ông làm công việc ngoài nhà sớm hơn bình thường, và nhốt Pet, Patty, Bunny, con bò và con bê vào chuồng. Thế là chúng không thể thong dong ngoài sân chuồng để ngắm ánh trăng mát mẻ.

Khi những cái bóng bắt đầu tụ tập trên thảo nguyên và gió đã lặng, những tiếng ồn từ lều trại người Da đỏ càng to thêm và hoang dại thêm. Bố dẫn Jack vào trong nhà. Cả đêm này không ai được ra khỏi nhà.

Đêm mon men đến ngôi nhà nhỏ, và màn đen trông thật dễ sợ. Đêm rên ư ử theo tiếng hét của người Da đỏ, rồi đến một buổi tối bắt đầu đập thình thịch theo nhịp trống của người Da đỏ.

Trong giấc ngủ, Laura luôn nghe những tiếng la thét hoang dại và tiếng trống thùng thùng man di. Bé nghe Jack cào móng kêu lách cách, và gầm gừ ư ử. Đôi lúc Bố ngồi dậy trên giường, lắng nghe.

Một buổi tối, Bố lấy khuôn đúc đạn ra từ cái hộp dưới giường. Bố ngồi một lúc lâu trước cửa lò sưởi, nấu chảy chì và đúc đạn cho khẩu súng. Sau khi dùng hết chì Bố mới ngưng công việc. Mary và Laura thức nhìn ông. Trước đây chưa bao giờ Bố đúc nhiều đạn đến thế luôn một lần. Mary hỏi: “Bố ạ, tại sao Bố làm thế?”

Bố đáp: “À, chỉ vì Bố không có việc làm nào khác.” Rồi ông bắt đầu huýt sáo vui vẻ. Nhưng Bố đã đi cày cả ngày. Bố quá mệt nên không thể chơi đàn được. Đáng lẽ ông phải đi ngủ, thay vì thức khuya như thế để đúc đạn.

Người Da đỏ không còn đến nhà nữa. Nhiều ngày Mary và Laura không thấy một người Da đỏ nào. Mary không thích ra chơi bên ngoài ngôi nhà nữa. Laura phải chơi bên ngoài một mình, và bé có cảm giác kỳ quặc khó hiểu. Cảm giác này khiến cho bé thấy bất an. Nó giống như che giấu một cái gì đấy. Đôi lúc Laura có cảm tưởng như một cái gì đấy đang rình rập bé, một cái gì đấy đang mon men đến phía sau. Bé quay đầu lại thật nhanh, nhưng không thấy gì cả.

Ông Scott và chú Edwards, mỗi người đều mang súng, đến nói chuyện với Bố ngoài cánh đồng. Họ trao đổi với nhau hồi lâu, rồi ba người cùng ra đi với nhau. Laura thấy thất vọng vì chú Edwards không vào nhà.

Trong bữa ăn chiều, Bố nói với Mẹ rằng một số người định cư đang bàn bạc với nhau về hàng rào cọc. Laura không biết hàng rào cọc là gì. Bố đã bảo Ông Scott và chú Edwards rằng đấy là một ý nghĩ ngốc nghếch. Bố bàn với Mẹ: “Nếu mình cần có nó mà bây giờ mới xây thì đã muộn. Mình không nên cho họ thấy rằng mình hành động như thể vì sợ hãi.”

Mary và Laura nhìn nhau. Hai chị em biết không nên hỏi han. Nếu hỏi thì chỉ nghe lời răn dạy lần nữa rằng trẻ con không được phép nói chuyện với người lớn trừ khi được hỏi tới. Hoặc là người lớn chỉ nhìn trẻ con chứ không nghe trẻ con.

Chiều hôm ấy, Laura hỏi Mẹ hàng rào cọc là gì. Mẹ bảo đấy là thứ làm cho các bé gái tọc mạch hỏi han. Có nghĩa là người lớn không muốn giải thích. Và Mary nhìn Laura với ánh mắt như có ý nói: “Chị đã bảo mà.”

Laura không biết tại sao Bố nói ông không nên hành động như thể vì sợ hãi. Bé thật sự sợ hãi người Da đỏ.

Jack không còn muốn nằm thư giãn và mỉm cười với Laura nữa. Ngay cả khi Laura vuốt ve Jack, hai vành tai nó dựng đứng, lông cổ xù lên, miệng hơi bạnh ra. Đôi mắt nó lộ vẻ tức giận. Mỗi đêm nó đều gầm gừ nghe dữ dằn, trong khi tiếng trống người Da đỏ nhanh hơn và nhanh hơn nữa, tiếng la thét vang cao và cao hơn nữa, nhanh hơn, hoang dại hơn.

Giữa đêm, Laura ngồi thẳng dậy và la hét. Có âm thanh khủng khiếp nào đấy đã khiến cho bé mướt mồ hôi lạnh toát cả người.

Mẹ nhanh chóng đi đến giường và dịu dàng bảo bé: “Laura, con đừng làm ồn. Đừng làm cho em Carrie sợ.”

Laura ôm lấy Mẹ, và Mẹ đang mặc bộ áo để đi ra ngoài. Lò sưởi đã cháy hết chỉ còn lại tro và ngôi nhà tối tăm, nhưng Mẹ chưa đi ngủ. Ánh trăng chiếu vào nhà. Các cánh cửa chớp đang mở ra, Bố đứng trong bóng tối kế cửa sổ, nhìn ra ngoài. Ông đang cầm khẩu súng.

Trong bầu trời đêm bên ngoài, những hồi trống vẫn rộn rã vang lên và người Da đỏ vẫn la thét cuồng dại.

Rồi âm thanh khủng khiếp ấy lại dội đến. Laura có cảm giác như mình đang rơi xuống; bé không thể bám víu vào vật gì được; không còn có chỗ vững chắc ở đâu cả. Có vẻ như một lúc lâu sau, bé mới có thể nhìn hoặc nghĩ hoặc nói được.

Bé thét lên: “Cái gì thế Bố? Cái gì thế! Ôi, Bố ạ, cái gì?”

Bé run rẩy toàn thân, phần giữa thân người nôn nao cả lên. Bé nghe tiếng trống dồn dập, tiếng hét inh ỏi, và cảm nhận Mẹ đang ôm mình trong sự che chở bình an. Bố nói: “Laura à, đấy là tiếng thét xung trận của người Da đỏ.”

Mẹ thốt nhẹ một tiếng kinh hãi, và Bố nói với bà: “Caroline à, các con cần được biết.”

Bố giải thích cho Laura hiểu đấy là cách người Da đỏ nói về chiến tranh. Người Da đỏ chỉ nói về việc này, và chỉ nhảy nhót quanh đống lửa. Bố bảo Mary và Laura không nên sợ hãi, bởi vì Bố đang ở đây, Jack đang ở đây, và còn có quân đội đồn trú ở Pháo đài Gibson và Pháo đài Dodge.

Bố lặp lại: “Vì thế mà đừng sợ, Mary và Laura à.”

Laura hổn hển nói: “Vâng, Bố ạ.” Nhưng bé sợ đến kinh hoàng. Mary không thể nói gì được, chỉ nằm run rẩy dưới tấm chăn.

Me om 3 be

Rồi Carrie bắt đầu khóc, nên Mẹ bế em bé ngồi trên ghế xích đu, nhè nhẹ đu đưa. Laura rón rén ra khỏi giường và nép vào đầu gối Mẹ. Còn Chị Mary, bị bỏ lại một mình, cũng rón rén theo sau và cũng ôm chân Mẹ. Bố vẫn đứng bên cửa sổ trông chừng bên ngoài.

Tiếng trống như thể đập thùng thùng trong đầu Laura, như thể vang dội sâu trong cả thân người bé. Tiếng la thét cuồng dại, còn tệ hại hơn tiếng sói tru. Rồi còn một thứ tệ hơn nữa đang đến. Laura biết như thế. Rồi nó đến – tiếng thét xung trận của người Da đỏ.

Ác mộng không đến nỗi kinh khủng như người ta nghĩ. Ác mộng chỉ là một giấc mộng, và khi đến lúc tệ hại nhất thì bạn tỉnh giấc. Nhưng ở đây là thực và Laura không thể tỉnh giấc. Bé không thể trốn tránh khỏi nó được.

Khi tiếng thét xung trận kia chấm dứt, Laura biết nó chưa làm hại đến mình. Bé vẫn còn ở trong ngôi nhà tối tăm và bám sát vào Mẹ. Nhưng Mẹ đang run rẩy toàn thân. Jack đang tru lên rồi gầm gừ nức nở. Carrie lại bắt đầu khóc ré lên. Bố lau mồ hôi trán và nói: “Hú hồn! Bố chưa từng nghe tiếng gì như thế. Có biết họ học được làm như thế bằng cách nào không?” Nhưng không ai trả lời.

Bố nói: “Họ không cần dùng súng. Chỉ cần thét như thế là người ta đã sợ chết khiếp rồi. Miệng mồm Bố khô khốc nên không thể huýt sáo cho lên tinh thần. Laura, mang đến cho Bố ít nước.”

Việc này làm cho Laura cảm thấy an tâm hơn. Bé múc một gáo đầy nước mang đến cho Bố ở khung cửa sổ. Bố đón lấy gáo nước và mỉm cười với Laura. Việc này làm cho Laura càng vững tâm hơn. Bố uống một ít nước rồi lại mỉm cười và nói: “Tốt! Bây giờ Bố có thể huýt sáo.”

Bố huýt sáo vài nốt nhạc để chứng tỏ cho Laura thấy ông nói đúng.

Rồi Bố nghe ngóng. Và Laura cũng nghe từ nơi xa âm thanh nho nhỏ lục-cục lạc-cạc lục-cục lạc-cạc của một con ngựa nhỏ đang phi nước đại. Nó đã đến gần hơn.

Từ một bên ngôi nhà dội đến tiếng trống dồn dập và tiếng thét lanh lảnh thúc hối, trong khi từ phía bên kia ngôi nhà vọng đến tiếng ngựa phi nước đại của một kỵ sĩ duy nhất.

Tiếng ngựa phi mỗi lúc đến gần hơn. Bây giờ vó ngựa vang lộc cộc to hơn, và thình lình phát ra ngay trước ngôi nhà. Rồi âm thanh vụt qua và nhỏ dần, theo con đường đi xuống khu đất trũng.

Dưới ánh trăng, Laura thấy thân sau của một con ngựa đen nhỏ của người Da đỏ, và một người Da đỏ ngồi trên lưng. Bé thấy một nùi chăn, một cái đầu trần phía trên cắm những cọng lông chim phất phơ, ánh trăng chiếu xuống một nòng súng, và rồi tất cả đi xa. Không còn lại gì trên thảo nguyên vắng lặng.

Bố nói ông không thể hiểu chuyện gì xảy ra. Bố cho biết đấy là người Da đỏ cao lớn thuộc dân tộc Osage đã nói tiếng Pháp với ông ngày nọ.

Bố hỏi: “Ông ấy đang làm gì vào giờ giấc này mà chạy như điên thế?”

Không ai trả lời được vì không ai biết.

Tiếng trống vẫn vang thình thình, người Da đỏ vẫn la thét dồn dập. Tiếng thét xung trận của người Da đỏ lại vang lên và vang lên nữa.

Sau một lúc lâu, tiếng thét dần dần nhỏ lại và thưa thớt hơn. Cuối cùng, Carrie khóc mãi rồi cũng mệt mà chìm vào giấc ngủ. Mẹ đưa Mary và Laura trở lại giường.

Ngày hôm sau, cả gia đình không ra khỏi nhà. Bố ở bên mấy mẹ con. Không có một âm thanh nào từ lều trại người Da đỏ. Toàn vùng thảo nguyên đều yên ắng. Chỉ có cơn gió thổi trên lớp đất cháy đen không còn lớp cỏ để kêu rì rào. Gió thổi ngang qua ngôi nhà nghe như tiếng róc rách của nước chảy.

Đêm hôm ấy, âm thanh từ lều trại người Da đỏ lại càng tồi tệ hơn đêm trước. Tiếng thét xung trận của người Da đỏ nghe càng kinh khủng hơn bất kỳ cơn ác mộng nào. Laura và Mary xúm xít kế bên Mẹ, em bé Carrie tội nghiệp lại khóc. Bố cầm súng đứng kế bên khung cửa sổ mà nhìn ra ngoài. Và suốt đêm dài Jack vừa đi tới đi lui vừa gầm gừ, lại tru lên khi tiếng thét xung trận của người Da đỏ vọng đến.

Đêm kế tiếp, thêm đêm kế tiếp và thêm đêm kế tiếp lại càng tồi tệ hơn và tồi tệ hơn. Mary và Laura đã quá mệt mỏi nên hai chị em thiếp đi trong khi tiếng trống vẫn dội về và tiếng la ó vẫn vang đến. Nhưng một tiếng thét xung trận của người Da đỏ luôn làm cho hai chị em giật thót người và tỉnh ngủ trong cơn kinh hoàng.

Ban ngày im lặng còn thậm chí tệ hại hơn ban đêm. Bố luôn quan sát và nghe ngóng. Chiếc cày còn nằm ngoài đồng; Pet, Patty, con ngựa non, con bò và con bê vẫn ở trong chuồng. Hai chị em Mary và Laura không thể đi ra bên ngoài nhà. Bố luôn nhìn về mọi hướng trên thảo nguyên, và nhanh chóng quay đầu về phía có âm thanh dù nhỏ nhất. Bố hầu như không ăn uống được gì; ông luôn tỉnh giấc và đi ra bên ngoài để nhìn khắp phía thảo nguyên.

Một ngày, đầu Bố gục xuống bàn và Bố thiếp ngủ tại chỗ. Mẹ, Mary và Laura cố không gây tiếng động để ông ngủ. Ông đã quá mệt mỏi. Nhưng sau một phút Bố giật bắn người tỉnh dậy, nghiêm khắc nói với Mẹ: “Đừng để cho anh ngủ gục như thế nữa.”

Mẹ nhẹ nhàng nói: “Đã có con Jack canh chừng.”

Đêm hôm ấy là tệ hại nhất. Tiếng trống dồn dập hơn, tiếng thét to hơn và dữ dằn hơn. Dọc dài bên bờ sông, tiếng thét xung trận sau đáp lời tiếng thét xung trận trước và các vực đất dội lại tiếng vang. Không thể nào nghỉ ngơi được. Laura thấy đau nhức toàn thân, và giữa thân người bé đau nhức khủng khiếp.

Đứng kế bên khung cửa sổ, Bố nói: “Caroline à, họ đang cãi vã với nhau. Có lẽ họ sẽ đánh nhau.”

“Ôi, Charles, cứ để cho họ đánh nhau.”

Suốt đêm không có một phút chợp mắt. Ngay trước bình minh tiếng thét xung trận chấm dứt; Laura thiếp ngủ bên đầu gối của Mẹ.

Bé thức dậy trên giường. Chị Mary đang nằm ngủ kế bên. Cửa đang mở, và nhìn ánh nắng trên sàn nhà bé biết giờ đã gần trưa. Mẹ đang nấu ăn. Bố ngồi trên ngạch cửa.

Bố nói với Mẹ: “Có một đoàn đông người khác, đang đi về hướng nam.”

Laura đi đến khung cửa sổ, vẫn mặc bộ áo ngủ. Bé thấy một hàng dài những người Da đỏ đang đi ở xa xa. Hàng người đi ra khỏi khu thảo nguyên tối và di chuyển xa hơn về hướng nam. Từ xa, trông những người Da đỏ trên mình ngựa nhỏ không khác gì đàn kiến.

Bố cho biết ban sáng đã có hai đoàn đông người Da đỏ đi về hướng tây. Đoàn sau này đi về hướng nam. Điều này có nghĩa là người Da đỏ đã cãi vã với nhau. Họ đã rời lều trại của họ ở khu đất trũng dọc bờ sông. Họ sẽ không đi cùng nhau trong chiến dịch to lớn săn bò rừng.

Buổi tối, màn đêm hạ xuống nhanh. Không có âm thanh nào ngoại trừ tiếng gió thổi rì rào.

Bố nói: “Chúng ta sẽ được ngủ yên đêm nay!” Và đúng thế. Suốt đêm, thậm chí họ không mơ thấy gì. Đến sáng, Jack vẫn còn sóng soài nằm ngủ ngay trên chỗ nó đang ngủ khi Laura lên giường.

Đêm kế tiếp vẫn yên tĩnh, và mọi người lại được ngủ ngon giấc. Đến sáng Bố cho biết mình đã tươi tắn như sương mai, và ông sẽ đi thăm dò một chuyến dọc bờ sông.

Bố xích Jack vào một chiếc vòng trên tường nhà, cầm khẩu súng và đi khuất dần dọc con đường dẫn xuống bờ sông.

Mẹ, Mary và Laura không thể làm gì được mà phải chờ Bố trở về. Ba mẹ con ở trong nhà, mong Bố về sớm. Ngày hôm ấy ánh mặt trời di chuyển trên sàn nhà chậm chưa từng thấy.

Xế chiều, Bố về đến. Và mọi việc trở lại bình thường như trước. Bố đã đi lên đi xuống dọc dài bờ sống và thấy các trại trống không của người Da đỏ. Tất cả người Da đỏ đã ra đi, ngoại trừ những người dân tộc Osage.

Trong khu rừng, Bố đã gặp một người Osage, và hai bên có thể trao đổi với nhau bằng tiếng Anh. Người này cho biết tất cả các bộ tộc ngoại trừ người Osage đã quyết định đi giết những người da trắng xâm lấn đất của người Da đỏ. Và trong khi họ đang chuẩn bị lên đường làm việc này thì có một người Da đỏ đơn độc phi ngựa vào đại hội.

Người Da đỏ ấy đã phi ngựa nhanh như thế trên quãng đường dài bởi vì ông không muốn họ giết người da trắng. Ông thuộc dân tộc Osage, và họ gọi ông theo một tên có nghĩa là chiến sĩ oai hùng.

Bố cho biết tên ông ấy là “Soldat du Chêne[U].

Bố kể: “Ông ấy tranh luận ngày đêm với họ, cho đến lúc những người dân tộc Osage khác đồng ý với ông. Rồi ông ấy đứng dậy và bảo những bộ tộc kia rằng nếu họ bắt đầu tàn sát người da trắng thì người Osage sẽ chống lại họ.”

Chính vì chỗ này mà đêm kinh khủng cuối cùng có nhiều âm thanh đến thế. Người thuộc những bộ tộc khác la rú phản đối người Osage, và người Osage kêu gào phản đối lại. Người của những bộ tộc khác không dám chiến đấu với Soldat du Chêne và bộ tộc của ông, thế là ngày hôm sau họ bỏ đi.

Bố nói: “Đấy là một người Da đỏ tốt bụng.” Dù cho Ông Scott nói gì đi nữa, Bố vẫn không tin chỉ có người Da đỏ đã chết mới là người Da đỏ tốt.

Người Da đỏ ra đi

Lại một đêm dài được ngủ yên. Thật là dễ chịu khi được nằm xuống mà ngủ say sưa. Mọi thứ đều yên ổn và trầm lặng. Chỉ có những con cú kêu “A-ai? A-ai?” trong các khoảnh rừng dọc bờ sông, trong khi vầng trăng to lững lờ trôi theo đường cong của bầu trời phía trên thảo nguyên bất tận.

Buổi sáng, mặt trời chiếu nóng ấm. Phía dưới bờ sông, những con ếch đang kêu ồm ộp. Lại có tiếng nghe như là chúng bảo nhau: “Nhúc nhích! Nhúc nhích! Đi ra loanh quanh!”

Từ lúc Mẹ nói cho biết các con ếch đang bảo nhau những gì, hai chị em Mary và Laura có thể nghe ra những tiếng rõ ràng.

Cánh cửa ra vào đang mở để đón gió xuân nồng. Sau bữa điểm tâm, Bố đi ra ngoài, huýt sáo vui vẻ. Ông đang thắng hai con Pet và Patty để tiếp tục đi cày. Nhưng thình lình tiếng huýt sáo ngưng bặt. Ông đứng trước cửa, nhìn về hướng đông và gọi: “Caroline, ra đây. Cả Mary và Laura nữa.”

Laura chạy ra trước nhất, và cảm thấy ngạc nhiên. Nhiều người Da đỏ đang đến.

Họ không đi từ con đường bờ sông. Họ đang phi ngựa ra khỏi khu đất trũng dọc bờ sông xa về hướng đông.

Da Do ra di

Đi đầu là người Da đỏ cao lớn mà ngày nọ đã phi ngựa ngang qua nhà dưới ánh trăng. Jack đang gầm gừ, và tim Laura đập mạnh. Bé lấy làm an tâm khi đứng gần Bố. Nhưng bé biết đấy là một người Da đỏ tốt, tù trưởng bộ tộc Osage, người mà đêm nọ đã ngăn cản những tiếng thét xung trận kinh hoàng.

Con ngựa đen nhỏ của ông tự do phi nước kiệu, hít thở làn gió đang thổi rung bờm và đuôi trông như cờ phướn tung bay. Mũi và đầu ngựa được tự do; nó không mang dây cương. Thậm chí cũng không có dây đai nào cả. Không có gì để điều khiển nó làm việc mà nó không muốn làm. Nó tự phi dọc con đường mòn người Da đỏ như thể nó lấy làm sung sướng mang trên lưng người Da đỏ ấy.

Jack gầm gừ dữ tợn, cố thoát khỏi sợi dây xích. Nó còn nhớ người Da đỏ này ngày nọ đã chĩa súng vào nó. Bố nói: “Jack, nằm yên.” Jack lại gầm gừ, và lần đầu tiên trong đời Bố đánh nó. Ông ra lệnh: “Nằm xuống! Yên lặng!” Jack co rúm người nằm xuống, im lìm.

Con ngựa nhỏ bây giờ đã tiến đến rất gần, và tim Laura càng đập nhanh thêm. Bé nhìn đôi giầy da đanh của ông gắn những hạt chuỗi, bé ngước lên nhìn dọc đôi xà cạp bám theo hai bên hông con ngựa. Một tấm chăn có mầu sáng phủ ngang thân người Da đỏ. Một cánh tay đỏ-nâu trần cầm khẩu súng trường đặt hờ ngang vai con ngựa. Rồi Laura nhìn lên khuôn mặt dữ dằn, bất động với nước da nâu của người Da đỏ.

Đấy là một khuôn mặt toát ra vẻ hãnh diện, thâm trầm. Dù cho có chuyện gì xảy ra thì chắc là nét mặt vẫn thế. Không gì thay đổi được. Chỉ có đôi mắt cho thấy sự sinh động trên khuôn mặt ấy, và đôi mắt đang dõi nhìn xa về hướng tây. Đôi mắt không hề cử động. Không có gì cử động hoặc thay đổi, ngoại trừ các cọng lông diều hâu cắm từ búi tóc trên đỉnh đầu cạo trọc. Các cọng lông này lay động, rủ xuống, đong đưa trong gió khi người Da đỏ cao lớn trên lưng con ngựa đen nhỏ phóng vào chốn xa xôi.

Bố nói khẽ: “Chính là ông Du Chêne”. Và ông đưa tay lên chào theo kiểu chào của quân đội.

Con ngựa sung mãn và người Da đỏ bất động đã lướt qua, như thể ngôi nhà, chuồng gia súc cùng Bố Mẹ, Mary và Laura đều không có ở đấy.

Bố Mẹ, Mary và Laura chầm chậm quay người nhìn theo tấm lưng thẳng của người Da đỏ hãnh diện ấy. Rồi những con ngựa nhỏ khác cùng những tấm chăn, những đầu cạo trọc và cọng lông diều hâu khác xuất hiện. Tuần tự trên con đường mòn, có thêm những chiến binh hoang dại phi ngựa theo sau Du Chêne. Từng khuôn mặt nâu tiếp theo từng khuôn mặt nâu. Những bờm và đuôi ngựa bay tung trong gió, những hạt chuỗi lấp lánh, những dải tua bay phần phật, những cọng lông diều hâu phất phơ trên tất cả các đỉnh đầu trọc. Những khẩu súng trường đặt ngang vai ngựa chĩa ra tua tủa suốt hàng dài của đoàn người.

Laura cảm thấy phấn khích về những con ngựa nhỏ. Có những ngựa nhỏ đen, hồng, xám, nâu, và đốm. Vó ngựa thon gọn tạo ra những âm thanh lục-cục lạc-cạc dọc dài con đường mòn của người Da đỏ. Mũi chúng phồng ra về phía Jack và thân người chúng thu gọn khỏi con chó, nhưng chúng vẫn phi tới một cách quả cảm, đôi mắt sáng nhìn đến Laura.

Bé vỗ tay kêu lên: “Xem này, những con ngựa nhỏ đẹp! Xem ngựa đẹp quá! Nhìn con đốm kìa.”

Laura nghĩ mình không bao giờ chán ngắm nhìn những con ngựa này phi qua, nhưng sau một lúc bé nhìn đến những phụ nữ và trẻ em trên lưng ngựa. Phụ nữ và trẻ em phi ngựa theo sau người lớn. Những đứa trẻ có nước da nâu, không lớn hơn Mary và Laura, đang cưỡi trên những con ngựa nhỏ đẹp. Ngựa không cần phải mang yên cương, và những người Da đỏ nhỏ không cần phải mặc quần áo. Cả làn da lộ ra dưới không khí và ánh nắng trong lành. Tóc đen thẳng của họ tung bay trong gió, và đôi mắt đen sáng ngời vui sướng. Bọn trẻ con ngồi thẳng và bất động trên lưng ngựa như người lớn.

Laura vẫn nhìn mải miết trẻ con người Da đỏ, và bọn chúng nhìn lại bé. Laura có ý nghĩ nghịch ngợm là muốn trở thành một bé gái người Da đỏ. Tất nhiên là bé không thật sự muốn thế. Bé chỉ muốn phơi lưng trần trong không khí cùng ánh nắng và cưỡi một con ngựa nhỏ như thế.

Bà mẹ đám trẻ con cũng cưỡi ngựa nhỏ. Những dải tua nhỏ lủng lẳng quanh đôi chân họ, tấm chăn quấn ngang người, nhưng trên đầu họ chỉ có tóc đen mướt. Khuôn mặt nâu trầm tĩnh. Một số người mang một bọc nhỏ cột sau lưng, và một cái đầu em bé tí hon thò ra khỏi bọc. Còn có một số em bé nằm trong những giỏ treo bên hông ngựa của bà mẹ.

Có thêm ngựa chạy qua, có thêm trẻ em, có thêm em bé sau lưng mẹ, và thêm em bé nằm trong giỏ treo bên hông ngựa. Rồi lại có một bà mẹ, với một em bé trong giỏ ở mỗi bên con ngựa.

Diu con

Laura nhìn thẳng vào đôi mắt sáng của em bé nhỏ gần nhất. Chỉ có cái đầu nhỏ nhô lên khỏi miệng giỏ. Tóc em bé đen như lông quạ, đôi mắt đen như khung trời đêm không sao.

Đôi mắt đen ấy nhìn sâu vào mắt Laura; bé nhìn sâu vào khoảng đen của những đôi mắt em bé ấy, và bé muốn có em bé nhỏ ấy.

Bé nói: “Bố ạ! Mang cho con em bé nhỏ ấy đi!”

Bố nghiêm khắc nói: “Suỵt, Laura!”

Em bé nhỏ lướt ngang qua. Nó quay đầu, mắt vẫn nhìn vào mắt Laura.

Laura nài nỉ: “Ôi, con muốn em đó! Con muốn nó!” Em bé đi xa và xa thêm, nhưng vẫn nhìn ngoái lại Laura. Bé van nài: “Em bé đó muốn ở với con. Bố ạ, con xin Bố!”

Bố nói: “Suỵt, Laura! Người mẹ ấy muốn giữ con mình mà.”

Laura than vãn: “Ôi! Bố ơi!” và bé khóc lên. Khóc là đáng xấu hổ, nhưng bé chẳng đặng đừng. Em bé nhỏ người Da đỏ đã đi xa. Bé biết mình chẳng bao giờ thấy lại em bé này nữa.

Mẹ nói mình chưa bao giờ nghe chuyện như thế này. Bà nói: “Xấu hổ quá, Laura à.” Nhưng Laura vẫn khóc. Mẹ hỏi: “Trong bao nhiêu thứ, tại sao con lại muốn có một em bé người Da đỏ?”

Laura trả lời: “Đôi mắt em bé đen làm sao!” Bé không thể nói rõ mình có ý gì.

Mẹ nói: “Lắm chuyện, Laura! Con đâu có thiếu một em bé. Chúng ta đã có một em bé, em bé của riêng chúng ta.”

Laura nức nở khóc lớn: “Con cũng muốn có em bé kia nữa.”

Mẹ than: “Mẹ chịu hết nổi rồi!”

Bố nói: “Laura, con nhìn những người Da đỏ đi. Nhìn về hướng tây rồi nhìn hướng đông, xem con thấy gì.”

Thoạt đầu Laura khó nhận ra những gì. Mắt bé còn đẫm lệ và cổ họng vẫn còn nức nở. Nhưng bé cố làm theo lời Bố, và trong một lúc bé đứng bất động. Theo tầm mắt phóng ra xa về hướng tây rồi phóng ra xa về hướng đông, đều có người Da đỏ. Hàng dài đoàn người ấy không có điểm cuối.

Bố nói: “Không biết cơ man nào là người Da đỏ.”

Càng lúc càng có thêm người Da đỏ phi ngựa qua. Em bé Carrie không còn hứng thú ngắm nhìn người Da đỏ nữa, bây giờ tự đùa nghịch trên sàn nhà. Nhưng Laura ngồi trên ngạch cửa, Bố đứng kế bên, còn Mẹ và Mary đứng ở khung cửa. Họ cứ ngắm nhìn và ngắm nhìn đoàn người Da đỏ phi ngựa qua.

Đã đến giờ ăn, nhưng không ai nghĩ đến việc ăn uống. Những con ngựa nhỏ của người Da đỏ vẫn còn phi qua, mang theo những bó lông thú, cọc dựng lều, giỏ này giỏ nọ lủng lẳng và xoong nồi nấu ăn. Thêm một số phụ nữ và thêm một số trẻ em người Da đỏ. Rồi chính con ngựa cuối cùng chạy ngang. Bố Mẹ, Mary và Laura vẫn đứng ở khung cửa nhìn theo, cho đến khi hàng dài người Da đỏ chầm chậm kéo qua rìa hướng tây của thế giới. Không còn lại gì ngoại trừ sự tĩnh lặng và trống vắng. Có vẻ như cả thế giới đều lặng im và đơn côi.

Mẹ cho biết mình không thích làm công việc gì cả; bà cảm thấy thật thất vọng. Bố nói Mẹ đừng làm gì cả mà nên nghỉ ngơi.

Mẹ nói: “Charles à, anh nên ăn một ít gì đi.”

Bố đáp: “Không, anh không thấy đói.” Ông thẫn thờ đi thắng hai con Pet và Patty, rồi bắt đầu vỡ lớp đất mặt với chiếc cày.

Laura cũng không thể ăn gì được. Bé ngồi một hồi lâu trên ngạch cửa, nhìn về hướng tây vắng lặng nơi đoàn người Da đỏ đã đi. Bé mường tượng còn thấy những cọng lông diều hâu phất phơ cùng những đôi mắt đen, và còn nghe tiếng vó ngựa.

Những người lính

Sau khi người Da đỏ ra đi, cuộc sống an bình tuyệt diệu ngự trị trên thảo nguyên. Và một buổi sáng, cả vùng đất chuyển mầu xanh lục.

Mẹ ngạc nhiên nói: “Lớp cỏ ấy mọc khi nào thế? Mình đã nghĩ cả vùng đất đều đen ngòm, thế mà bây giờ cỏ xanh lan tận chân trời.”

Cả bầu trời đầy vịt hoang dã và ngỗng hoang dã bay về phương bắc. Quạ kêu quạ-quạ từ những cội cây dọc bờ sông. Gió thì thầm trong thảm cỏ mới, mang đến mùi hương của đất và của mầm sống.

Vào những buổi sáng, chiền chiện đồng cất cánh ca hót trên bầu trời. Suốt ngày, những con chim dẽ, choi choi và choắt kêu ríu rít và hót líu lo trên khu đất trũng dọc bờ sông. Đầu buổi tối, đến phiên những con chim nhại cất tiếng hót.

Một tối, Bố cùng Mary và Laura ngồi bất động trên ngạch cửa, ngắm những con thỏ con chơi đùa trên thảm cỏ dưới ánh trăng. Ba con thỏ mẹ cũng nhảy nhót chung quanh và trông nom lũ con.

Ban ngày, mọi người đều bận rộn. Bố đang bận rộn cày cánh đồng, hai chị em Mary và Laura phụ giúp Mẹ trồng những hạt giống đầu tiên trong vườn nhà. Mẹ cuốc những lỗ nhỏ trong lớp rễ cỏ mà lưỡi cày đã bật lên, Mary và Laura cẩn thận bỏ những hạt giống xuống. Rồi Mẹ cào đất lấp hạt giống lại. Ba mẹ con còn trồng hành củ, cà rốt, củ cải, và các loại đậu. Họ rất vui bởi vì mùa xuân đã đến, và chẳng bao lâu gia đình sẽ có rau tươi. Họ đã ngán các bữa ăn chỉ có bánh mỳ và thịt.

Một buổi chiều, Bố từ ngoài đồng trở về sớm để phụ giúp Mẹ trồng bắp cải và khoai lang. Mẹ đã gieo hạt bắp cải trong một cái hộp nông giữ trong nhà. Mẹ cẩn thận tưới nước, và mỗi ngày dời cái hộp đi theo từ ánh nắng ban mai đến ánh nắng ban chiều chiếu qua khung cửa sổ. Mẹ cũng để dành củ khoai lang giống cho Giáng Sinh, gieo trong một cái hộp khác. Hạt bắp cải giờ đang là những cây xanh-xám nhỏ, còn củ khoai tây giống đã nẩy mầm từ mỗi mắt thành một thân nhỏ có những búp lá xanh.

Rất cẩn thận, Bố và Mẹ nhấc mỗi cây mầm bé tí lên và đặt bộ rễ cho thoải mái vào một lỗ trong vườn nhà. Hai người tưới nước rồi nén đất chặt quanh rễ. Khi trồng xong cây cuối cùng thì trời vừa tối, và Bố Mẹ thật mệt. Nhưng hai người cũng rất vui, bởi vì năm nay gia đình sẽ có bắp cải và khoai lang trong bữa ăn.

Mỗi ngày cả nhà ngắm nhìn khu vườn rau. Đất thì gồ ghề và còn cỏ mọc bởi vì trồng trên lớp đất mặt thảo nguyên, nhưng tất cả các cây bé xíu đang lớn lên. Những lá đậu hạt nhỏ nhăn nheo đã xuất hiện, và những lá hành nhọn như ngọn giáo cũng đang đâm lên. Những hạt đậu quả thò lên trên mặt đất. Nhưng chính dây đậu vàng nhỏ, uốn cong như lò xo, đã đẩy hạt đậu lên. Rồi hạt đậu tách ra làm đôi, rủ xuống vì hai chiếc lá đậu mọc lên bên trong, và hai lá đậu mở ra dưới ánh nắng.

Chẳng bao lâu cả gia đình sẽ bắt đầu sống như hoàng gia.

Mỗi buổi sáng Bố huýt sáo đi ra đồng. Ông đã trồng loại khoai tây sớm, và vài củ khoai tây đã được giữ làm giống để trồng sau. Bây giờ Bố mang ra đồng một túi hạt bắp cột vào thắt lưng, vừa cày vừa ném hạt bắp vào luống cày kế bên mũi lưỡi cày. Rồi lưỡi cày lật một dải đất mặt phủ lên trên hạt bắp. Nhưng cây mầm sẽ vươn lên qua lớp rễ cỏ, và sẽ cao lên thành một cánh đồng bắp.

Sẽ đến ngày có bắp quả non để dùng cho bữa ăn chiều. Mùa đông tới sẽ có bắp hạt chín cho Pet và Petty ăn.

Một buổi sáng, hai chị em Mary và Laura đang rửa tô đĩa và Mẹ đang dọn giường. Mẹ đang hát nhỏ cho riêng mình, Mary và Laura đang trò chuyện về khu vườn rau. Laura thích nhất đậu ăn hạt, còn Mary thích đậu ăn trái. Thình lình ba mẹ con nghe tiếng Bố la lớn và giận dữ.

Mẹ vội đi nhanh ra cửa, Mary và Laura đứng mỗi bên lén nhìn ra.

Bố đang điều khiển Pet và Patty về từ cánh đồng, kéo theo lưỡi cày. Ông Scott và chú Edwards đi cùng Bố, ông Scott đang sôi nổi bàn bạc.

Bố trả lời ông: “Không, Scott! Tôi không muốn đến ở nơi đây rồi bị binh lính bắt đi như là tội phạm. Nếu mấy nhà chính trị trời đánh thánh đâm nào đó ở Washington đã nói rõ chúng ta không có quyền định cư nơi đây, thì tôi đã chẳng bao giờ xâm phạm quá ba dặm khỏi ranh giới Lãnh thổ Da đỏ. Nhưng tôi sẽ không chờ cho binh lính đuổi chúng tôi ra. Chúng tôi sẽ đi ngay bây giờ!”

Mẹ hỏi: “Charles, có chuyện gì thế? Chúng ta sẽ đi đâu?”

“Anh chẳng biết ngô khoai gì cả! Nhưng ta sẽ phải đi. Ta sẽ rời khỏi nơi đây. Scott và Edwards cho biết chính phủ đang phái binh lính đến để đuổi chúng ta ra khỏi Lãnh thổ Da đỏ.”

Mặt Bố đỏ bừng, đôi mắt như tóe lửa xanh. Laura hãi sợ; bé chưa bao giờ trông thấy Bố như thế. Bé nép sát vào Mẹ, bất động nhìn Bố.

Ông Scott định nói, nhưng Bố chặn lại: “Anh Scott, anh phải giữ hơi sức. Không ích gì mà bàn thêm nữa. Nếu anh muốn thì cứ ở đây chờ binh lính đến. Phần tôi thì bây giờ tôi phải đi.”

Chú Edwards nói cũng sẽ đi. Chú không muốn ở lại để rồi bị xua đuổi như một con chó săn hư đốn.

Bố nói: “Edwards, anh đi Independence với chúng tôi.” Nhưng chú Edwards trả lời rằng chú không muốn đi về hướng bắc. Chú sẽ làm bè rồi xuôi dòng sông đến một khu định cư nào đấy xa về phương nam.

Bố thuyết phục chú: “Anh nên đi với chúng tôi, đi đường bộ qua Missouri. Nếu đi bè một mình trên Sông Verdigris giữa các bộ tộc người Da đỏ thì nguy hiểm lắm.”

Nhưng chú Edwards cho biết đã thấy qua Missouri rồi, và chú có đủ thuốc súng và đạn.

Pa bat tay

Rồi Bố bảo Ông Scott nhận lấy con bò và con bê. Bố nói: “Chúng tôi không thể mang hai con đó theo. Scott à, anh là láng giềng tốt và chúng tôi rất tiếc phải xa anh. Nhưng sáng mai chúng tôi sẽ đi.”

Laura đã nghe tất cả, nhưng chỉ đến khi bé thấy Ông Scott dắt đi hai mẹ con bò thì bé mới tin là thật. Con bò cái hiền từ ngoan ngoãn ra đi với sợi dây thừng quấn quanh hai sừng dài, con bê nô đùa nhảy nhót theo sau. Thế là sữa và bơ đều ra đi.

Chú Edwards nói mình quá bận bịu nên sẽ không gặp lại gia đình Laura. Chú bắt tay Bố, nói: “Anh Ingalls, xin giã từ, và chúc may mắn.” Chú bắt tay Mẹ, nói: “Giã từ Bà ạ. Tôi sẽ không gặp lại bà nữa, nhưng chắc chắn sẽ không bao giờ tôi quên lòng tử tế của bà.”

Rồi quay sang Mary và Laura, chú bắt hay hai bé như là bắt hay người lớn, chú nói: “Chia tay nhé!”

Mary lễ phép nói: “Chia tay, chú Edwards ạ.” Nhưng Laura quên mất phép lịch sự. Bé nói: “Ôi, chú Edwards, cháu ước gì chú đừng đi! Ôi, chú Edwards, cảm ơn, cảm ơn chú đã đi đến tận Independence để tìm Ông già Noel cho chúng cháu.”

Đôi mắt chú Edwards thật long lanh, rồi chú ra đi mà không nói thêm lời nào.

Bố bắt đầu tháo hai con Pet và Patty ra giữa buổi sáng, nên Mary và Laura biết đây là sự thật; gia đình đúng là đang chuẩn bị dời đi. Mẹ không nói gì. Mẹ đi vào nhà nhìn quanh, nhìn tô đĩa chưa rửa, nhìn giường được dọn dở dang, rồi Mẹ giơ hai tay lên và ngồi xuống.

Mary và Laura giúp rửa tô đĩa. Hai chị em cẩn thận không gây ra tiếng động nào. Hai chị em quay người lại thật nhanh khi Bố đi vào.

Bố trông đã bình tĩnh lại, và ông đang mang bao khoai tây.

Với giọng ra vẻ bình thường, Bố nói,: “À Caroline, em đây rồi. Nấu nhiều đi cho bữa chiều! Mình đã không được ăn khoai tây vì để dành làm giống. Bây giờ thì cứ ăn cho đã thèm!”

Thế là bữa chiều hôm ấy nhà ăn khoai tây giống. Hương vị thật ngon, và Laura biết Bố đúng lý khi ông nói: “Dù chịu thiệt lớn vẫn có lợi nhỏ.”

Sau bữa ăn, Bố mang xuống các thanh khung xe goòng treo trên các chốt trong chuồng gia súc. Bố đặt các thanh dàn lên xe, mỗi đầu thanh dàn cắm vào một đai sắt ở một bên thùng xe, đầu kia cắm vào đai sắt ở bên kia thùng xe. Khi tất cả các thanh dàn đã dựng thẳng lên, Bố Mẹ trải tấm bạt phủ bên trên các thanh dàn rồi cột chặt xuống. Sau đó Bố kéo sợi dây thừng vào phía sau tấm bạt cho đến khi vải bạt cuốn vào nhau, chỉ chừa một lỗ nhỏ ở giữa thành vải phía sau xe.

Thế là chiếc xe goòng đã có mui che, sẵn sàng chất đồ đạc sáng hôm sau.

Mọi người đều im lặng tối hôm ấy. Thậm chí Jack cũng cảm nhận có điều gì đấy không ổn, đến nằm kế bên Laura khi bé đi ngủ.

Thời tiết không còn lạnh nên không cần đốt lửa. Bố Mẹ ngồi nhìn tro trong lò sưởi.

Mẹ khẽ thở dài và nói: “Charles à, mình mất cả năm rồi.” Nhưng Bố trả lời, tạo vui vẻ khi trả lời: “Một năm thì đến đâu? Mình có cả quãng đời trước mắt.”

Ra đi

Sáng hôm sau, khi dùng bữa điểm tâm xong Bố và Mẹ chất đồ đạc lên xe goòng.

Going out

Trước nhất, tất cả vật liệu làm giường được làm thành hai chiếc giường chồng lên nhau dọc theo phần sau xe goòng, và được phủ lên cẩn thận bằng một tấm chăn hàng len sọc vuông xinh đẹp. Ban ngày, Mary, Laura và Carrie ngủ trên giường này. Ban đêm, chiếc giường phía trên được đặt ở phần trước xe goòng, để Bố Mẹ ngủ. Còn Mary và Laura ngủ trên chiếc giường bên dưới, ở chỗ cũ.

Kế đến, Bố lấy chiếc tủ nhỏ đóng ở tường ra, để Mẹ xếp thức ăn và tô đĩa vào. Bố đặt chiếc tủ dưới băng ghế xe goòng, và phía trước ông đặt một bao bắp cho đôi ngựa.

Bố nói với Mẹ: “Như thế này thì mình có chỗ để chân cho thoải mái.”

Mẹ dồn tất cả quần áo vào hai túi thảm, rồi Bố treo lên thanh khung phía trong xe goòng. Phía đối diện Bố treo khẩu súng qua hai cái chốt, phía dưới treo túi đạn và chiếc sừng đựng thuốc súng. Cây đàn được cho vào hộp đàn rồi được đặt trên một đầu giường, để không bị hư hỏng vì dằn xóc.

Mẹ gói con nhện sắt đen, nồi nướng và bình cà phê vào những chiếc túi rồi đặt lên xe goòng, trong khi Bố buộc ghế xích đu và chậu nước bên ngoài rồi treo xô nước và xô thức ăn cho ngựa phía dưới. Bố cẩn thận đặt chiếc đèn lồng bằng thiếc vào góc trước của thùng xe, nơi có một bao bắp giữ đèn không bị lăn lóc.

Bây giờ chiếc xe goòng đã tải nặng. Vật duy nhất mà gia đình không thể mang theo là chiếc cày. Đành vậy, không thể làm gì được. Không có chỗ mang chiếc cày trên xe. Mỗi khi đi đến bất cứ đâu, Bố có thể tìm lông thú để đổi lấy một chiếc cày mới.

Mary và Laura leo lên xe goòng, ngồi trên chiếc giường phía sau. Mẹ đặt em bé Carrie giữa hai chị. Cả ba bé đều đã tắm rửa và chải chuốt mát mẻ. Bố nói các bé sạch như răng chó săn, còn Mẹ bảo các con trông sáng láng như kim găm mới.

Sau đó Bố thắng hai con Pet và Patty vào xe goòng. Mẹ bước lên chỗ ngồi của bà trên băng ghế và giữ lấy các sợi dây cương. Bất chợt Laura muốn nhìn lại ngôi nhà. Bé xin Bố được nhìn ra ngoài. Thế là Bố tháo sợi dây thừng ở phía sau vải bạt làm mui xe, để cái lỗ mở ra lớn hơn. Mary và Laura có thể nhìn qua lỗ ấy, nhưng sợi dây thừng vẫn giữ vải bạt nên Carrie không rơi vào thùng thức ăn.

Ngôi nhà gỗ súc thân yêu vẫn trông như thể nó luôn là thế. Nó không biết được cả gia đình sắp ra đi. Bố đứng một lúc ở khung cửa và nhìn khắp bên trong, nhìn qua khung giường, lò sưởi và các ô kính cửa sổ. Rồi Bố nhẹ nhàng đóng cánh cửa, để sợi dây kéo then cài bên ngoài.

Bố nói: “Người nào đấy có thể cần nơi trú ngụ.”

Bố bước lên băng ghế kế bên Mẹ, nắm lấy các sợi dây cương, tặc lưỡi ra hiệu lệnh cho hai con Pet và Patty.

Jack đi dưới gầm xe. Pet hí gọi Bunny, và con non bước đến đi bên mẹ nó.

Ngay trước khi con đường dốc xuống vùng trũng, Bố ghì đôi ngựa lại, và tất cả nhìn về phía sau.

Theo tầm mắt phóng xa nhất có thể, đến hướng đông, nam và tây, không có gì cử động trên cả vùng Thảo nguyên Cao bát ngát. Chỉ có cỏ xanh rì rào trong gió, và những áng mây trắng lặng lờ trôi trên khung trời cao trong vắt.

Bố nói: “Caroline à, vùng này thật là tuyệt. Nhưng người Da đỏ và chó sói hoang dã sẽ sống ở đây trong một thời gian dài.”

Ngôi nhà nhỏ bằng gỗ súc và chuồng gia súc nhỏ nằm chơ vơ trong khoảng tĩnh lặng.

Rồi Pet và Patty nhanh nhẹn tiến bước. Cỗ xe đi từ các vực đất xuống khu đất trũng dọc bờ sông, và trên một ngọn cây một con chim nhại bắt đầu hót.

Mẹ nói: “Em chưa từng nghe chim nhại hót sớm như thế này.” Bố nhỏ nhẹ đáp: “Nó đang chào từ biệt chúng ta.”

Cỗ xe đi qua những ngọn đồi thấp xuống bờ sông. Nước xuống thấp ở điểm vượt sông, sẽ dễ dàng cho cỗ xe đi qua. Thế là họ tiến tới, qua vùng trũng nơi những con nai đã mọc sừng đứng nhìn họ đi qua, và những nai mẹ cùng con non nhảy đến dưới bóng râm của cây cối. Rồi cỗ xe đi giữa các vực đá đỏ dốc và lại leo lên vùng thảo nguyên.

Xe goong ra di 2.jpg

Pet và Patty nô nức chạy. Vó ngựa đã phát ra những tiếng bị bóp nghẹt dưới khu đất trũng, và bây giờ vang dội trên đất thảo nguyên cứng. Gió ca hát chát chúa khi đập vào các thanh khung xe goòng.

Bố Mẹ ngồi bất động, im lìm trên băng ghế; Mary và Laura cũng yên lặng. Nhưng Laura cảm thấy đầy phấn khích trong lòng. Khi đi trong một cỗ xe bịt kín thì bạn không bao giờ biết được chuyện gì sắp xảy ra, hoặc ngày mai sẽ đi đến nơi đâu.

Đến giữa trưa, Bố dừng lại bên một con suối nhỏ để đôi ngựa ăn uống và nghỉ ngơi. Chẳng bao lâu con suối sẽ khô cạn dưới sức nóng mùa hè, nhưng bây giờ vẫn còn nhiều nước.

Mẹ lấy bánh mỳ và thịt từ thùng thức ăn ra. Mọi người ngồi trên thảm cỏ sạch dưới bóng râm của xe goòng mà dùng bữa trưa, uống nước suối. Hai chị em Mary và Laura chạy vòng quanh trên cỏ, hái hoa dại, trong khi Mẹ sắp xếp lại thùng thức ăn và Bố lại thắng Pet và Patty vào xe.

Trong một khoảng thời gian dài họ đi tiếp, qua vùng thảo nguyên. Không có gì để ngắm ngoại trừ thảm cỏ dập dềnh, khung trời, và vết xe gòng bất tận. Thỉnh thoảng một con thỏ nhảy đi xa. Đôi lúc một con gà thảo nguyên mái dẫn đàn con chạy lủi vào đám cỏ. Em bé Carrie đang ngủ, Mary và Laura đang sật sừ thì hai bé nghe Bố nói: “Có chuyện không ổn ở đàng kia.”

Laura bật ngồi dậy, và ở xa phía trước trên thảo nguyên bé thấy một cái mố có mầu nhạt. Bé không thể thấy gì khác lạ.

Bé hỏi: “Ở đâu hở Bố?”

Bố gật đầu về phía cái mố ấy, nói: “Nó không động đậy.”

Laura không hỏi gì thêm. Bé tiếp tục nhìn, và thấy cái mố ấy là một xe goòng phủ nóc. Cái mố dần dần to thêm. Bé không thấy có con ngựa nào thắng vào xe. Không có gì cử động bất kỳ nơi nào chung quanh. Rồi bé nhận ra có cái gì đấy sẫm mầu phía trước.

Cái sẫm mầu là hai người đang ngồi trên càng xe goòng. Một người đàn ông và một phụ nữ. Hai người đang nhìn xuống chân, và chỉ nhìn lên khi Pet và Patty dừng trước mặt họ.

Bố nói: “Chuyện gì thế? Ngựa của hai người đâu?”

Người đàn ông đáp: “Tôi không biết. Tối qua tôi cột chúng vào xe goòng và sáng nay chúng biến mất. Có người đã cắt dây thừng và dẫn chúng đi trong đêm.”

Bố hỏi: “Còn con chó của hai người thì sao?”

Người đàn ông nói: “Chưa có chó.”

Jack vẫn ở dưới sàn xe goòng. Nó không gầm gừ, nhưng không đi ra ngoài. Nó là con chó nhậy cảm, và biết phải làm gì khi gặp người lạ.

Bố nói với người đàn ông: “Ngựa đã mất rồi, hai người sẽ chẳng bao giờ tìm lại được đâu. Treo cổ vẫn còn là nhẹ đối với bọn trộm ngựa.”

Người đàn ông nói: “Đúng.”

Bố nhìn qua Mẹ, và Mẹ khẽ gật đầu. Rồi Bố nói: “Hai người đi Independence cùng chúng tôi.”

Người đàn ông nói: “Không. Tất cả những gì chúng tôi có là trên xe này. Chúng tôi không muốn bỏ lại.”

Bố kêu lên: “Ôi, ông ơi! Ông sẽ làm gì đây? Không có ai qua lại nơi đây trong nhiều ngày, ngay cả nhiều tuần. Hai người không thể ở đây được.”

Người đàn ông nói: “Tôi không biết.”

Người phụ nữ nói: “Chúng tôi ở lại với xe.” Bà đang nhìn xuống hai bàn tay đan vào nhau trên lòng. Laura không nhìn thấy mặt bà; bé chỉ có thể nhìn một bên chiếc mũ che nắng.

Bố nói: “Đi thì tốt hơn. Sau đó có thể trở lại với chiếc xe.”

Người phụ nữ nói: “Không.”

Hai người không muốn rời xa cỗ xe; tất cả tài sản của họ ở trên cỗ xe ấy. Thế là cuối cùng Bố đánh xe đi, để lại hai người ngồi trên càng xe goòng, trơ trọi trên thảo nguyên.

Bố lẩm bẩm với mình: “Dân tay mơ! Chất hết tài sản lên mà không có chó canh giữ. Bản thân ông ta cũng không trông nom. Lại cột ngựa bằng dây thừng nữa chứ!” Bố khịt mũi, lại nói: “Đúng là dân tay mơ! Không nên cho phép đi lang thang hướng bờ tây Mississippi!”

Mẹ hỏi: “Thôi đi, Charles! Rồi họ sẽ ra sao?”

Bố nói: “Có quân đội đồn trú ở Independence. Anh sẽ thông báo với ông đại úy, và ông sẽ phái lính đưa họ về. Họ không thể trụ lâu được. Nhưng quá may mắn cho họ là mình đi ngang qua. Nếu không có mình thì không biết đến bao giờ mới có người tìm ra được họ.”

Laura nhìn cỗ xe cô đơn ấy cho đến khi nó chỉ còn là một cái mố trên thảo nguyên. Rồi nó là một cái chấm. Sau cùng nó mất hút.

Bố tiếp tục điều khiển đôi ngựa đi suốt ngày hôm ấy. Họ không thấy có ai khác.

Khi hoàng hôn buông xuống, Bố dừng xe bên một giếng nước. Trước đây có một ngôi nhà, nhưng đã bị cháy. Giếng chứa nhiều nước sạch; Mary và Laura kiếm những mảnh gỗ cháy dở để đốt lửa, trong khi Bố tháo đôi ngựa ra, cho chúng uống nước rồi cột vào cọc rào. Bố nhấc băng ghế từ xe goòng xuống, mở hộp thức ăn. Đống lửa cháy trông đẹp, và Mẹ nhanh chóng chuẩn bị cho bữa ăn.

Mọi việc đều trở lại như trước khi xây ngôi nhà. Bố Mẹ và Carrie ngồi trên băng ghế, Mary và Laura ngồi trên càng xe. Họ ăn một bữa ngon, nóng sốt từ ngọn lửa trại. Pet và Patty cùng Bunny gặm cỏ ngon lành. Laura để dành vài mẩu thức ăn cho Jack; con vật này không được phép xin ăn mà phải chờ cho bữa ăn xong xuôi thì mới được ăn tùy thích.

Rồi mặt trời lặn dần, xa tít xa về hướng tây. Đã đến lúc chuẩn bị trại để qua đêm.

Bố cột Pet và Patty vào hộp thức ăn ở phần sau xe goòng. Ông xích Bunny kế bên. Rồi ông ngồi bên đống lửa mà hút ống vố, trong khi Mẹ tấn Mary và Laura trên giường và đặt Carrie nằm kế bên.

Mẹ đến ngồi bên Bố gần đống lửa. Bố lấy cây đàn từ hộp ra và bắt đầu tấu nhạc.

Chiếc đàn than thở:

Ôi em yêu dấu
Cớ sao em không nhìn tôi?

Và Bố bắt đầu hát:

Đường tôi đi California
Mang cùng xoong chảo đến nơi nhà xa
Và mỗi khi đi xa nhớ quê
Tôi thầm mong ước chóng mau quay về[V]

Bố ngừng hát để nói: “Caroline à, em biết không, anh vẫn nghĩ bọn thỏ sẽ thỏa chí sau khi được ăn cả vườn rau đậu ta đã trồng.”

Mẹ đáp: “Đừng nghĩ ngợi gì hết, Charles ạ.”

Bố bảo Mẹ: “Caroline, không sao đâu. Mình sẽ trồng một vườn rau còn tốt hơn. Dù sao đi nữa, mình đã mang đi từ Lãnh thổ Da đỏ nhiều hơn là mình mang tới.”

Mẹ nói: “Em không biết đấy là cái gì.” Bố đáp: “Ơ hay, đấy là con la!” Rồi Mẹ cười lớn, và Bố cùng cây đàn lại hòa âm.

Và nơi chốn đây ta nguyền sẽ mãi
cùng sống và chết nơi chốn này
Chốn này, chốn đây, chốn này, chốn đây
Cùng chết nơi chốn đây[W]

Tiết tấu nhịp nhàng và nhún nhẩy gần như nhấc Laura ra khỏi giường. Bé phải nằm yên kẻo làm cho Carrie thức giấc. Mary cũng đang ngủ say, nhưng Laura chưa bao giờ tỉnh ngủ đến thế.

Bé nghe Jack đang chuẩn bị chỗ ngủ của nó dưới sàn xe. Nó đi lòng vòng, dẫm lớp cỏ cho bẹp xuống. Rồi nó cuộn mình trong cái ổ tròn ấy với tiếng thở dài mãn nguyện.

Pet và Patty đang nhai phần bắp cuối cùng, dây xích của chúng kêu leng keng. Bunny nằm kế bên xe goòng.

Tất cả cùng ở bên nhau, yên ổn và thoải mái trong đêm, dưới bầu trời rộng đầy sao. Một lần nữa, chiếc xe goòng có mui làm thành mái nhà.

Cây đàn bắt đầu một điệu quân hành, và tiếng hát trong trẻo của Bố cất lên như tiếng chuông.

Nào ta hãy đứng dưới ngọn cờ
Cùng nhau đến đứng cả nơi đây
Vang lên lời nguyền Tự do đến muôn đời![X]

Laura cảm thấy bé cũng phải hô vang. Nhưng Mẹ dịu dàng nhìn qua lỗ tròn trên mái xe.

Mẹ nói: “Charles à, Laura còn thức tỉnh queo kìa. Con bé không ngủ được với âm nhạc như thế.”

Bố không trả lời, nhưng tiết tấu cây đàn đã thay đổi. Dìu dặt và nhẹ nhàng, cây đàn bắt đầu một âm điệu dường như muốn đong đưa Laura nhè nhẹ.

Bé cảm thấy mi mắt chụp xuống. Bé bắt đầu lướt qua những gợn sóng bất tận của thảm cỏ thảo nguyên, và giọng ca của Bố bay lượn theo:

Trôi đi, và trôi mãi ra đến tít biển xanh
Trên con thuyền êm ái em còn ở bên anh
Trôi đi và trôi mãi trên sóng nước lặng êm
Qua bao tháng bao năm anh nguyền ở bên em[Y]

— HẾT TẬP 3 —

Chú thích

[A] Để thể hiện văn phong nguyên tác, bản dịch này dùng từ thông dụng “Da đỏ” tuy rằng cụm từ “người Mỹ Bản địa” thể hiện đúng bản chất hơn.

[B] Từ “vải trúc bâu” được dùng ở đây để dịch từ “calico” theo nhiều từ điển hiện hành, nhưng vải trúc bâu cổ truyền của Việt Nam thường có mầu trắng trơn, không in hoa văn cầu kỳ như vải calico gốc Ấn Độ.

[C] Vài loài cú (ở Việt Nam cũng có) cất tiếng kêu “hu” hoặc kéo dài “hu-u”. Trong tiếng Anh, tiếng kêu này nghe như là câu hỏi “Who?”, có nghĩa “Ai?” hoặc kéo dài như “A-ai”.

[D] Bốn mươi dặm bằng khoảng sáu mươi cây số.

[E] Đây là ca khúc Daisy Deane [Nàng Daisy Deane].

[F] Trong thiên nhiên, thân cây và nhánh cây nhỏ dần từ dưới lên trên. Vì lẽ súc gỗ là nguyên một đoạn thân hoặc nguyên nhánh cây to chứ không được cưa xẻ cho đồng đều, nên mỗi súc gỗ có một đầu to và một đầu nhỏ.

[G] Mật mía được làm sơ sài, khi cho vào cà phê có vị chua. Đường bán ở cửa hiệu được tinh chế trong nhà máy nên làm cho cà phê ngon hơn. Loại đường này đắt hơn mật mía nên nhà bé Laura chỉ dùng khi có khách.

[H] Đây là ca khúc The Gypsy King [Vua Gypsy].

[I] Đây là ca khúc Roll on silver moon [Lượn đi, trăng bạc].

[J] Trong tiếng Anh, “Bunny” là ngôn từ trẻ em gọi thỏ một cách thân thương.

[K] Theo miêu tả ở đây, Bố của Laura dùng chốt gỗ (còn được gọi là đinh gỗ) thay vì dùng đinh tức đinh sắt, vì thế khi cần ghép hai phần gỗ với nhau thì Bố đóng chốt gỗ thay vì đóng đinh sắt.

[L] Đây là ca khúc Ten little Indian boys [Mười cậu bé Da đỏ nhỏ].

[M] Nhiều nguồn ghi tên ông là Tann. Hiện nay phần mộ của ông nằm ở Thị trấn Independence.

[N] Đây là ca khúc Bye, baby bunting [Ngủ đi bé ngoan].

[O] Trong tập truyện Ngôi nhà nhỏ trong Rừng Đại Ngàn, Bố của Laura đã tìm ra một thân cây có ong làm tổ bên trong, và ông thu được rất nhiều mật ong.

[P] Đây là ca khúc Green grows the laurel [Nguyệt quế xanh tốt].

[Q] Mười lăm dặm tức là hai mươi bốn cây số.

[R] Đây là bài thánh ca There is a Happy Land [Vùng Đất Thân thương].

[S] Đây là ca khúc The Blue Juniata [Dòng Juniata xanh].

[T] Cách làm loại bánh này được chỉ dẫn trong trang web: http://littlehouseclub.blogspot.com/search/label/Little%20House%20on%20the%20Prairie

[U] Tên theo tiếng Pháp trong nguyên bản, có nghĩa: “Chiến binh cây Sồi.” Cây sồi có thân cao to và có gỗ cứng, nên người chiến binh được so sánh với những tính chất này.

[V] Đây là ca khúc Oh! Susanna [Ôi! em yêu dấu].

[W] Đây là ca khúc Dixie [Miền đất Dixie].

[X] Đây là ca khúc We’ll Rally Round the Flag, Boys [Đứng dưới ngọn cờ]. The battle cry of Freedom [Tiếng thét chiến đấu vì Tự do].

[Y] Đây là ca khúc The gum tree canoe [Con thuyền êm ái].

LAURA INGALLS WILDER
chào đời năm 1867 trong một ngôi nhà nhỏ xây bằng gỗ súc như được miêu tả trong Ngôi nhà nhỏ trong Rừng Đại Ngàn. Khi còn nhỏ, bé Laura và gia đình di chuyển trên một cỗ xe goòng có mui qua vùng Trung-Tây của nước Mỹ. Sau đó, Laura cùng người chồng tên Almanzo Wilder và con gái tên Rose di chuyển đến Mansfield, Bang Missouri, cũng trên một cỗ xe goòng có mui. Ở đây, tin rằng điều quan trọng là cần xem lại quá khứ để định hình cho tương lai, Laura đã viết kể lại thời thơ ấu của mình lớn lên giữa những vùng đất mới của nước Mỹ mà gia đình bà phải khai phá.

GARTH WILLIAMS
chuẩn bị công việc minh họa bằng cách đến nhà Laura Ingalls Wilder ở Missouri để nghe kể về cuộc đời bà, rồi đi thăm khắp vùng đất nơi các ngôi nhà nhỏ ngày xưa hiện diện. Sau đó, ông vẽ nên những bức minh họa lớn nhỏ cho “Tập sách Ngôi nhà nhỏ”. Công trình đầy nét quyến rũ của ông khiến cho Laura nhận xét rằng bà cùng những người thân trong gia đình mình đã sống lại những quãng đời ấy trong các bức vẽ này.

Diệp Minh Tâm tổng hợp & dịch

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *