Những câu chuyện để bạn suy ngẫm

 

  1. Chuyện người thương binh trở về
  2. Cây dù độ ta
  3. Tính nóng
  4. Ủng hộ
  5. Ba câu hỏi của Ðức Vua
  6. Uống bao nhiêu rượu thì say?
  7. Ô Sào thiền sư và Bạch Cư Dị
  8. Hai viên gạch xấu
  9. Chuyện âm phủ
  10. Chửi mắng
  11. Tạm bợ
  12. Phồn thịnh thật sự
  13. Một nơi an lành
  14. Mạng đền mạng
  15. An hưởng cuộc đời
  16. Cách nấu nướng
  17. Cách xử thế của thầy dạy học
  18. Cô lái đò
  19. Tại sao lại là tôi?
  20. Hình ảnh cuộc đời
  21. Câu chuyện quản trị
  22. Phương Sinh đại sư
  23. Phúc duyên
  24. Một cách xử sự
  25. Điền Bá Quang
  26. Đức Phật và đồng tiền xu
  27. Ừ hứ!
  28. Tôi chỉ muốn bù đắp cho ông
  29. Án Tử ứng đối
  30. Người thợ xây nhà
  31. Ðúng và sai
  32. Không rượu mà say
  33. Chú Tư Ðức câu sấu
  34. Phải biết vâng lời mẹ
  35. Kisagotami
  36. Đàn bà nước mình tham lam
  37. Một câu chuyện lứa đôi
  38. Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn
  39. Tạ Tốn và Độ Ách
  40. Chết như thế nào?
  41. Anh hùng
  42. Dị nhân ăn cắp
  43. Ông Vương
  44. Tây Môn Báo
  45. Những chiến sĩ nhân đạo
  46. Theo đuổi khát vọng
  47. Hạnh phúc vô biên
  48. Mẩu bánh mỳ
  49. Người cưỡi ngựa
  50. Năm phút trong cuộc sống
  51. Sử dụng thời giờ
  52. Ðường lầy
  53. Chiếc vòng kỳ diệu
  54. Lý do cho một tình yêu
  55. Bài kiểm tra nhớ đời
  56. Bay cạnh một thổ dân
  57. Cơ hội
  58. Tình hữu nghị
  59. Cùng nhau vượt qua bão tố
  60. Ân đức hay tội ác?
  61. Tiệc rượu “Bứt đứt dải mũ”
  62. Giấy chứng nhận
  63. Đại hạ giá
  64. Bữa cơm của Khổng Tử
  65. Hôm qua – Hôm nay – Ngày mai
  66. Chuyến bay Delta 15
  67. Một ngày không vội vã
  68. Thu tiền xem xiếc
  69. Hãy đọc hết câu chuyện
  70. Con trai tên cướp
  71. Bài văn điểm 10 về bạn thân
  72. Lắng nghe tiếng thì thầm
  73. Con trai sợ hãi vì gặp người da đen

 

Đúng ra, tựa đề tập chuyện này phải là Những câu chuyện để bạn tự suy ngẫm. Những câu chuyện này được góp nhặt đó đây, nhiều chuyện nguyên thủy kèm bình luận có chủ đích khuyên bảo. Có chuyện chỉ dài 1/4 trang nhưng bình luận dài đến 2-3 trang! Người góp nhặt cắt đi bình luận vì không muốn mình là người ra vẻ rao giảng, và cũng vì nghĩ muốn tránh việc đọc chuyện một cách thụ động.

Tốt hơn, mỗi người khi đọc nên có sự chủ động, tự suy ngẫm mà rút ra một vài ý nghĩa hay hay nào đó cho cuộc sống của mình. Tức là mỗi người phải tự “ngộ”.

Nhiều chuyện sẽ cần suy ngẫm sâu xa lắm đấy! Lấy ví dụ: truyện của Kim Dung ngoài những pha võ hiệp còn thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc.

Cassia

Chuyện người thương binh trở về

Ðây là một câu chuyện thật xảy ra trong cuộc chiến tranh Việt Nam.

Chuyện kể về một người lính trẻ Hoa Kỳ trở về nhà sau khi tham chiến tại Việt Nam. Từ thành phố San Francisco, người lính trẻ gọi điện thoại về nhà cha mẹ: “Cha mẹ ơi, con đang trở về nhà, nhưng con có một điều xin cha mẹ. Con có dẫn theo một người bạn thân.”

Cha mẹ người lính trẻ trả lời bên kia đầu dây điện thoại: “Ðược, cha mẹ thích nó đi cùng con về đây và muốn được gặp nó.”

Người con nói tiếp: “Nhưng có một điều con muốn thưa với cha mẹ, bạn con bị thương tích trầm trọng trong lúc giao chiến. Nó dẫm phải mìn, mất một cánh tay và một cẳng chân. Nó không có nơi nào để ở, và con muốn nó về ở chung với gia đình ta.”

“Con ơi! cha mẹ rất tiếc khi nghe điều đó. Ta có thể giúp nó tìm một nơi nào đó cho nó ở.”

“Không, con muốn nó về ở với con, với gia đình ta.”

Người cha nói: “Con, con không biết con đang nói gì. Một người tàn tật sống với gia đình chúng ta sẽ trở thành gánh nặng cho gia đình. Chúng ta có một đời sống riêng, và chúng ta không thể để việc đó ảnh hưởng đến đời sống chúng ta. Cha mẹ nghĩ rằng con nên về nhà và quên đi người bạn này. Bạn của con sẽ có thể tự tìm cuộc sống cho chính nó.”

Nghe đến đây người con chết lặng người, không thể nào nói thêm được điều gì nữa và cúp máy điện thoại. Người cha không còn nghe thấy gì nữa.

Vài ngày sau, cha mẹ người lính trẻ nhận được điện thoại từ sở cảnh sát San Francisco báo tin người con của họ đã chết sau khi rơi từ trên lầu một cao ốc. Cảnh sát tin là nạn nhân đã tự tử.

Cha mẹ người con đau khổ đáp máy bay đến San Fransisco, vào thẳng nhà quàng thành phố nhận diện xác con. Họ xác nhận nạn nhân chính là đứa con trai yêu quý của họ, mà họ mới nói chuyện với nó vài ngày trước đây.

Nhưng đau đớn thay, họ khám phá ra một điều mà họ đã không biết: đứa con trai của họ chỉ có một chân và một cánh tay!

Cây dù độ ta

Trời mưa tầm tã. Vị thiền sư bước ra khỏi mái hiên và bật dù rồi thong thả bước đi trong mưa.

Một khách bộ hành, vừa khi Sư đi ngang qua mái hiên nơi anh ta đang đứng trú mưa, gọi Sư:
–  Thầy ơi, làm ơn độ con với thầy!

Sư dừng bước, thong thả hỏi lại:
–  Anh cần ta độ anh điều gì?

Khách thưa:
–  Mong thầy làm ơn độ cho con khỏi ướt với!

–  Làm sao mà ta độ cho anh được! Anh không thấy là ta cũng không độ cho ta được, mà chính là cây dù đang độ cho ta đây. Nếu anh muốn khỏi ướt thì anh hãy kiếm cây dù độ anh chứ không phải là ta.

Nói xong, Sư thong thả bước đi trong mưa.

Tính nóng

Một thiền sinh đến than phiền với Bankei: “Thưa thầy, con có tính nóng không trị được. Làm sao để con sửa nó?”

Bankei trả lời: “Con có một cái thật lạ. Đưa cho thầy coi cái con có.”

Thiền sinh trả lời: “Ngay bây giờ thì con không đưa cho thầy coi được;”

Bankei hỏi: “Khi nào thì con cho thầy coi được?”

Thiền sinh trả lời: “Nó đến bất chợt.”

Bankei kết luận: “Vậy thì nó nhất định không phải là bản tính thật của con. Khi con sinh ra con không có nó, và cha mẹ con không cho con cái đó. Hãy nghĩ lại xem.”

Ủng hộ

Nếu không có người vợ tên Sophia, chúng ta hẳn có thể không được biết đến một tên tuổi lớn trong văn học, Nathaniel Hawthorne. Khi Nathaniel Hawthorne với tâm trạng đau khổ về báo cho vợ mình biết rằng ông đã thất bại và đã bị cho nghỉ việc tại sở Hải quan, vợ ông làm ông ngạc nhiên với biểu hiện vui sướng.

Cô nói với vẻ đắc thắng: “Bây giờ, anh có thể viết cuốn sách của anh!”

Người đàn ông chùn bước: “Ừ, nhưng chúng ta sẽ sống bằng cách nào trong khi anh viết?”

Trong kinh ngạc, ông nhìn thấy vợ mình lấy từ trong tủ ra một nắm tiền lớn.

Ông hỏi: “Em lấy nó ở đâu ra vậy?”

Cô nói: “Em luôn nghĩ anh là một thiên tài. Em biết là một ngày nào đó anh sẽ viết một tác phẩm tuyệt vời. Bởi vậy mỗi tuần, từ số tiền anh đưa em để lo việc nhà, em tiết kiệm một ít. Và bây giờ số tiền này đủ cho chúng ta sống trong vòng một năm.”

Từ sự tin tưởng của cô, một trong số các tác phẩm lớn nhất trong lịch sử văn học Hoa Kỳ ra đời: Chữ A màu đỏ. [Tựa nguyên bản: The scarlet letter, được xem là một trong những tiểu thuyết kinh điển trong nền văn học Mỹ của Nathaniel Hawthorne (1804-1868). (BT)]

Ba câu hỏi của Ðức Vua

Thuở xưa, có một vị vua thuộc vào hàng minh quân, ngài thương dân như con đẻ, nhưng dù là minh quân, ngài vẫn không sao tránh được một ít lỗi lầm đáng tiếc.

Lúc tuổi cao, nhà vua nghĩ rằng giá mà thời niên thiếu, ngài được các bậc hiền tài chỉ dẫn cho ba điều thắc mắc sau đây thì có lẽ ngài sẽ tránh được rất nhiều khuyết điểm. Ðó là những nghi vấn sau:

  1. Thời gian nào là quan trọng nhất của một công việc?
  2. Nhân vật nào cần chú ý nhất đối với ta?
  3. Công việc nào là tối quan trọng và khẩn thiết nhất?

Ðức vua cho nêu ba câu hỏi trên trước hoàng thành, truyền rao khắp các thị trấn, làng mạc… và hứa sẽ trọng thưởng cho người nào có lời giải đáp khôn ngoan nhất.

Bố cáo vừa được niêm yết thì các bậc hiền tài tuấn kiệt, thạc học minh triết lũ lượt kéo nhau về kinh thành, mỗi người đưa ra một ý kiến. Triều đình phải thành lập một ban giám khảo, các quan thị lang làm việc tận lực suốt hai tháng liền mới đúc kết các khuynh hướng thiên sai vạn biệt thành một vài trường phái nhất trí và dâng lên đức vua, vị chánh chủ khảo tối cao cả nước.

Ðáp lại câu hỏi đầu tiên, có người bảo rằng: muốn biết thời gian nào là quan trọng nhất của một công việc, người ta phải thiết lập chương trình, kế hoạch, thời dụng biểu hẳn hoi. Xong, ta sẽ thực hành diễn tiến công việc theo những thời điểm qui định sẵn đó… Nhưng ý kiến này liền bị nhà vua bác bỏ vì không ai có thể tiên đoán được những điều sẽ xảy ra mà lập một khuôn mẫu sẵn, công việc đòi hỏi phải linh động mới được.

Có trường phái lại cho rằng một người không thể khôn ngoan hơn tập thể. Ðức vua nên thành lập một nội các gồm nhiều đại biểu để soạn thảo kế hoạch trước khi thi hành và làm theo quyết định chung.

Một trường phái khác lại đề nghị đức vua cần thành lập một hội đồng tiên tri để xủ quẻ trước khi thực thi một công việc…

Như thế, đại để mọi người đều đồng ý với nhau rằng: Thời gian quan trọng nhất của công việc là thời gian chuẩn bị, nghĩ suy về công việc ấy.

Về câu hỏi thứ hai, người ta càng bất đồng ý kiến với nhau: Thượng Ðế, Đức Vua, quan Tể tướng, các giáo sĩ, bốc sư v.v… được đề nghị là những nhân vật quan trọng nhất.

Câu hỏi thứ ba cũng được giải đáp trong một tình trạng tương tự – công việc nào phải được xem là quan trọng nhất – thưa: đó là việc nước, việc nhà, việc ăn, việc mặc, học hành, giao tế, tâm linh, hành chánh, kinh tế, quân sự hay là tôn giáo… các đề mục đều được các khối óc khôn ngoan tinh tế nhất đề cập tới.

Q7threequestions_1

Và vị chánh chủ khảo, tức là nhà vua ấy, không chấp nhận câu giải đáp nào cả. Nhiều năm trôi qua, ba câu hỏi dần dần rơi vào quên lãng…

Đến một hôm, nhà vua nghe đồn rằng ở trên một đỉnh núi phủ đầy mây nọ, có một đạo sĩ được coi là bậc giác ngộ, nhưng vị chân tu này không bao giờ chịu hạ sơn để giao tiếp với giới quyền quý. Tiếng đồn về đạo sĩ khiến đức vua chú ý và một hôm, ngài quyết định cải dạng thường dân đến tham vấn vị ẩn tu.

Ðến nơi, nhà vua gặp đạo sĩ đang cuốc đất. Vua vái chào và nêu lên ba câu hỏi.

Ðạo sĩ chỉ mỉm cười, đưa tay vỗ nhẹ nhà vua rồi tiếp tục công việc.

Ðã được báo trước về tánh khí lạ thường của đạo sĩ, đức vua không nản lòng, ngồi xuống một tảng đá chờ đợi. Hồi lâu, buồn tay, đức vua mời đạo sĩ nghỉ tay, trao cuốc cho vua làm giúp. Nhiều giờ trôi qua, đức vua vẫn xới đất, còn đạo sĩ thì nhổ cỏ quanh quẩn bên lều tranh.

Khi đôi tay vương giả bắt đầu chai phồng, đức vua ngừng cuốc nghỉ mệt giây lâu và nói với đạo sĩ:

–  Tôi từ xa lặn lội đến đây, cầu Thầy chỉ giáo cho ba điều nghi vấn. Nếu Thầy biết thì xin vui lòng chỉ dẫn cho. Bằng không, cũng xin cho tôi biết để tôi trở về kẻo tối.

Q7threequestions_2

Ðạo sĩ mỉm cười, định nói câu gì đó, thì chợt cả hai người cùng nghe tiếng chân chạy dồn dập. Nhà tu bảo đức vua:

–  Bác xem ai đến kìa!

Nhà vua quay lại thì thấy một người vừa ngã quỵ xuống đất, toàn thân nhuộm máu. Hai người già không ai bảo ai, đều hối hả đến bên người bị nạn. Nạn nhân chỉ còn thở thoi thóp. Vua phụ lực với đạo sĩ băng bó các vết thương… Hai người im lặng làm việc cho đến lúc ngừng tay thì mặt trời đã lặn ở đỉnh núi bên kia.

Q7threequestions_3

Ðưa nạn nhân vào thảo am, đặt người bệnh trên chiếc chõng tre độc nhất của căn lều, họ chia nhau mấy củ khoai rừng luộc. Rồi vì quá mệt, đức vua ngả mình xuống nền đất thiếp đi.

Sáng hôm sau, khi nhà vua giật mình thức giấc thì nắng đã nhuộm hồng thảo am, và chim rừng kêu rộn rã. Ðức vua phải bàng hoàng hồi lâu, mới nhớ rõ mình đang ở đâu và làm gì… Ðạo sĩ đã đi làm vườn, sau khi đặt một rổ khoai luộc bên cạnh ông khách. Trên chõng tre, nạn nhân đã hồi tỉnh và đang nhìn đức vua bằng cặp mắt long lanh. Ðức vua đến bên người bệnh, đặt một bàn tay lên vầng trán nóng như lửa của anh ta và cất tiếng hỏi thăm bệnh tình…

Nạn nhân bỗng òa lên khóc:
–  Xin bệ hạ tha tội cho ngu thần…

Vô cùng ngạc nhiên, đức vua hỏi:
–  Khanh là ai mà lại biết Trẫm?

–  Bệ hạ không biết thần đâu! Hạ thần chính là em trai của võ tướng Trần Ðoàn, người bị bệ hạ giết oan trong mùa thu năm Tân Dậu. Thần đã thề trước linh cữu anh là sẽ giết bệ hạ để báo thù… Biết bệ hạ lên núi này, thần mai phục sẵn. Không ngờ, đợi đến tối mà bệ hạ vẫn chưa xuống núi, thần liền đi tìm… và bị trợt chân té xuống triền núi. Nếu không nhờ bệ hạ ra tay cứu chữa thì có lẽ thần đã mất mạng. Từ đây oan cừu xin giải hết… Thần cúi mong bệ hạ tha tội chết cho thần.

–  Câu chuyện đáng tiếc năm xưa làm ta hối hận không nguôi… Nhưng việc dĩ lỡ rồi, Trẫm không biết tính sao. Bây giờ chẳng những Trẫm sẽ tha tội cho khanh mà Trẫm còn phục hồi chức tước và chu cấp cho gia đình Trần Ðoàn nữa. Khanh hãy yên tâm mà tịnh dưỡng đi.

Ðức vua ra hiệu gọi vệ sĩ đến, cho khiêng nạn nhân xuống núi và vời ngự y chăm sóc vết thương. Sắp xếp đâu đó xong xuôi, vua đi tìm đạo sĩ.

Nhà tu hành đang lúi húi trồng rau trên vạt đất mới cuốc hôm qua.

Ðức vua ngỏ ý cáo từ và lặp lại ba câu hỏi, rồi nói:
–  Xin đạo sĩ giải đáp cho.

Nhà tu mỉm cười:
–  Bần đạo trả lời cho bệ hạ rồi…

Ðức vua ngạc nhiên:
–  Thưa, hồi nào đâu?

–  Ngay lúc bệ hạ vừa nêu câu hỏi.

–  ???

–  Này nhé, thời gian nào là thời gian quan trọng nhất? Đó là lúc bệ hạ cuốc đất giúp bần đạo. Nếu thiếu khoảng thời gian này thì bệ hạ đã chết về tay anh chàng kia rồi nhé! Nhân vật quan trọng nhất chính là bần đạo đây, quan trọng đến nỗi bệ hạ phải trèo non lội suối đi tìm, có phải không? Và câu thứ ba: Công việc nào cần thiết nhất? Thưa đó là cuốc đất, việc mà hai chúng ta làm ngày hôm qua… Rồi sau đó, khi chàng thanh niên xuất hiện thì anh ta biến thành nhân vật quan trọng nhất, công việc cần thiết nhất là cứu cấp cho anh ta, và thời gian đó quan trọng nhất… Có phải thế không nào?

Nhà vua cúi đầu ngẫm nghĩ giây lâu, cất tiếng:

–  Thưa đạo sĩ, Trẫm hiểu rồi. Thời gian quan trọng nhất là thời gian hiện tại. Nhân vật cần thiết nhất là người mà ta cần gặp gỡ trong hiện tại, và công việc khẩn thiết nhất, cũng là công việc trong hiện tại… Quá khứ là những điều đã qua vĩnh viễn; vị lai chỉ là những ảo tưởng mơ hồ… Chỉ có khoảnh khắc ngắn ngủi trong hiện tại là quý nhất mà thôi. Những điều cần làm nhất là giúp đỡ người chung quanh ngay trước mắt ta trong giây phút ngắn ngủi quý báu đó… Thưa, có phải thế không ạ?

Ðạo sĩ mỉm cười, và nụ cười đó thay lời tống biệt, đưa nhà vua xuống núi, nơi mà triều đình và thần dân đang chờ đón ngài.

Phóng tác theo Leo Tolstoy

Uống bao nhiêu rượu thì say?

Tề Uy Vương đặt tiệc ở hậu cung, mời Thuần Vu Khôn, cho uống rượu, hỏi:
–  Tiên sinh uống được bao nhiêu rượu thì say?

Khôn đáp:
–  Thần uống một đấu cũng say, một hộc cũng say.

Uy Vương nói:
–  Tiên sinh uống một đấu đã say thì uống thế nào được một hộc? Tiên sinh có thể cho biết tại sao lại nói như vậy không?

Khôn nói:
–  Nếu cho rượu uống trước mặt đại vương, có quan Chấp pháp đứng bên cạnh, quan Ngự sử nấp sau lưng thì Khôn sợ hãi cúi đầu mà uống, chỉ mới một đấu đã say. [Chấp pháp và Ngự sử đều là những quan coi về nghi lễ. – BT]

“ Nếu cha mẹ có khách quý, Khôn vén áo khom lưng hầu rượu ở trước mặt, thỉnh thoảng được ban cho mấy giọt rượu thừa, lại phải bưng chén chúc thọ, phải đứng lên hầu rượu luôn, như thế chỉ mới hai đấu đã say.

“ Còn nếu bạn bè chơi bời lâu ngày không gặp nhau, bỗng nhiên gặp gỡ, mừng rỡ kể chuyện cũ, đem chuyện riêng ra nói cùng nhau, như thế có thể uống được năm sáu đấu là say.

“ Nhưng đến như ngày hội ở nhà quê, trai gái ngồi lẫn lộn, mời rượu dằng dai, đánh bạc, ném hồ, kéo nhau tụm năm tụm ba, nắm tay cũng không ai phạt, mắt nhìn nhau cũng không ai cấm. Đằng trước có cái hoa tai đánh rơi, đằng sau có cái trâm bị bỏ sót, Khôn trộm lấy thế làm vui, có thể uống tám đấu cũng chỉ say hai phần.

“ Khi trời chiều tiệc vãn, dồn chén ngồi kề, gái trai cùng chiếu, giày dép lẫn lộn, chén bàn bừa bãi, trên thềm tắt đuốc, chủ nhân giữ Khôn ở lại mà tiễn khách ra, áo là cởi bỏ, thoáng thấy mùi hương phưng phức. Trong lúc bấy giờ lòng Khôn rất vui, có thể uống được một hộc.

“ Vì vậy nói rượu quá hóa loạn, vui quá hóa buồn, muôn việc đều thế. Mọi việc đều không thể quá. Hễ quá thì hỏng, nên dùng lời nói bóng mà can ngăn.

Vua Tề nói:
–  Hay!

Bèn bãi bỏ việc uống rượu suốt đêm.

Trích Sử ký của Tư Mã Thiên

Ô Sào thiền sư và Bạch Cư Dị

Ô Sào thiền sư là một cao tăng Trung Hoa vào đời Đường. Khi bà mẹ hạ sanh sư, bà không ưng ý lắm nên đem bỏ con vào một chiếc tổ quạ trên cội đại thọ trước hiên chùa rồi lẩn mất. Sư xuất gia từ đó, và người ta gọi sư là thầy Ô Sào (Ô là quạ, Sào là tổ), tức là ông thầy có xuất xứ từ một chiếc tổ quạ. Tuổi ấu thơ và tráng niên của sư trôi qua bình thản trong bóng mát của tùng lâm cổ kính.

Sư thường hành thiền trên quê hương của mình, tức là nơi chảng ba có đặt chiếc tổ quạ ngày xưa mà theo năm tháng, cội cây đã to và rộng đầy đủ để cành nhánh có thể cho sư đặt một chiếc tọa cụ trên ấy. Cho đến khi ngộ đạo và hành đạo, thiền sư vẫn không rời “quê mẹ.”

Một hôm, quan thị lang Bạch Cư Dị, một thi hào lừng danh đương thời, đi dạo ngang cổng chùa, trông thấy nhà sư đang ngồi vắt vẻo trên tàng cây. Vốn không ưa người “lánh nợ đời” như thế, ông cau mày hỏi:
–  Bộ hết chỗ rồi hay sao mà thầy lựa chỗ hiểm nghèo như thế để ngồi?

Thiền sư bình thản đáp:
–  Chỗ của tôi xem ra còn vững vàng hơn chỗ của quan lớn đang an tọa nhiều.

Quan thị lang nhìn lại chiếc kiệu của mình đang ngồi, ngạc nhiên:
–  Chỗ tôi đang ngồi có gì đáng ngại đâu?

–  Thưa, chỗ đại quan là dưới vua, trên các quan và trăm họ. Vua thương thì quần thần ghét, được lòng dân thì mất lòng vua. Tính mạng của đại quan cùng thân quyến đều lệ thuộc vào lòng yêu ghét của vua và sự tật đố tị hiềm của bạn bè. Một chiếc ghế được kê trên đầu lưỡi thiên hạ thì làm sao bì được với sự cứng chắc của cội cây này được! Có phải thế không thưa đại quan?

Bạch Cư Dị nghe nhà sư nói chỉ im lặng cúi đầu. Ông bắt đầu học đạo với thiền sư Ô Sào từ đó.

Dưới sự dẫn dắt của thiền sư “Tổ quạ”, không bao lâu vị đại quan này đại ngộ.

Hai viên gạch xấu

Đến miền đất mới, các vị sư phải xây dựng, mua dụng cụ và bắt tay vào làm việc. Một chú tiểu được giao xây một bức tường gạch. Chú rất tập trung vào công việc, luôn kiểm tra xem viên gạch đã thẳng thớm chưa, hàng gạch có ngay ngắn không. Công việc tiến triển khá chậm vì chú đặc biệt kỹ lưỡng. Tuy nhiên, chú không lấy đó làm phiền lòng bởi chú biết mình sắp sửa xây một bức tường tuyệt đẹp đầu tiên trong đời.

Cuối cùng chú cũng hoàn thành công việc vào lúc hoàng hôn buông xuống. Khi đứng lui ra xa để ngắm nhìn công trình lao động của mình, chú bỗng cảm thấy có gì đó đập vào mắt: mặc dù chú rất cẩn thận khi xây bức tường, nhưng vẫn có hai viên gạch bị đặt nghiêng. Và điều tồi tệ nhất là hai viên gạch đó nằm ngay chính giữa bức tường. Chúng như đôi mắt đang trừng trừng nhìn chú. Kể từ đó, mỗi khi du khách đến thăm ngôi đền chú tiểu đều dẫn họ đi khắp nơi trừ đến chỗ bức tường mà chú xây dựng.

Một hôm có hai nhà sư già đến tham quan ngôi đền. Chú tiểu cố lái họ sang hướng khác nhưng hai người vẫn nằng nặc đòi đến khu vực có bức tường mà chú xây dựng.

Một trong hai vị sư khi đứng trước công trình ấy thốt lên: “Ôi, bức tường gạch mới đẹp làm sao!”

Chú tiểu kêu lên trong ngạc nhiên: “Hai vị nói thật chứ? Hai vị không thấy hai viên gạch xấu xí ngay giữa bức tường kia ư?”

Tuong gachVị sư già từ tốn: “Có chứ, nhưng tôi cũng thấy 998 viên gạch còn lại ghép thành một bức tường tuyệt vời ra sao.”

Chuyện âm phủ

Tại âm phủ, một hồn ma đang quỳ đối chất trước Diêm Chúa, giữa hai vị công an của diêm phủ là Ngưu Ðầu và Mã Diện.

Diêm Chúa ngồi trên chín bệ dõng dạc ra lệnh:
–  Phán Quan đâu, đọc hồ sơ lý lịch của tên này xem!

Phán Quan liền cất giọng đọc, rõ ràng và chậm rãi:
–  Trần Văn Trụi, 82 tuổi, du thủ du thực, vô gia cư lẫn nghề nghiệp, trúng gió chết tại chợ Bến Thành.

Hồn ma lễ phép đưa một tay xin góp ý:
–  Muôn tâu Diêm Chúa, cho con được phép cải chính.

–  Hử?

–  Thưa, con đúng tên là Trần Văn Trụi, nhưng mới 28 tuổi chứ không phải là 82 tuổi đâu ạ!

–  Sao? Phán Quan…, hắn nói thế đúng không?

Phán Quan giật mình, kéo áo lau kính, xem lại sổ bộ, ấp úng:
–  Dạ… dạ…

–  Ðúng hay sai chớ dạ cái gì?

–  Bẩm đúng ạ!

–  Chèn đét ơi! Mấy người làm ăn kiểu này thì chết tôi rồi… Ngưu Ðầu đâu?

–  Dạ! Có con đây ạ.

–  Mau lên giữ xác nó, kẻo người ta đem chôn bây giờ. Tại sao mà ra cớ sự như vậy hử?

Ngưu Đầu vội vã ra đi.

Phán Quan gãi đầu ấp úng:
–  Dạ… dạ… tại mới mua cặp kính, nhìn chưa quen mắt, nên ngu thần đọc nhầm 28 thành 82 ạ… Xin Thánh thượng bớt giận, thần sẽ đi thay kính lập tức.

–  Nó có số sống đến bao nhiêu tuổỉ?

–  Muôn tâu… 82 tuổi ạ!

–  Vậy thì chờ đợi gì nữa mà không dắt nó đi nhập xác?

Hồn ma liền xen vào:
–  Muôn tâu Diêm Chúa! Những tưởng nhân gian mới làm ăn bê bối… dè đâu… đây cũng vậy. Con đang đi ăn phở với người yêu trước chợ Bến Thành thì thấy hai cha nội nầy đến thộp cổ dắt đi… Có lẽ bây giờ người yêu của con uống thuốc chuột chết theo con rồi cũng không biết chừng!

Diêm vương hạ giọng:
–  Thôi! “Thiên tãi nhất thì” mới có một vụ lầm lẫn. Mũi dại thì lái chịu đòn… Ngươi cho ta xin lỗi vậy, về dương gian đi… Vui vẻ nhé!

–  Muôn tâu, xin Ngài hãy bồi thường thiệt hại cho con.

–  Mi muốn gì? Giấy tiền vàng bạc nơi đây đâu thể đem về trển mà xài được!

–  Thưa… con chỉ muốn xin rằng luôn tiện Ngài cho con liếc sơ qua cái phiếu lý lịch số ba, tức là cung tình duyên gia đạo của con ấy. Liệu con có lấy được người mình yêu và nàng có thành thật với con không ạ?

–  A! Thằng nhãi…! Biết trước vị lai để làm gì? Chẳng sướng ích gì đâu con ạ!

–  Muôn tâu, nếu Ngài không bằng lòng, khi về dương gian, con nhất định sẽ làm ầm lên về cái chuyện này, con sẽ…

–  Tặc! Thằng ranh! Ðừng có dở trò hăm dọa, ta không ngán mi đâu… Mà thôi… Phán Quan đâu?

–  Dạ, có thần đây.

–  Ðọc phiếu số ba cho nó nghe đi!

–  Vâng ạ!

Phán Quan liền lau kính, hắng giọng, đọc: “Trần Văn Trụi, sinh ngày… tại Cao Lãnh, con nhà giàu, đẹp trai, học giỏi. Ðương sự có số công danh, khoa cử, thi đâu đậu đó. Năm 25 tuổi tốt nghiệp Kỹ sư Công chánh hạng Bình, được bổ nhiệm về Sài Gòn. Năm 28 tuổi y cưới vợ là một hoa khôi ở Cầu Bông. Năm 29 tuổi làm Trưởng ty Công chánh ở Tây Ninh, năm 30 bị gọi nhập ngũ, gắn lon trung úy, năm 31 tuổi có con trai đầu lòng, năm 32 tuổi có con gái… Năm 33 tuổi bị trúng mìn đáng lẽ chết phanh thây ở cầu Ông Phủ, nhờ còn âm đức y thoát chết, chỉ gẫy một chân và mù một mắt, vinh thăng đại úy rồi giải ngũ. Năm 40 tuổi… hai đứa con lớn của y bị chết ở Vũng Tàu, năm 45 tuổi bị sốt tê liệt, nằm nhà thương hai năm. Năm 50 tuổi, nhà cháy, vợ y hóa điên. Năm 82 tuổi y mất trí nhớ, du thủ du thực đi xin ăn lẩn quẩn ở các chợ, Cầu Muối, Bến Thành rồi trúng gió chết…”

Phán Quan đọc xong, hồn ma tháo mồ hôi hột, đứng chết sững.

Diêm Vương thúc:
–  Sao? Ðủ chưa?… Xong rồi đó. Ði đi cha nội…

Hồn ma vẫn còn chần chừ.

Phán Quan hối:
–  Lè lẹ lên! Ở đó mà kêu ca hoài, cái xác mi mà sình lên thì chỉ còn nước đem chôn.

Trần văn Trụi đáp một cách xuôi xị:
–  Bẩm! Hay là để cho thiên hạ chôn quách đi cho rồi!

Chửi mắng

Một lần, Phật đi giáo hóa vùng Bà La Môn. Các tu sĩ Bà La Môn thấy đệ tử của mình đi theo Phật nhiều quá, nên ra đón đường Phật chửi. Phật vẫn đi thong thả, họ đi theo sau mà chửi. Thấy Phật thản nhiên làm thinh, họ tức giận, chặn Phật lại hỏi:

–  Cù-đàm có điếc không?

–  Ta không điếc.

–  Ngài không điếc sao không nghe tôi chửi?

–  Này Bà La Môn, nếu nhà ông có đám tiệc, thân nhân tới dự, mãn tiệc họ ra về, ông lấy quà tặng họ không nhận thì quà đấy về tay ai?

–  Quà ấy về tôi chứ ai.

–  Cũng vậy, ông chửi ta, ta không nhận thì thôi.

Tạm bợ

Một vị thầy tâm linh nổi tiếng đến trước cửa lâu đài của vị vua nọ. Vì thầy nổi tiếng rồi, nên lính canh không chặn ông lại.

Ông đi vào và tiến thẳng đến trước mặt nhà vua đang ngồi trên ngai vàng.

Nhà vua hỏi: “Ông muốn gì?”

Vị thầy đáp: “Tôi muốn có một chỗ để ngủ trong cái quán trọ này.”

Vua trả lời: “Nhưng đây không phải là quán trọ, đây là tòa lâu đài của ta.”

“Xin hỏi bệ hạ rằng ai là sở hữu tòa lâu đài này trước bệ hạ?”

“Vua cha ta, Ngài băng hà rồi.”

“Và ai là sở hữu trước cha của bệ hạ?”

“Ông nội của ta, Ngài cũng đã băng hà.”

“Cái chỗ này, nơi mà người ta sống một thời gian rồi rời xa, như vậy thì nó không phải là quán trọ như bệ hạ nói hay sao?”

Phồn thịnh thật sự

Một phú hộ đến nhờ thiền sư Sengai viết cho một câu hoành phi nói đến sự giàu có của gia đình y để truyền lại cho các thế hệ sau.

Sengai lấy một tờ giấy thật lớn rồi viết: “Cha chết, con chết, cháu chết.”

Người phú hộ nổi giận: “Tôi nhờ ngài viết cho câu gì nói đến hạnh phúc của gia đình tôi. Sao ngài lại đùa cợt thế này?”

Sengai giải thích: “Chẳng có ý đùa cợt đâu. Này nhé, nếu con của ông chết trước ông thì thật là một điều bất hạnh. Nếu cháu của ông chết trước con ông, có phải là cả hai cha con đau khổ lắm không? Nếu mỗi thế hệ trong gia đình ông đều theo tuần tự mà qua đời thì đó mới đúng là giòng đời tự nhiên. Ta gọi đó là phồn thịnh thực sự.”

Một nơi an lành

Các đệ tử: Xin Thầy mở lòng từ bi chỉ cho chúng con một nơi an lành tịnh tịch.

Thiền sư: Nếu ta chỉ cho các ngươi nơi đó, thì chốn đó không còn an lành tịnh tịch nữa.

Mạng đền mạng

Có người thợ làm việc trên một tầng lầu cao. Rủi trật chân, té xuống đường. Trong khi té, lại rớt nhằm đầu một người đi qua đường. Người ấy chết, mà anh thợ thì sống.

Con trai người chết thưa lên quan, yêu cầu “mạng đền mạng.” Luật hiện hành trong xứ ấy, hễ gây thiệt mạng cho ai, phải đền bằng tội chết.

Biết rõ người thợ không phải cố sát, nhưng trước luật pháp hiện hành, không còn cách nào khác để cứu người vô tội, quan tòa bèn tuyên án:

–  Hễ “sát nhân giả tử”, luật pháp là như thế không ai có thể gỡ được. Tên thợ này làm chết người, phải thường mạng. Nhưng muốn thực hiện công lý ấy, thì nó đã giết người bằng cách nào, bây giờ người ta phải giết nó bằng cách ấy. Nay ta phán rằng: Đứa con khổ chủ phải lên trên lầu cao ngay chỗ tên thợ trước đây đã đứng, đợi khi tên thợ ấy bước ngang, thì gieo mình ngay trên đầu nó, để giết nó!

Đứa con nạn nhân lật đật đến tòa xin bãi nại.

Trích Cái cười của thánh nhân của Nguyễn Duy Cần

An hưởng cuộc đời

Ngày xưa, có vị Hoàng Đế nọ muốn ban trọng ân cho một người cận thần. Nhà vua phán: “Ngươi có công lao rất lớn với ta. Kể từ cổng thành trở đi, ngươi phóng ngựa đi tới nơi nào ngươi dừng lại thì khoảng đất đó ta sẽ ban cho ngươi.”

Viên cận thần nhảy lên ngựa phóng đi, ra sức phóng ngựa để có được càng nhiều đất càng tốt. Người đó đi suốt ngày đêm, khi mệt và đói vẫn không dám ngừng nghỉ vì muốn có nhiều đất.

Tới một ngày kia, sức khoẻ kiệt quệ vì đói và mệt, hắn lả đi gần chết ở trong rừng. Hắn lẩm bẩm: “Tại sao ta tham lam quá độ vậy? Ta tận sức để có được nhiều đất đai. Bây giờ thì gần chết rồi, ta chỉ mong có được một thước đất để được chôn cất mà thôi!”

Cách nấu nướng

Trong lớp đại học về quản trị, giáo sư đưa ra một vấn đề để thử thách sinh viên giải quyết: ông muốn nướng một kí lô thịt bò trong một cái lò nướng đã có sẵn nhiệt độ là 300 ºC, làm thế nào để biết thời gian nướng cho vừa độ chín “medium” tức là đến khi phần trung tâm của miếng thịt này lên đến 100 ºC? Để tìm ra câu trả lời, sinh viên có thể đề nghị mọi phương thức, nguyên tắc hay lý thuyết mà không nhất thiết tự mình sẽ làm được.

Một sinh viên đề nghị là nên mua một miếng thịt bò nặng 1 kí, cắm một nhiệt kế sâu vào trung tâm miếng thịt, đem nướng, đo thời gian khi nhiệt kế chỉ 100 ºC, thế là có lấy kết quả. Giải pháp gọn gàng!

Một sinh viên lấy ý đó mà thêm là nên mua năm miếng thịt bò mỗi miếng nặng 1 kí, cắm một nhiệt kế sâu vào trung tâm miếng thịt, đem nướng, đo thời gian khi nhiệt kế chỉ 100 ºC, rồi lấy kết quả bình quân từ các miếng thịt khác nhau. Như vậy kết quả mới chắc ăn!

Một sinh viên khác đề nghị một cách thức khoa học hơn: cũng mua vài miếng thịt bò, cũng đem nướng, nhưng dùng dụng cụ đo đặc biệt để tìm ra hệ số truyền nhiệt của thịt bò. Từ đó, dùng công thức vật lý về truyền nhiệt ta có thể tính ra thời gian nướng.

Một sinh viên khác nhân ý kiến đó cho rằng không cần mua thịt bò, mà có thể giả sử là hệ số truyền nhiệt của thịt bò bằng với hệ số truyền nhiệt của nước vì lẽ thịt bò chứa trên 95% là nước, do đó có thể áp dụng ngay công thức vật lý để tính ra.

Nhiều sinh viên đưa nhiều cách thức khác nhau.

Cuối cùng một sinh viên đưa tay nói: “Tôi chỉ cần gọi điện hỏi mẹ tôi. Bà chắc chắn có thể trả lời được ngay, vì bà vốn quen nướng thịt bao nhiêu lần cho cả nhà ăn”.

Ông giáo sư cho anh này điểm cao nhất, và giải thích: “Giải pháp nhanh, gọn, không tốn kém phiền phức, mà vẫn hợp lý, kết quả tin được!”

Cách xử thế của thầy dạy học

Xưa, có một chú học trò được dịp lên phố chơi. Nhằm ngày chợ phiên, một vụ mất cắp xảy ra tại quán trọ, chú học trò liền bị quan huyện bắt nhốt vì người ta ngờ chú là thủ phạm.

Sau khi trải qua những thủ tục tra hỏi phiền phức, quan huyện tìm ra thủ phạm chính, chú học trò được trắng án ra về.

Khi về làng, gặp lại vị thầy dạy học, chú nhỏ tức tưởi kể lại tự sự, bộc bạch nỗi hàm oan của mình.

Ông thầy im lặng nghe xong câu chuyện, nghiêm nghị ra lệnh đánh đệ tử mười roi phạt. Ðương sự rất ngạc nhiên, nhưng không dám cãi lời thầy, riu ríu leo lên bộ phản nằm chờ trận đòn mà lòng hoang mang vô kể.

Các bạn chú thấy thế, ngạc nhiên thưa:
–  Thưa thầy, trò này vô tội sao lại bị đòn?

Ông thầy từ tốn giải thích:
–  Ðành rằng nó vô tội, nhưng tại sao giữa phố chợ đông đảo chỉ mình nó bị tình nghi là kẻ cắp? Ta đánh đây là phạt cái tội nó có bộ vó của thằng ăn cắp để cho người ta nghi ngờ. Nếu nó không chỉnh đốn tư cách lại, ta e rằng nó sẽ bị hàm oan nhiều lần nữa.

Cô lái đò

Xưa, có một thiền sư có việc phải sang sông. Ngồi trên đò, sư hơi kinh ngạc vì nhan sắc dễ coi của cô gái miền quê. Ðến lúc lên đò, hành khách mỗi người phải trả cho cô một quan tiền. Sư cũng định thế, không ngờ cô gái hóm hỉnh bảo:
–  Xin nhà thầy trả cho tôi hai quan!

Sư còn đang ngạc nhiên thì cô lái đò tiếp:
–  Một quan cho tiền đi đò và một quan về khoản nhìn người lái đò.

Vốn không ưa tranh cãi lôi thôi và vì người tu hành không được nói dối, sư liền trả cho cô hai quan tiền, nhưng trong bụng hơi ấm ức!

lai doBận về sư cứ quay lưng lại, nhìn chăm chăm xuống mặt nước, không dám nhìn lên. Nào ngờ lần này cô lái đò bảo:
–  Xin nhà thầy trả cho gấp ba!

Không nhịn được nữa, nhà sư cãi:
–  Nhưng tôi có nhìn cô đâu nào!

Cô lái đò mỉm cười:
–  Ðồng ý là thầy không nhìn tôi bằng mắt, nhưng thầy lại nhìn bằng tâm… Vì thế tôi mới tăng giá gấp ba lên cơ chứ!

Thiền sư nín lặng trả tiền và bước lên bờ.

Lần khác nhà sư lại qua sông. Vừa bước lên đò nhà sư nhắm nghiền mắt lại đi vào thiền định. Đò cập bến, cô lái đò thu tiền gấp năm lần.

Nhà sư hỏi vì sao.

Cô lái đáp:
–  Thầy không nhìn nhưng còn nghĩ đến em.

Thiền sư lại đành phải trả tiền và lên bờ.

Một hôm nhà sư lại qua sông. Lần nầy nhà sư nhìn thẳng vào cô lái đò… Đò cập bến, nhà sư cười hỏi lần nầy phải trả bao nhiêu.

Cô lái đáp:
–  Em xin đưa thầy qua sông, không thu tiền.

Thiền sư hỏi:
–  Vì sao vậy?

Cô lái cười đáp:
–  Thầy nhìn em mà không còn nghĩ tới em nữa…

Tại sao lại là tôi?

Arthur-AsheTay vợt Arthur Ashe nổi danh một thời (giành được 3 danh hiệu Grand Slam), bị nhiễm AIDS qua lượng máu truyền cho ông trong một cuộc giải phẫu tim vào năm 1983.

Ông nhận được thư thăm hỏi từ các nơi trên thế giới, trong số đó có một câu hỏi: “Tại sao Thượng Đế lại chọn ông cho căn bệnh quái ác như thế?”

Arthur Ashe trả lời:

“Trên khắp thế giới có 50 triệu trẻ em bắt đầu tập chơi quần vợt, 5 triệu người lớn lên còn theo đuổi quần vợt, 500.000 người trở thành tay vợt nhà nghề, 50.000 người tham gia vào các giải đấu quan trọng, 5.000 người được chọn tranh tài ở các giải Grand Slam, 50 người lọt vào vòng trong giải Wimbledon, 4 người vào bán kết, 2 người vào chung kết, rồi sau đó tôi nhận cúp. Lúc ấy, tôi không hề hỏi Thượng Đế: ‘Tại sao lại là tôi?’ Thế nên bây giờ, trong khi đau đớn vì căn bệnh, tôi không nên hỏi Thượng Đế: ‘Tại sao lại là tôi?’”

Hình ảnh cuộc đời

Nhà tỷ phú nọ mang cậu con trai duy nhất về nơi thôn dã với ý định để cho con tìm hiểu và so sánh với cuộc sống nghèo nàn của người dân quê. Hai cha con sống hai ngày tại một làng xóm xa xôi nơi mà người ta cho là có đời sống khó khăn.

Sau khi trở về nhà, người cha hỏi người con:
“Con thấy cuộc đi chơi ra sao?”

“Cuộc đi chơi thích thú lắm,” người con trả lời.

“Con nhận thấy gì trong cuộc sống của người dân quê?”

“Con nhận thấy chúng ta chỉ có mỗi một con chó, mà họ thì có tới bốn con. Chúng ta chỉ có một hồ bơi nhỏ ở giữa vườn, còn họ thì có cả một nhánh sông chảy mút mùa. Chúng ta phải nhập cảng những chiếc đèn để treo trong vườn mà họ thì không cần đến vì họ có đầy sao chiếu sáng lúc ban đêm. Tại chỗ ngồi chơi trước nhà, chúng ta chỉ có thể nhìn tới bức tường ở cổng trước mà thôi, còn họ có thể ngồi nhìn suốt tận chân trời. Chúng ta chỉ có một khoảnh đất để sống quanh quẩn ở đó, còn họ có cả một khoảng đồng ruộng thẳng cánh cò bay. Chúng ta phải có người làm để giúp việc chúng ta, còn họ thì không cần, họ tự lo lẫn cho nhau. Chúng ta phải bỏ tiền đi mua đồ ăn, còn họ trồng lấy và tự túc về thực phẩm. Nhà chúng ta phải có tường bao quanh để bảo vệ chúng ta, còn họ thì không cần vì họ có những bạn tốt để đùm bọc lẫn nhau.”

Trước những lý luận của người con trai, người cha không nói nên lời.

Người con nói tiếp: “Con cám ơn cha đã mang con đi du hành để tỏ bầy cho con thấy chúng ta đang có một cuộc đời nghèo nàn như thế nào!”

Câu chuyện quản trị

Thời nhà Hán bên Trung Hoa, Hiếu Văn Đế (trị vì 180 tCN – 157 tCN) được lập lên làm hoàng đế khi tuổi còn nhỏ, nên phụ giúp nhà vua có Chu Bột làm hữu thừa tướng (tương tự thủ tướng chính phủ bây giờ) và Trần Bình làm tả thừa tướng, ngôi thứ nhì (tương tự phó thủ tướng bây giờ, nhưng chỉ có 1 phó thủ tướng thôi).

Thời gian đầu, Hiếu Văn Đế chỉ ngồi nghe quần thần bàn luận, hữu thừa tướng và tả thừa tướng tham mưu ý kiến, rồi nhà vua chuẩn tấu.

Được ít lâu, sau khi đã quen việc nước, Hiếu Văn hoàng đế triều hội hỏi hữu thừa tướng:
– Trong thiên hạ, một năm xét xử ngục hình bao nhiều người?

Chu Bột tạ lỗi, nói:
– Thần không biết.

Nhà vua lại hỏi:
– Trong thiên hạ một năm tiền và thóc xuất nhập bao nhiêu?

Chu Bột lại tạ lỗi, nói:
– Thần không biết!

Chu Bột mồ hôi ra ướt đẫm cả lưng vì thẹn không biết trả lời như thế nào.

Vua bèn hỏi tả thừa tướng Trần Bình.

Trần Bình nói:
– Đã có người lo những việc ấy.

Vua hỏi:
– Ai lo những việc ấy?

Trần Bình nói:
– Bệ hạ nếu hỏi về việc xử ngục hình thì hỏi quan đình úy, nếu hỏi về tiền và thóc thì hỏi quan trị túc nội sử.

Vua hỏi:
– Nếu việc gì cũng có người lo, thì ông còn phải lo việc gì?

Trần Bình tạ lỗi và nói:
– Muôn tâu bệ hạ! Bệ hạ không kể thần tài hèn sức mọn, cho thần lạm giữ chức thừa tướng. Chức vụ thừa tướng trên thì giúp thiên tử chỉnh lý âm dương, làm cho bốn mùa hòa thuận; dưới thì nuôi vạn vật đều được thoả thích; bên ngoài thì trấn áp, vỗ về tứ di, chư hầu; bên trong thì thân với trăm họ, làm cho các quan khanh và đại phu ai cũng đảm nhiệm tốt chức vụ của mình.

Thật ra là Trần Bình tỏ ý khiêm tốn chứ không có ý phải tạ lỗi thữ sự.

Hiếu Văn Đế khen phải.

Hữu thừa tướng rất thẹn, đi ra trách Trần Bình:
– Sao ông không bày trước cho tôi biết để tôi trả lời?

Trần Bình cười:
– Ông ở địa vị của mình mà lại không biết chức trách của mình sao? Nếu bệ hạ hỏi số người ăn trộm ăn cướp ở Tràng An thì ông định nói liều sao?

Theo Sử ký của Tư Mã Thiên

Phương Sinh đại sư

… Giữa lúc ấy bỗng nghe đánh “binh” một tiếng! Bà bà bị trúng một nhát chưởng của Phương Sinh ngã ngửa về phía sau.

Lệnh Hồ Xung giật mình kinh hãi, chàng nghiêng người phóng kiếm vào Phương Sinh. Chiêu kiếm này thế đi cực kỳ xảo diệu, nó bức bách Phương Sinh phải nhảy lùi lại. Lệnh Hồ Xung lại phóng theo chiêu nữa. Phương Sinh giơ binh khí lên đỡ.

Lệnh Hồ Xung rụt trường kiếm về thì đã thành thế đối diện với Phương Sinh. Chàng thấy nhà sư già dùng thứ binh khí là một cây bổng bằng gỗ dài ba thước, không khỏi chấn động tâm thần, nghĩ bụng: “Không ngờ binh khí của lão chỉ là cây bổng gỗ ngắn ngủi. Nội lực vị cao tăng chùa Thiếu Lâm này thiệt lợi hại! Nếu ta không dùng kiếm thuật kiềm chế lão thì bà bà không thoát chết được.”

Chàng nghĩ vậy liền đâm trên một kiếm, dưới một kiếm. Rồi chàng lại đâm luôn hai chiêu nữa. Kiếm pháp chàng thi triển đây là kiếm pháp của Độc Cô Cầu Bại mà Phong Thanh Dương đã truyền thụ cho ngày trước.

Phương Sinh đại sư thấy Lệnh Hồ Xung thi triển mấy chiêu này liền mặt tái mét, miệng ấp úng:
–  Ngươi… ngươi…

Lệnh Hồ Xung không dám ngừng lại. Chàng tự biết bản thân không còn chút nội lực nào, chỉ sơ hở một chút là bị nội lực của đối phương đánh tới ngay. Dĩ nhiên mình phải chết đã đành, nhưng bà kia cũng bị lão bắt đem về chùa Thiếu Lâm xử tử.

Gặp lúc trong lòng trống rỗng sáng suốt, chàng liền đem mấy ngàn chiêu thức biến ảo kỳ diệu về “Độc cô cửu kiếm” ra mà phát theo ý muốn.

Ngày trước Độc Cô Cầu Bại tung hoành võ lâm, khắp thiên hạ không ai địch nổi, thậm chí lão cầu thua lấy một lần cũng không được, kiếm pháp của lão tuyệt diệu đến độ xuất quỉ nhập thần. Nếu Lệnh Hồ Xung một là không mất hết nội lực, hai là trong chỗ tinh vi về kiếm pháp còn những điểm chưa lĩnh hội hoàn toàn, bằng không thì Phương Sinh đại sư bản lãnh có cao thâm đến đâu cũng khó lòng chống nổi chục chiêu.

Phương Sinh đại sư cứ phải lùi hoài. Còn Lệnh Hồ Xung thì cảm thấy nhiệt huyết trồi lên ngực, cánh tay mềm nhũn rất là khó chịu. Kiếm chiêu chàng sử mỗi lúc một bạc nhược.

Phương Sinh đại sư bỗng quát lên một tiếng thật to:
–  Buông kiếm xuống!

Tay trái nhà sư nhằm chụp trước ngực Lệnh Hồ Xung còn cây đoản bổng bên tay mặt nhằm đánh vào cánh tay phải chàng.

Cánh tay Lệnh Hồ Xung nguyên kiệt lực. Chàng phóng chiêu kiếm sau mới được nửa vòng thì cánh tay rũ xuống. Giả tỷ là người khác thì chiêu kiếm sơ hở này chỉ còn đường đưa tính mạng cho đối phương. Nhưng kiếm pháp của chàng đã không vào khuôn phép nào thì cũng không biết đâu là hư hay thực, không biết đâu là chính hay phụ, trong bụng muốn thế nào là sử ra như vậy. Thanh trường kiếm của Lệnh Hồ Xung tuy hạ thấp xuống mà vẫn đâm ra được. Có điều như vậy dĩ nhiên chậm lại một chút.

Phương Sinh đại sư bản lãnh cực kỳ lợi hại. Tay trái lão vung ra nắm được trước ngực chàng, nhưng nhà sư vẫn hoài bão lòng từ bi không nhả kình lực, cất tiếng hỏi:
–  Ngươi là môn hạ ai?

Lúc này mũi kiếm của Lệnh Hồ Xung đã đâm tới trước ngực nhà sư. Nhưng chàng đối với vị cao tăng chùa chùa Thiếu Lâm này rất đem lòng kính ngưỡng, vừa cảm thấy mũi kiếm chạm vào da đối phương liền rụt về ngay. Cử động này quá mạnh khiến người chàng hất ngửa về phía sau, ngồi phệt xuống đất. Miệng chàng không ngớt chảy máu tươi ra.

Phương Sinh đại sư đè tay vào chỗ bị thương trước ngực, mỉm cười nói:
–  Hảo kiếm pháp! Thiếu hiệp mà không lưu tình thì tính mạng lão tăng đã chết uổng rồi.

Nhà sư không nhắc gì đến chính lão đã nhẹ tay không bóp Lệnh Hồ Xung. Lão nói rồi không ngớt lo lắng.

Nguyên Lệnh Hồ Xung tuy thu kiếm kịp thời, song mũi kiếm đã đâm sâu vào trước ngực nhà sư mấy tấc, vết thương không phải là nhẹ.

Lệnh Hồ Xung một tay chống xuống đất, đầu rũ xuống, nói:
–  Vãn bối… mạo phạm tiền bối… thật hối hận vô cùng!…

Phương Sinh đại sư mỉm cười nói:
–  Không ngờ kiếm pháp tuyệt diệu của Phong Thanh Dương tiền bối vẫn còn truyền nhân ở thế gian. Ngày trước lão nhân đã chịu ơn to của Phong tiền bối. Câu chuyện này lão tăng… lão tăng không thể tự mình chủ trương được.

Nhà sư thò tay vào trong áo cà sa móc một gói giấy ra, mở lấy hai viên thuốc lớn bằng mắt rồng nói:
–  Đây là linh dược trị thương của chùa Thiếu Lâm, thiếu hiệp hãy uống một viên đi!

Nhà sư ngần ngừ một lúc rồi tiếp:
–  Còn một viên đưa cho nữ thí chủ kia.

Lệnh Hồ Xung cười đáp:
–  Thương thế của vãn bối trị không khỏi được nữa, còn uống thuốc làm chi cho uổng? Đại sư giữ lấy viên thuốc để mà dùng.

Phương Sinh lắc đầu đáp:
–  Không cần!

Rồi đặt cả hai viên thuốc xuống trước mặt Lệnh Hồ Xung.

Đoạn nhà sư đưa mắt nhìn bốn cái tử thi của bọn Giác Nguyệt, Tân Quốc Lương, thần sắc lão rất thê lương! Lão giơ tay lên tụng niệm kinh văn một lúc, diện mạo trở lại bình hòa. Sau cùng mặt lão dường như bao phủ một làn thánh quang sáng rực. Phải là bậc xứng đáng với bốn chữ “đại từ đại bi” mới có hình dong này…

Phương Sinh đại sư niệm kinh xong, quay lại bảo Lệnh Hồ Xung:
–  Thiếu hiệp! Truyền nhân của kiếm thuật Phong tiền bối quyết không phải là phe yêu tà. Thiếu thí chủ đầy lòng nghĩa hiệp, theo lẽ ra không thể chết uổng. Có điều trong người thiếu hiệp bị thương rất quái dị, không thể lấy thuốc thang mà chữa được, cần luyện nội lực cao thâm mới bảo toàn được tính mạng. Theo ý kiến của lão tăng thì thiếu hiệp nên theo lão tăng về chùa Thiếu Lâm để bẩm rõ với chưởng môn phương trượng đem nội công tâm pháp tối thượng của bản phái truyền thụ cho.

Nhà sư ho mấy tiếng rồi nói tiếp:
–  Về việc luyện nội công tâm pháp này cần đến “duyên pháp.” Lão tăng vô duyên với vụ này. Chỉ có Phương Chứng sư huynh, chưởng môn phương trượng chùa Thiếu Lâm, từ bi quảng đại hoặc giả có duyên cùng thiếu hiệp mới truyền thụ tâm pháp này.

Lệnh Hồ Xung đáp:
–  Vãn bối xin đa tạ hảo ý của đại sư. Xin chờ cho vãn bối hộ tống bà cụ kia đến chỗ bình yên, nếu may mắn vãn bối chưa chết sẽ lên chùa Thiếu Lâm bái kiến đại sư cùng chưởng môn phương trượng.

Phương Sinh nói:
–  Thiếu hiệp… kêu nữ thí chủ đó bằng bà cụ ư? Thiếu hiệp ơi! Thiếu hiệp là đệ tử danh môn chính phái, không nên cùng phe đảng với bọn yêu tà. Lão tăng lấy lời thành thực khuyên can. Mong rằng thiếu hiệp nghĩ kỹ.

Nha suLệnh Hồ Xung nói:
–  Bậc đại trượng phu đã trót lời hứa với người ta, có lý đâu lại thất tín được?

Phương Sinh đại sư thở dài nói:
–  Đành vậy! Lão tăng về chùa Thiếu Lâm trước chờ thiếu hiệp đến.

Nhà sư ngó lại thi thể bốn người lần nữa rồi nói:
–  Bốn cái túi da hôi hám này mai táng cũng được mà không mai táng cũng vậy. Đã lìa cõi trần, thì nhất thiết thành không hết.

Nhà sư nói đoạn xoay mình từ từ bước đi.

Trích Tiếu ngạo giang hồ của Kim Dung

Phúc duyên

Phương Chứng nói:
–  Lão tăng nghe Phương Sinh sư đệ nói kiếm thuật của thiếu hiệp tinh thâm tuyệt diệu và được chân truyền của Phong lão tiên sinh về môn “Độc cô cửu kiếm.” Thật là đáng mừng! Phong lão tiên sinh qui ẩn đã lâu, lão tăng tưởng lão nhân gia tạ thế rồi, mà té ra người vẫn còn sống ở nhân gian, khiến người nghe tin vui mừng khôn xiết.

Lệnh Hồ Xung nghe Phương Chứng nói vậy, chàng chỉ “dạ” một tiếng…

Phương Chứng hai mắt hé mở, nói:
–  Sau khi bị thương thiếu hiệp lại gặp những người điều trị lầm lẫn nên nỗi trong người có nhiều luồng chân khí dị chủng xung kích nhau mà khó bề hòa tán được. Phương Sinh sư đệ nói cho lão tăng biết một cách tường tận. Lão tăng đã tham khảo kỹ càng thì chỉ còn cách luyện tập “Dịch Cân Kinh”, một môn nội công kỳ bí của bản phái, mới có thể dùng công lực bản thân để hóa giải dần dần. Bằng dùng ngoại lực miễn cưỡng điều trị thì tuy có thể kéo dài cuộc sống cho thiếu hiệp được thêm ít ngày, mà thực ra chẳng khác gì lấy nước muối uống cho đỡ khát, mối họa càng sâu xa hơn. Phương Sinh sư đệ đã đem công lực trút vào để cứu mạng thiếu hiệp trong ba tháng nay, thế là trong người thiếu hiệp lại thêm một luồng chân khí dị chủng nữa. Thiếu hiệp thử vận khí mà coi sẽ rõ.

Lệnh Hồ Xung khẽ vận chân khí, quả nhiên thấy khí huyết trong huyệt đan điền bành trướng lên. Nếu không tự kiềm chế được thì cơn đau công kích trái tim kịch liệt đến toát mồ hôi trán.

Phương Sinh chắp tay, nói:
–  Bần tăng bất tài khiến cho thiếu hiệp thêm phần đau khổ.

Lệnh Hồ Xung nói:
–  Sao Đại sư lại nói vậy? Đại sư vì vãn bối mà tận tâm kiệt lực, hao tổn đến nhiều công việc thanh tu. Vãn bối còn sống được phải đền ơn tái tạo của đại sư.

Phương Sinh đáp:
–  Bần tăng không dám. Ngày trước Phong lão tiên sinh thi ân cho lão tăng nhiều lắm. Hành động của lão tăng chẳng qua gọi là báo đáp lão tiên sinh trong muôn một.

Phương Chứng ngẩng đầu lên, nói:
–  Còn nói chi đến chuyện ơn cao đức cả, thù sâu hận lớn? Ân đức là cơn duyên, còn cừu hận không nên để vào lòng. Bao nhiêu việc trần tục đều như khói tỏa mây bay. Sau cuộc trăm năm chẳng còn đâu là ân đức, cừu thù.

Phương Sinh đáp:
–  Dạ! Đa tạ những lời chỉ điểm của sư huynh.

Phương Chứng thủng thẳng nói:
–  Đệ tử nhà Phật lấy từ bi làm gốc. Thiếu hiệp bị thương như vậy, bọn lão phải tận tâm giải cứu. Pho “Dịch Cân Kinh” đó là của Đạt Ma lão tổ sáng chế ra.

Rồi Phương Chứng thuật lại lai lịch của pho “Dịch Cân Kinh.”

Phương Chứng nói:
–  “Dịch Cân Kinh” tuyệt diệu ở chỗ bao quát các mạch lạc con người, liên hệ với tinh thần ngũ tạng. Khắp mà không tan, đi mà không dứt. Khí ở trong sinh, huyết ở ngoài thân. Luyện được kinh này rồi thì tâm động là nội lực tự phát huy như nước triều dâng. Thiếu hiệp ơi! Luyện “Dịch Cân Kinh” khác nào bơi thuyền trên làn sóng dữ. Đợt sóng dâng lên hạ xuống thì con thuyền dĩ nhiên lúc cao lúc thấp, cần chi phải dùng sức!

Lệnh Hồ Xung gật đầu lia lịa. Chàng nhận thấy lý luận của Phương Chứng về “Dịch Cân Kinh” cũng nhiều chỗ ám hợp với kiếm lý của Phong Thanh Dương. Quả nhiên là một môn võ học tinh thâm bát ngát.

Phương Chứng lại nói:
–  Vì “Dịch Cân Kinh” có uy lực ghê gớm như vậy nên mấy trăm năm nay nếu không gặp người xứng đáng là không truyền thụ, không có cơ duyên cũng không truyền thụ. Dù là đệ tử bản phái tư cách siêu quần xuất chúng mà không đủ phúc duyên cũng chẳng được truyền thụ. Tỷ như Phương Sinh sư đệ: võ công cao thâm, chí tu hành lại nghiêm cẩn, đúng là một nhân vật xuất sắc nhất trong bản tự mà vẫn không được sư phụ đời trước truyền thụ kinh này cho.

Lệnh Hồ Xung nói:
–  “Dịch Cân Kinh” không thể truyền thụ một cách khinh suất. Lời đại sư thật quá rõ ràng! Vãn bối không có phúc duyên, chẳng dám tham cầu.

Phương Chứng lắc đầu đáp:
–  Không phải đâu! Thiếu hiệp là người có duyên.

Lệnh Hồ Xung nghe nhà sư nói vậy không khỏi hồi hộp trong lòng. Chàng không thể ngờ một thiên bí lục của phái Thiếu Lâm đến vị cao tăng như Phương Sinh đại sư còn không được truyền thụ mà mình lại đủ phúc duyên.

Phương Chứng thủng thẳng nói:
–  Cửa Phật bao la chỉ độ người có duyên. Thiếu hiệp là truyền nhân của Phong lão tiên sinh về môn “Độc cô cửu kiếm”, đó là một điều phúc duyên. Thiếu hiệp đến chùa Thiếu Lâm là hai điều phúc duyên. Không luyện “Dịch Cân Kinh” tất phải uổng mạng, đó là ba điều phúc duyên.

Phương Sinh chắp tay nói:
–  Lệnh Hồ thiếu hiệp phúc duyên thâm hậu, bần tăng cũng được an ủi rất nhiều.

Phương Chứng nói:
–  Nhưng trung gian còn có một điều chướng ngại hiện giờ chưa thể bước qua được. Nguyên từ Đạt Ma lão tổ đến nay, “Dịch Cân Kinh” chỉ truyền thụ cho đệ tử bản môn chứ không truyền ra người ngoài. Lão tăng chẳng thể tự mình phá bỏ thể lệ đó. Vì thế mà thiếu hiệp cần phải qui đầu bản tự làm một đệ tử tục gia của phái Thiếu Lâm.

Lão ngừng lại một chút rồi tiếp:
–  Nếu thiếp hiệp không tị hiềm thì làm môn hạ lão tăng tức làm đệ tử vào hàng chữ Quốc và như vậy sẽ đổi tên là Lệnh Hồ Quốc Xung.

Phương Sinh lộ vẻ mừng vui, nói:
–  Cung hỉ thiếu hiệp! Phương trượng sư huynh của bần tăng bình sinh mới thu hai  đệ tử từ 30 năm về trước. Thiếu hiệp là đệ tử chân truyền của phương trượng sư huynh thì chẳng những được truyền thụ “Dịch Cân Kinh” mà còn 12 môn tuyệt nghệ của phái Thiếu Lâm, sư huynh sẽ tùy tài truyền thụ thêm cho. Khi ấy thiếu hiệp nhất định sẽ làm cho bản môn thêm phần rạng rỡ. Trong võ lâm nảy một bông hoa lạ.

Lệnh Hồ Xung đứng dậy, nói:
–  Mỹ ý của Phương trượng đại sư khiến vãn bối cảm kích vô cùng! Nhưng vãn bối là đệ tử phái Hoa Sơn, không tiện cải đầu phái khác.

Phương Chứng tủm tỉm cười nói:
–  Thiếu hiệp! Hiện thời thiếu hiệp không phải là đệ tử phái Hoa Sơn nữa.

Rồi Phương Chứng rút ra phong thư của Nhạc Bất Quần, chưởng môn phái Hoa Sơn, thông báo cho đại sư phái Thiếu Lâm biết là mình đã trục xuất Lệnh Hồ Xung ra khỏi môn trường.

Phương Chứng nói:
–  Nay chắc chưởng môn các chính phái đều đã tiếp nhận được thơ của tôn sư và truyền thụ xuống cho môn hạ rồi. Dù thiếu hiệp mình không bị thương thì ra khỏi cửa chùa này cũng gặp toàn bước chông gai nguy hiểm trên chốn giang hồ, vì hết thảy đệ tử các chính phái đều coi thiếu hiệp là kẻ địch.

Lệnh Hồ Xung chưng hửng. Chàng nhớ tới khi ở bên khe suối Doanh Doanh đã nói câu này.

Hiện nay chẳng những bọn bàng môn tả đạo đều muốn giết chàng mà cả môn hạ các chính phái cũng coi chàng là thù nghịch. Trời đất bao la bát ngát mà chàng tưởng chừng không còn chỗ dung thân cho mình.

Phương Chứng thủng thẳng nói:
–  Bể khổ bao la, quay đầu lại là đến bờ. Dù gian nhân phạm tội thập ác mà biết hồi tâm hối lỗi, cửa Phật cũng không hẹp gì, vẫn mở rộng đón tiếp. Thiếu hiệp hãy còn nhỏ tuổi, nhất thời lỡ bước sảy chân, vô tình kết giao phỉ đồ, chẳng lẽ lại không còn đường sám hối? Mối liên quan giữa thiếu hiệp và phái Hoa Sơn nay bị chặt đứt. Từ đây thiếu hiệp làm môn hạ phái Thiếu Lâm, sửa đổi lỗi lầm, xây dựng lại cuộc đời, thì người võ lâm chắc cũng chẳng ai làm khó dễ gì cho thiếu hiệp.

Phương Chứng chỉ nói mấy câu hời hợt song thực ra nghiêm nghị vô cùng.

Lệnh Hồ Xung nghĩ tới lúc này không còn đường mà đi, nếu chịu giữ thân làm môn hạ phái Thiếu Lâm thì chẳng những học được nội công thần diệu, vãn hồi được sinh mạng mà uy danh phái Thiếu Lâm trên chốn giang hồ khiến cho bất luận ai cũng không dám gây sự với đệ tử Phương Chứng đại sư.

Nhưng ngay lúc ấy chí khí quật cường trong lòng chàng lại nổi lên. Chàng lẩm bẩm: “Bậc đại trượng phu không thể ngang nhiên tự lập trong trời đất phải mặt dạn mày dầy nương tựa vào phái khác để cầu an thì còn chi là anh hùng hảo hán? Muôn ngàn người trên chốn giang hồ muốn giết ta thì cứ để họ giết đi. Sư phụ ghét bỏ ta đuổi ra khỏi phái Hoa Sơn, ta cứ đơn thương độc mã mà đi chứ có cần gì?”

Chàng nghĩ tới đây bất giác bầu nhiệt huyết trồi lên, khát nước khô cổ, chàng lại muốn uống vài chục bát rượu nóng. Bất luận sống chết chi chi hay sống chết gì gì chàng cũng gác ra một bên không thèm nghĩ tới. Chỉ trong khoảnh khắc, cả con người mà lòng chàng lúc nào cũng tâm niệm, là Nhạc Linh San, cũng biến thành người dưng nước lã.

Lệnh Hồ Xung đứng lên, quì xuống trước mặt Phương Chứng và Phương Sinh kính cẩn dập đầu lạy mấy lạy.

Hai nhà sư cho là chàng đã quyết ý qui đầu phái Thiếu Lâm, nên đều lộ vẻ hớn hở tươi cười.

Lenh Ho XungLệnh Hồ Xung đứng lên dõng dạc đáp:
–  Vãn bối không được sư môn dong tình thì cũng chẳng còn mặt mũi nào cải đầu phái khác. Tấm lòng từ bi của hai vị đại sư, vãn bối cảm kích vô cùng. Bây giờ xin bái biệt.

Phương Chứng không khỏi ngạc nhiên. Lão không ngờ Lệnh Hồ Xung là một chàng thiếu niên quật cường bất úy tử đến thế.

Phương Sinh nói:
–  Thiếu hiệp ơi! Việc này có liên quan đến sự sống chết của thiếu hiệp là một việc lớn. Thiếu hiệp chớ nên hành động khí khái.

Lệnh Hồ Xung cười khành khạch trở gót đi ra cửa phòng. Lòng chàng đầy nỗi bất bình, chân đi lại càng mau lẹ. Chàng rảo bước đi ra khỏi chùa Thiếu Lâm. Các đệ tử vừa tăng vừa tục trong chùa thấy vậy đều không khỏi ngạc nhiên, nhưng cũng không ngăn trở.

Trích Tiếu ngạo giang hồ của Kim Dung

Một cách xử sự

Ông Thomas là một chủ nông trại giàu có. Ông và vợ mình đối xử rất thân thiện với mọi người nên ai cũng yêu mến họ cả.

Một hôm ông thấy vợ mình sai người giúp việc đến cuối làng, nhà bà John – một tá điền của ông – để mượn một cái bào rau củ. Sau khi người này đi khỏi, ông nói:
–  Anh không nghĩ rằng nhà ta lại không có một cái bào hay không đủ khả năng mua mà em lại sai người đi mượn cho thêm phiền phức như thế.

Bà Thomas từ tốn trả lời:
–  Đây, anh xem, cái bào của nhà ta vẫn còn rất tốt. Em biết mọi người ở vùng này đều yêu quí chúng ta vì chúng ta đem lại nhiều vật chất cho họ hơn các ông chủ khác; nhưng em không muốn như vậy. Em muốn được yêu mến bằng một thứ tình cảm cao hơn, tình làng xóm. Mà điều đó chỉ có thể khi nào chúng ta và họ không có khoảng cách giữa chủ và tớ, giữa giàu và nghèo. Như vậy chuyện cái bào rau củ chỉ là cái cớ để anh và em đến gần với mọi người hơn mà thôi.

Điền Bá Quang

Lâm Hậu đột nhiên trỏ vào đám đông lớn tiếng:
–  Hắn… hắn… cũng như bọn này. Lệnh Hồ Xung kết bạn với bọn này…

Mọi người ngó theo ngón tay gã trỏ thì thấy hắn trỏ vào một người thân thể cao lớn. Chính là Vạn lý độc hành Điền Bá Quang. Mọi người ai cũng biết tiếng ác gã này đồn đại khắp giang hồ và là một tên đại đạo hái hoa.

Lâm Hậu lớn tiếng hỏi:
–  Điền Bá Quang! Ngươi đến núi Hằng Sơn làm chi?

Điền Bá Quang đáp:
–  Tại hạ đến bái sư.

Lâm Hậu lấy làm kỳ, hỏi:
–  Bái sư ư?

Điền Bá Quang đáp:
–  Đúng thế!

Đoạn gã chạy đến trước mặt Nghi Lâm hô lên:
–  Thưa sư phụ! Đệ tử Điền Bá Quang xin vấn an sư phụ!

Nghi Lâm thẹn quá mặt đỏ bừng lên, nghiêng mình né tránh ấp úng:
–  Ngươi… ngươi…

Quần hào thấy Điền Bá Quang đường đường một đại hán tử mà lại dập đầu trước một vị tiểu cô nương xinh đẹp văn nhã thì rất lấy làm kỳ, không sao hiểu được. Vụ này chỉ có Lệnh Hồ Xung biết mà thôi. Nhưng chàng lúc đó cũng tưởng nói đùa một câu, ai ngờ hắn lại cho là thực. Gã lại còn dập đầu lạy Nghi Lâm hô câu “sư phụ” mới thật tức cười.

Doanh Doanh cười nói:
–  Điền sư phó có lòng cải tà quy chánh, quy đầu minh sư thư thế thì còn gì hay bằng! Phương Chứng đại sư! Kẻ có tội buông lưỡi dao đồ tể có thể thành Phật. Con người biết hối lỗi quay về điều thiện, Đức Bồ Tát mở đường bạt độ cho y. Có phải vậy không?

Phương Chứng cả mừng, đáp:
–  Đúng thế! Điền sư phó quy đầu phái Hằng Sơn, từ nay nghiêm thủ thanh quy. Thật là một điều hạnh phúc cho võ lâm.

Doanh Doanh lớn tiếng hô:
–  Chúng vị hãy nghe đây! Bữa nay chúng ta tới đây để quy đầu phái Hằng Sơn. Chỉ mong Lệnh Hồ chưởng môn chịu thu nạp là chúng ta thành đệ tử phái Hằng Sơn cả. A Di Đà Phật! Đệ tử phái Hằng Sơn đâu phải loại yêu tà!

Lệnh Hồ Xung giật mình tỉnh ngộ:
–  Té ra Doanh Doanh đã liệu trước ta lên làm chưởng môn phái Hằng Sơn tất gặp nhiều điều khó khăn trở ngại, nên nàng kêu mọi người quy đầu phái Hằng Sơn.

Trích Tiếu ngạo giang hồ của Kim Dung

Đức Phật và đồng tiền xu

Duc PhatMột ngày, sau chuyến đi đây đó nhiều nơi để giảng đạo, Đức Phật trở về chốn xưa và gặp lại những đệ tử mà Ngài đã truyền dạy lúc trước. Các đệ tử này trình bày cho Ngài nghe họ đã đạt được những tiến bộ nào trong khi Ngài đi vắng.

Một đệ tử cho biết, nhờ công phu tu hành khổ cực trong nhiều năm, anh ta có thể đi trên mặt nước.

Nghe thế, Đức Phật phán:

–  Công phu tu hành của đệ tử như thế đáng giá chỉ bằng một đồng tiền xu mà thôi, vì với đồng tiền xu đó đệ tử có thể trao cho người chèo đò để đưa đệ tử sang sông.

Viết lại theo Giáo sư Y khoa Trần Ngọc Ninh

Ừ hứ!

Thiền sư Hakuin rất được mọi người trọng vọng kính nể vì phong cách đạo đức thánh thiện của ông.

Một ngày kia, có một người con gái trẻ đẹp, nhà gần chùa của thiền sư, bỗng chửa hoang. Người ta không biết cha đứa bé là ai. Bố mẹ cô gái vô cùng tức giận và xấu hổ, nên đánh đập tra khảo cô con gái về lai lịch tình nhân của cô. Ban đầu cô con gái không chịu nói gì cả, nhưng sau cùng vì bị đánh đập dữ dội, cô tiết lộ đó là thiền sư Hakuin.

Tin xấu đồn ra nhanh chóng. Cha mẹ cô gái giận dữ, đùng đùng lên chùa và mắng xối xả vào mặt Hakuin. Khi họ dứt lời, Hakuin trả lời một cách nhẹ nhàng: “Ừ hứ!”

Sau khi đứa bé chào đời, gia đình cô gái mang đứa bé giao cho Hakuin nuôi. Vào lúc này, uy tín Hakuin đã bị hạ thấp và nhiều người chê bai trách móc ông đủ điều, nhưng ông vẫn điềm tĩnh. Ông chăm sóc đứa bé thật tử tế và bồng nó đi xin sữa khắp nơi.

Một năm sau, cô gái vì cảm thấy ray rứt hối hận nên thú thực với cha mẹ là người cha đứa bé không phải là Hakuin, mà là một chàng thanh niên làm việc ở chợ cá. Cha mẹ cô ta vội chạy lên chùa dập đầu tạ lỗi với Hakuin và xin mang đứa bé về.

Thiền sư Hakuin trả lời một cách nhẹ nhàng: “Ừ hứ!”

Tác giả: Osho – Dịch giả: Thích Nữ Minh Tâm

Tôi chỉ muốn bù đắp cho ông

Câu chuyện ngắn dưới đây được viết lại dựa theo một sự kiện có thật. Tác phẩm khi được giới thiệu ra công chúng lần đầu tiên đã làm xúc động hàng triệu trái tim độc giả…

Cô y tá bước vào phòng bệnh với gương mặt lo âu, hồi hộp, xen lẫn chút mệt mỏi, theo sau là anh lính Hải quân điềm đạm với những nét khắc khổ trên khuôn mặt. Hai người lặng lẽ tiến lại gần người đàn ông đang nằm bất động trên giường bệnh. Cô gái thủ thỉ vào tai ông: “Bác kính yêu, con trai bác đến rồi đây!”

Người đàn ông không có phản ứng gì. Có vẻ những liều thuốc an thần “nặng kí” để giảm những cơn đau tim quằn quại đã khiến ông chìm vào giấc ngủ mê mệt… Cô y tá phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần ông mới nặng nề mở được đôi mắt vốn đã mờ đi vì bệnh tật. Những cơn đau tim dữ dội khiến cơ thể ông không còn một chút sức lực. Ông yếu ớt nhìn anh lính cạnh giường mình, rồi nắm lấy tay anh…

Anh lính Hải quân vội vàng nâng đôi tay xanh xao gầy guộc của ông lão lên rồi nắm chặt, như thể muốn truyền cả tình yêu và lòng dũng cảm của anh sang cho ông lão. Ông chỉ nhìn anh run run mà không thể nói gì. Cô y tá biết cuộc hội ngộ này có ý nghĩa thế nào với ông lão và sẽ rất lâu để hai người có thể giãi bày hết tâm tư, nên cô lặng lẽ mang đến cho anh một chiếc ghế, đặt cạnh giường.

Suốt đêm ấy, anh lính cứ nắm lấy tay ông lão chẳng rời. Anh kể cho ông nghe những câu chuyện “sinh tử” khi làm nhiệm vụ. Có một lần anh suýt chết đuối. Hôm ấy biển động dữ dội, trời mưa rét, gió lạnh căm căm, hạm đội của anh phải đi tuần tra thăm dò một vùng biển được cho là bị phục kích. Thời tiết khắc nghiệt khiến tầm nhìn cả đoàn tàu bị hạn chế. Anh là đội trưởng, phải có trách nhiệm hướng dẫn cả đoàn. Trong lúc mải mê quan sát, cơn bão to dữ dội xô anh ngã khỏi tàu. Ai nấy đều hốt hoảng nhìn anh vùng vẫy trong cơn sóng to, rồi dần dần chìm xuống.

“Cha biết không? Lúc ấy, con tưởng cuộc đời mình chuẩn bị kết thúc rồi. Nước xộc vào mũi, cả cơ thể bị bao vây bởi nước, ngực nặng trĩu… Con tự hỏi, chết bây giờ thì có hối tiếc không?… Con chẳng nghĩ được nhiều nhưng thấy trái tim mình bình yên đến lạ… Con nghĩ đến Chúa và tấm lòng từ bi của Ngài… Nếu lên thiên đường, con chắc chắn sẽ không hối hận…”

Anh nghẹn ngào tiếp lời: “…và thế là, một phép lạ xảy ra… Con thấy cơ thể mình nhẹ nhàng từ từ nổi lên trên khỏi những cơn sóng, đồng đội con lúc ấy cũng kịp hoàn hồn dùng dây thả xuống để con bám mà kéo lên… Con được cứu sống một cách kì diệu như vậy đấy…!”

Anh bảo chính tình yêu cuộc sống và sức mạnh của niềm tin vào đấng tối cao đã giúp anh vượt qua những tình huống khó khăn, hiểm nghèo. Anh muốn ông hãy mạnh mẽ như cái cách anh đã làm để bảo vệ Tổ quốc. Khi tình thương chiến thắng nỗi sợ hãi, sẽ không có chỗ cho khổ đau và bi kịch.

Rồi anh cũng kể về một mối tình đẹp đẽ nhưng không thành. Ngày ấy, khi anh chuẩn bị cầu hôn người đã chia ngọt sẻ bùi với anh suốt thời niên thiếu, thì nhận được tin anh phải đi đến Iraq tham chiến. Anh đã cảm thấy rất đau khổ và bế tắc khi bỏ lại người con gái anh yêu thương nhất. Nhưng giữa đất nước và tình yêu, anh chọn đất nước. Vì anh nghĩ rằng, nếu đất nước yên bình, người anh yêu cũng vì thế mà an vui. Anh khuyên cô hãy tìm một người đàn ông khác có thể chăm lo thật tốt cho cô, đừng đợi anh để rồi thất vọng. Vì anh chẳng biết đến ngày nào mình mới có thể về… Cũng không biết liệu mình có thể về được không. Nhưng anh không muốn kìm hãm sự tự do của người mà anh yêu.

Ông lão chẳng nói được gì, chỉ thỉnh thoảng gắng gượng nở một nụ cười mãn nguyện. Anh thấy cả những giọt nước mắt lăn dài trên má ông…

…Thấy trời đã khuya, cô y tá dịu dàng bước lại rồi bảo anh: “Anh nên nghỉ ngơi một chút, đã sang ngày mới rồi!” Anh mỉm cười từ chối: “Cô hãy đi nghỉ đi, tôi muốn ở lại đây thêm một lúc nữa…”

Cô y tá ngập ngừng đáp lại: “Vậy tôi muốn ngồi lại đây với anh một lát”.

Rồi cô bắt đầu nói với anh, trước khi ông lão bị những cơn đau tim quái ác dày vò, ông hay kể với cô về con trai. Ông rất yêu đứa con này và luôn tự hào về anh. Ông nói anh rất dũng cảm và có một trái tim quảng đại. Ngày bé anh nghịch lắm, lúc nào cũng chỉ chăm chăm tìm vật dụng để hóa thân thành những anh hùng. Anh có đam mê với biển cả và những con tàu. Anh muốn sau này lớn lên sẽ trở thành một lính Hải quân, bảo vệ Tổ Quốc. Mỗi lần nhắc đến anh, hiện trong mắt ông lão đều là một sự hân hoan khó tả. Ông bảo anh đã xa ông từ rất lâu rồi. Ông chỉ ước một ngày được gặp lại con trai… Và thật may mắn khi anh đã có mặt ở đây…

Anh lính trẻ không nói gì, chỉ cúi xuống hôn lên trán người đàn ông đã thiếp đi lúc nào không hay… Và anh cứ ngồi túc trực bên ông như thế, mãi cho đến khi bình minh ló rạng…

Sáng hôm sau, khi sát lại gần đánh thức ông, anh mới hay ông lão đã trút hơi thở cuối cùng… Lúc ấy, anh mới buông tay ông ra và gọi y tá…

Sau khi bình tĩnh lại, anh lính trẻ quay sang nói với cô y tá: “Tôi muốn cho cô biết một sự thật…”

Cô y tá chỉ tròn xoe mắt: “Là sự thật gì vậy?”

“Tôi không phải con trai của ông ấy…Tôi chưa gặp ông bao giờ cả…”

Cô y tá đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Cô hỏi anh nếu ông lão không phải cha anh vậy tại sao anh lại ở đó suốt đêm và trò chuyện với ông lão.

Anh mỉm cười hiền từ: “Cô biết đấy… ông lão đang rất cần tình yêu của một đứa con trai. Tôi chỉ muốn bù đắp cho ông bằng tấm lòng của mình… Ông ấy già rồi, mà vẫn chưa một lần được gặp lại con mình…Và… tôi cũng mất cha từ khi còn rất bé, lâu rồi tôi không có ai để chia sẻ nhiều như thế…”.

Cô y tá không nén nổi xúc động, thắc mắc điều kì diệu gì đã mang anh đến đây. Anh nói đó là một sự tình cờ ngẫu nhiên. Anh đến bệnh viện tìm ông William Grey nào đó để báo tin con ông đã hy sinh ở Iraq, nhưng duyên phận đã khiến anh có mặt tại căn phòng này…

Cô y tá nhìn anh run run: “Người đàn ông mà anh đã ở cạnh suốt đêm chính là William Grey…”

Án Tử ứng đối

Án Tử sắp sang nước Sở, vua Sở nghe thấy bảo cận thần rằng:
–  Án Tử là một tay ăn nói giỏi nước Tề, nay sắp sang đây, ta muốn làm nhục, có cách gì không?

Cận thần thưa:
–  Đợi bao giờ Án Tử sang, chúng tôi xin trói một người, dẫn đến trước mặt nhà vua để giả làm người nước Tề bị buộc tội ăn trộm.

Lúc Án Tử đến nơi, vua Sở làm tiệc thiết đãi tử tế. Rượu uống ngà ngà, bỗng thấy hai tên lính điệu một người bị trói vào.

Vua hỏi:
–  Tên kia tội gì mà phải trói thế?

Lính thưa:
–  Tên ấy là người nước Tề phải tội ăn trộm.

Vua đưa mắt nhìn Án Tử hỏi rằng:
–  Người nước Tề hay trộm cắp lắm nhỉ?

Án Tử đứng dậy thưa rằng:
–  Chúng tôi trộm nghe cây quýt mọc ở đất Hoài Nam thì là quýt ngọt, đem sang trồng ở đất Hoài Bắc thì hóa quýt chua. Cành lá giống nhau mà quả chua, quả ngọt khác nhau là tại làm sao? Tại thủy thổ khác nhau vậy. Nay dân sinh trưởng ở nước Tề thì không ăn trộm, sang ở nước Sở thì sinh trộm cắp. Có lẽ cũng tại vì cái thủy thổ khác nhau nó khiến ra như thế chăng?

Người thợ xây nhà

Có một người thợ xây nhà, làm công lâu năm rất chuyên cần cho một chủ thầu. Đến một ngày, ông ngỏ ý từ giã chủ thầu để nghỉ ngơi, vui hưởng tuổi già.

Ông chủ thầu luyến tiếc sẽ thiếu đi một người thợ giỏi, nài nỉ người thợ tiếp tục làm việc cho mình nhưng vẫn không được. Cuối cùng, ông yêu cầu người thợ xây một căn nhà cuối cùng trước khi từ giã.

Người thợ nhận lời. Vì biết mình sẽ giải nghệ, cùng với sự miễn cưỡng, ông chỉ làm việc một cách sơ sài, sử dụng vật liệu tầm thường, không áp dụng kỹ năng tinh xảo như thường ngày, chỉ mong hoàn thành ngôi nhà càng nhanh càng tốt. Vì thế, ngôi nhà có giá trị kém hẳn so với những gì người thợ đã từng xây, tuy bề ngoài người kém hiểu biết chuyên môn sẽ không nhận ra.

Trong thời gian ngắn hơn những công trình trước đó, căn nhà hoàn tất. Ông chủ đi đến, xem xét qua loa, rồi đưa cho người thợ chiếc chìa khóa của ngôi nhà. Ông tỏ ý là vì người thợ đã tận tụy với ông trong nhiều năm, nay ông xin biếu một ngôi nhà mới cho người thợ để gọi là sự tưởng thưởng.

Thế là người thợ phải sống trong căn nhà kém cỏi về mọi mặt, mà tất cả đều do bàn tay của ông tạo nên từ ý nghĩ của ông.

Ðúng và sai

Khi Bankei mở an cư kiết hạ, môn đồ khắp nước Nhật qui tụ về đông đảo. Trong một lần như thế, một đệ tử bị bắt gặp đang ăn cắp. Sự việc được trình lên Bankei với đòi hỏi kẻ phạm tội phải bị trục xuất. Nhưng Bankei bỏ qua.

Ít lâu sau người đệ tử ấy lại bị bắt quả tang trong một trường hợp tương tự, và một lần nữa Bankei lại bỏ qua. Việc này làm những môn đồ khác bất bình, họ liền làm một thỉnh nguyện thư đòi trục xuất tên ăn cắp, nếu không họ sẽ cùng nhau rời khỏi thiền viện.

Sau khi xem xong thỉnh nguyện, Bankei triệu tất cả môn đồ lại, nói: “Các vị là những huynh đệ sáng suốt. Các vị biết thế nào là đúng và thế nào là không đúng. Các vị có thể tìm nơi khác vừa ý để tu học, nhưng vị sư đệ này lại không biết đâu là điều đúng và sai. Ngoài ta ra, ai là người chịu nhận dạy bảo ông ấy? Ta sẽ giữ ông ấy lại đây cho dù các vị có bỏ đi.”

Một suối lệ đầm đìa rửa sạch mặt vị đệ tử ăn cắp. Từ đấy mọi tham vọng lấy cắp đều biến mất.

Không rượu mà say

Vào một buổi chiều tĩnh mịch, Đức Phật bỗng nghe tiếng đập cửa thình thịch và tiếng khè khè của một gã say rượu, thừa lúc cổng mở đã lẻn vào tịnh xá. Hắn vừa đập cửa vừa gọi:
–  Ông Phật ơi, ông Phật! Cho tui làm Phật với! Tui cũng muốn… làm Phật! Khà khà! Bộ chỉ mình ông làm được Phật mà thôi à? Hả?

Đức Phật ngồi dậy ra mở chốt. Thấy gã say dơ dáy, y phục tả tơi, Ngài gọi thị giả A Nan:
–  Này A Nan, ông tắm rửa, cạo tóc và vận cho ông ấy một bộ y sạch. Rồi tìm chỗ cho ông ấy nằm nghỉ.

A Nan vâng lệnh. Sau khi tắm rửa sạch sẽ, cạo tóc đắp y, gã say được đưa đến một gốc cây im mát trong tịnh xá. Gã đánh một giấc ngon lành cho đến sáng hôm sau. Khi tỉnh dậy, hắn bỡ ngỡ nhìn quanh thấy toàn thầy tu mặc áo vàng đi bách bộ, dòm lại mình cũng đang đắp y, sờ đầu nghe trụi lũi, hắn kinh hoàng không biết mình là ai, vội vàng bỏ chạy một mạch ra tới cổng. Các tỳ kheo đuổi theo bắt lại.

ChuaNhưng một số biết chuyện, ngăn bạn:
–  Này, chư hiền, để cho hắn chạy. Hắn chỉ là một gã say, hôm qua Đức Thế tôn bảo Tôn giả A Nan tắm rửa cạo tóc đắp y vào cho hắn đấy.

–  Thật thế sao? Tại sao Đức Thế tôn làm chuyện lạ nhỉ? Biết hắn say mà vẫn độ cho hắn xuất gia?

–  Hãy để hắn đi cho khuất, rồi chúng ta sẽ đến thỉnh giáo Đức Thế tôn về việc này.

Thế là họ kéo nhau đến hương thất Đức Phật, bạch hỏi:
–  Bạch Đức Thế tôn, chúng con không hiểu vì nguyên nhân gì Ngài lại độ cho một gã say như thế? Xin đấng Thiện Tuệ giải rõ cho chúng con.

–  Này các tỳ kheo, các ông dường như trách ta vì đã độ cho một gã say. Nhưng ta hỏi các ông, trong lúc hắn say, tại sao không cầu chuyện gì khác, mà lại cầu làm Phật? Như thế là hắn đã gieo một cái nhân tốt đẹp, ta phải giúp duyên cho hắn, vì ta không hẹp gì mà không cho hắn làm Phật. Vả lại, có bao nhiêu người “tỉnh” biết cầu Phật như hắn? Vậy thì ai tỉnh ai say? Huống chi hắn chỉ nhậu rượu vào mà say vài tiếng đồng hồ rồi tỉnh lại. Cho nên, cái tật say của hắn, ta không cho là trầm trọng. Trái lại, biết bao kẻ trên thế gian này, dù không uống rượu mà vẫn say, không phải say vài tiếng đồng hồ như hắn, mà say suốt kiếp chưa tỉnh. Cái bệnh say đó, say trong vô minh ái dục, ta mới gọi là một chứng bệnh trầm kha!

Thuật theo chuyện kể của H.T. Trí Nghiêm

Chú Tư Ðức câu sấu

Vừa bước lên bờ, chú Tư Ðức liền gặp ông kiểm lâm Rốp. Ông ôm chú và thằng bé nọ vào lòng rồi nói tíu tít:
–  Giỏi quá! Chú Tư giỏi quá! Thằng nhỏ gan quá! Nó bị bịnh rét mà còn mạnh quá! Tôi mời hai cha con vô đồn.

* * *

Miệng nói, tay của ông thoa bóp lia lịa dùm chú Tư:
–  Hết sức giỏi! Người “An Nam” hết sức giỏi! Chú Tư câu được bao nhiêu sấu rồi? Học nghề với ai vậy?

Chú Tư nói:
–  Dạ, nghiệp của ông bà truyền lại. Bây giờ con cháu noi theo.

Ông Rốp gật đầu:
–  Phải! Bữa nào chú nói kỹ lại cách thức câu sấu để tôi viết thành cuốn sách, gởi về bên Tây cho mẹ tôi được biết. Rồi chú ráng câu con sấu còn lại. Chừng đó tôi đi theo, đứng trên cái thang đánh mõ thử một lần.

Chú Tư suy nghĩ:
–  Không được đâu!

–  Con sấu kia lợi hại lắm. Phải trừ cho hết. Tôi đọc trong sách thấy rằng loại sấu lớn thường ở nơi yên tịnh, luôn luôn đi hai con đực và cái.

–  Ông lớn nói đúng. Nhưng mình giết một con đủ rồi, giết hết mình có tội với Trời Ðất.

–  Tội gì vậy, chú Tư?

–  Tội sát sanh. Ðể con còn lại cho nó đi tu. Ðạo Phật của ông bà có nói lại như vậy đó.

Ông Rốp mãi suy nghĩ, vuốt râu:
–  Dân “An Nam” giỏi quá, hiền từ quá! Chú Tư họ gì, mấy tuổi? Ðể tôi chạy tờ về quan Tham biện chủ tỉnh xuất số tiền về thưởng công lao cho chú. Chú muốn làm lính kiểm lâm không? Tôi cho chú làm chức “bếp”, ăn lương mỗi tháng mười lăm đồng bạc.

Chú Tư Ðức cười:
–  Vì đất nước chớ đâu phải vì danh vì lợi. Sách có chữ: “Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng.” [Thấy việc nghĩa không làm thì không phải là dũng, thấy người bị nguy không cứu thì không phải là hùng. (BT)] Công việc của tôi đã làm tròn. Tôi ao ước hương chức làng mình cất một cái miễu lá, thờ cái đầu con sấu nọ. Bất luận là sấu hay cọp, hễ nó hại mình thì mình giết. Hễ giết được rồi, mình nên thờ…

–  Chi vậy?

–  Ðể tỏ rằng mình sợ nó nhưng mà cũng… không sợ nó. Phải để cho nó tu tâm dưỡng tánh trong kiếp sau. Tôi không ưa sát sanh. Tôi muốn làm nghề khác.

–  Nghề gì?

–  Nghề đốn củi. Chừng hết củi thì đào kinh, làm ruộng. Phen này tôi mừng vì cứu được vong hồn mấy người đã bị sấu ăn thịt. Theo lời tục truyền: họ thành cô hồn, sống vất vưởng trên lưng sấu. Lần lần cô hồn nọ bị sấu mê hoặc nên dẫn đường dắt nẻo cho sấu đi sát hại kẻ đồng loại. Bây giờ sấu chết, bao nhiêu cô hồn đã thảnh thơi, có thể tự do đi đầu thai trở thành người lương thiện.

Ông Rốp trầm ngâm suy nghĩ. Ông dè đâu người đốn củi lậu nọ có tài, có đức, biết thương người, thương cuộc đời đến mức ấy.

Trích Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam

Phải biết vâng lời mẹ

Xưa, có một người con trai ngỗ nghịch, lúc nào cũng làm trái ý bà mẹ; bà bảo anh ta làm gì thì anh ta đều làm ngược lại. Bà mẹ buồn rầu, than thở mãi, nhưng không biết làm gì được.

Đến một ngày, bị bệnh nặng quá, bà mẹ biết mình sắp qua đời. Hiểu rõ tính nết con, nghĩ rằng có nói gì thì anh ta sẽ làm ngược lại, nếu bảo anh ta chôn cất mẹ tử tế thì anh sẽ không làm, nên bà nghĩ ra một ý mà bà cho là hay. Bà trối trăn với con: “Sau khi mẹ qua đời, con cứ lấy một manh chiếu bó xác mẹ lại rồi ném xuống sông, không cần phải chôn cất mẹ cho tử tế gì cả.” Bà nhấn mạnh ý “không cần…” để mong nó sẽ làm theo ý này.

Đứa con trai thấy mẹ sắp qua đời, bồi hồi suy nghĩ: “Bấy lâu nay mình cứ luôn cãi lời mẹ. Con cái người ta đều chôn cất cha mẹ họ đàng hoàng, nhưng bây giờ ít ra là lần cuối trong đời, mẹ mình muốn làm khác, mình phải biết vâng lời.”

Thế nên, anh ta hối hận, hứa sẽ vâng lời mẹ.

Nghe anh hứa nghiêm chỉnh, bà mẹ mừng quá, nghĩ rằng rồi cũng như bao lần trước, anh hứa xong đều làm ngược lại, nên bà an tâm nhắm mắt.

Người con đau khổ thương xót mẹ mình vô cùng, thế là làm đúng như lời mẹ dặn trước khi lâm chung: lấy một tấm chiếu bó xác bà rồi ném xuống sông.

Theo lời kể của bà Nguyễn Thị Bích Mỹ

Kisagotami

Kisagotami là một thiếu phụ còn trẻ, vừa mất một đứa con chưa đầy một tuổi. Trong cơn đau khổ cùng cực, cô cứ ôm chặt xác đứa con trong lòng và đi khắp nơi, tin rằng sẽ có một phương thuốc làm con mình sống lại. Dân làng cho rằng có lẽ cô vì quá buồn khổ nên đã hóa điên, họ trốn tránh cô. Có một người thấy vậy thương hại, đến khuyên cô hãy tìm gặp Đức Phật, ngài sẽ giúp cho.

Khi gặp Đức Phật, Kisagotami kể lại tình cảnh của mình và cầu xin Đức Phật làm phép cho đứa con yêu dấu được sống lại.

Ðức Phật từ bi nhìn cô bảo: “Ta biết có một phương cách, nhưng cô phải xin được cho ta một hạt cải từ một căn nhà nào mà trong gia đình chưa từng có người chết. Cô xin được rồi mang về đây, ta sẽ làm cho con của cô sống lại.”

Cô nghe lời Đức Phật, đi vào làng tìm đến mỗi nhà. Nhưng nhà nào cô gõ cửa hỏi cũng đều có người đã qua đời.

Rồi một buổi sáng cô chợt hiểu! Căn nhà mà cô muốn tìm, nó không có thật trên cuộc đời này. Cô đi vào rừng chôn xác đứa con mình và trở lại gặp Đức Phật.

Đàn bà nước mình tham lam

… Cái gì được người ta lặp đi lặp lại nhiều lần bằng câu hát đưa em? Vậy mà có người không hiểu rõ. Thí dụ như:

Một mai thiếp có xa chàng
Ðôi bông thiếp trả, đôi vàng thiếp xin.

Tại sao đôi bông thiếp trả, đôi vàng thì xin? Không lẽ người đàn bà nước mình mang thói tham lam? Sự thiệt nó có tích như vầy: đôi bông là vật cha mẹ chồng cho nàng dâu hồi đám nói; đôi vàng là của riêng mà hai vợ chồng trẻ nhờ dành dụm sắm được lúc sau. Nàng dâu than vãn bà mẹ chồng khắc nghiệt, sẵn sàng “trả đôi bông” lại cho mẹ chồng. Nhưng nàng vẫn thương chồng – “xin giữ đôi vàng” – nài nỉ chồng cất nhà ở riêng để thoát ách.

Câu hát đó cao sâu lắm! Hồi xưa, khách qua đường hễ nghe nó là hiểu được tánh tình của bà mẹ chồng trong nhà như thế nào. Bởi vậy người hát phải biết hát, người nghe phải biết nghe…

Trích Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam

Một câu chuyện lứa đôi

Chàng và nàng rất trẻ, họ mới lấy nhau được 2 năm. Chàng vốn theo nghề chụp hình, nhưng say mê văn chương. Ngày lại ngày chàng cặm cụi viết sách, tuy rằng sách của chàng nằm dưới lớp bụi trên kệ ở các cửa hàng sách. Chàng rất yêu và chiều theo ý nàng. Thế rồi một ngày nọ…

Nàng bảo chàng: “Anh đi chụp hình đám cưới con bạn em. Nó hứa trả công hậu đấy.”

“Bữa đó anh có hẹn với một nhà xuất bản. Em nói bạn em chịu khó mời người khác.”

Nàng bĩu môi: “Anh bớt viết đi. Có ai đọc văn anh đâu!”

“Rồi một ngày nào đó, người ta sẽ nhìn nhận những gì anh viết.”

Nàng xì một tiếng: “Em chẳng quan tâm tới chuyện đó. Nhưng dứt khoát anh phải chụp hình đám cưới của bạn em.”

Chàng: “Em nghĩ lại đi.”

Cuộc tranh luận của họ chấm dứt với lời tuyên chiến của nàng: “Cho anh 3 ngày để suy nghĩ, nếu không…”

Ngày thứ nhất. Nàng “đình công.” Bếp núc nguội ngắt, tủ lạnh trống trơn. Quần áo dơ nằm chỏng trơ trong phòng tắm. Máy thu hình, máy tính, dàn hifi… bị nàng nhét xuống kho. Để tỏ lòng “nhân từ”, nàng để lại chiếc giường đôi cho cả hai. Chàng vẫn chúi mũi vào những trang giấy viết dở. Trong túi chàng còn một ít tiền.

Ngày thứ nhì. Nàng tiến hành lục soát và chỉ để lại cho chàng cái túi trống rỗng và một mẩu giấy cảnh cáo: “Chớ có dại cầu viện từ bên ngoài, nếu không hậu quả sẽ thê thảm hơn đó!” Quả tình chàng đã lo lắng. Buổi tối, chàng năn nỉ nàng nhưng vô vọng. Nàng muốn chàng phải tuyệt đối tuân theo ý nàng.

Đêm thứ ba. Chàng nằm quay mặt về một phía, nàng ngoảnh mặt nhìn sang phía khác.

Chàng: “Chúng ta cần nói chuyện…”

“Trừ phi là chuyện chụp hình đám cưới…”

Chàng: “Chuyện rất quan trọng.” Nàng im lặng.

Chàng: “Anh đã gặp một cô gái.”

Nàng không tin vào tai mình. Nàng muốn vùng dậy tát cho chàng một cái, nhưng cố nén chờ chàng nói hết. Chàng rút từ trong ngực áo, chỗ trái tim chàng, một tấm hình. Mắt nàng nhòe lệ nghĩ, sao hôm qua mình quên lục chỗ đó nhỉ?

Chàng: “Cô ấy rất nhân hậu.”

Trái tim nàng tan nát khi biết rằng có tấm hình của một người con gái khác ở bên trái tim chàng.

Chàng: “Cô ấy hứa sẽ giúp anh thực hiện ước vọng văn chương.” Nàng giật mình bởi trong quá khứ, chính nàng cũng đã từng hứa như vậy.

Chàng: “Cô ấy rất yêu anh.”

Nàng ngồi bật dậy và quát to: “Bộ em không yêu anh hay sao?”

Chàng: “Anh nghĩ là cô ấy sẽ không ép anh phải làm những điều anh không muốn.”

Nàng giận lắm. Chàng chìa bức hình cho nàng: “Em có muốn biết mặt cô ấy không?”

Nàng hất mạnh tay chàng. Chàng thở dài cất tấm ảnh sau ngực áo. Nàng bật khóc. Chàng tắt đèn nằm xuống. Nàng chong đèn ngồi một mình. Chàng dường như ngủ say thở đều đều. Nàng thao thức. Nàng hối hận vì cách đối xử với chàng. Nàng sẽ không bắt ép chàng phải nhất nhất theo ý mình. Nàng muốn đánh thức chàng và nói với chàng những lời thật âu yếm. Nhìn vào ngực áo chàng, nàng muốn biết cô gái kia ra sao. Nàng nhẹ nhàng đưa tay rút tấm ảnh. Chợt nàng bật cười rồi liền đó òa khóc.

Người trong ảnh không ai khác: chính là nàng.

Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn

Triệu Mẫn xoay xoay nghịch cái chén, một hồi lâu không nói gì, lại cầm bầu rượu lên rót thêm hai chén nữa, chậm rãi nói tiếp:
–  Trương công tử, tôi hỏi anh một câu nhé, anh cứ thực lòng mà trả lời tôi. Nếu như tôi đem Chu cô nương giết đi, anh sẽ đối với tôi thế nào?

Trương Vô Kỵ trong bụng kinh hãi, hỏi lại:
–  Chu cô nương có đắc tội gì với cô đâu, sao bỗng dưng lại giết cô ta là sao?

Triệu Mẫn đáp:
–  Người nào tôi không thích là tôi muốn giết, chứ đâu phải cứ đắc tội với tôi, tôi mới giết đâu? Có người thì đắc tội với tôi nhiều lần, tôi lại để yên không giết, chẳng hạn như anh, đắc tội với tôi mấy lần rồi thì sao?

Nàng nói tới đây, ánh mắt long lanh ẩn một nụ cười.

Trương Vô Kỵ thở dài, nói:
–  Triệu cô nương, tôi đắc tội với cô âu cũng là chuyện bất đắc dĩ. Thế nhưng cô đã tặng cho tôi thuốc để chữa bệnh cho tam sư bá, lục sư thúc tôi, lòng tôi thật là cảm kích.

Triệu Mẫn cười, nói:
–  Anh nói câu đó có phần dở hơi. Du Đại Nham và Ân Lê Đình bị thương đều do thuộc hạ của tôi gây ra, anh chẳng trách thì thôi, lại cảm ơn là sao?

Trương Vô Kỵ mỉm cười:
–  Tam sư bá của tôi bị thương đã ngoài hai mươi năm, khi đó cô chưa ra đời.

Triệu Mẫn nói:
–  Thì do bộ thuộc của cha tôi cũng có khác gì là bộ thuộc của tôi? Anh đừng nói lảng qua chuyện khác: tôi hỏi anh, nếu như tôi giết Chu cô nương, anh sẽ đối với tôi như thế nào? Anh có định giết tôi báo thù cho cô ta không?

Trương Vô Kỵ trầm ngâm một hồi rồi nói:
–  Tôi cũng không biết nữa.

Triệu Mẫn hỏi lại:
–  Sao lại không biết? Anh không chịu nói, có phải không nào?

Trương Vô Kỵ nói:
–  Cha mẹ tôi bị người ta bức tử. Bức tử cha mẹ tôi là phái Thiếu Lâm, phái Hoa Sơn, phái Không Động. Sau này khi tôi lớn lên, thấy mọi việc rõ ràng hơn nhiều, nhưng càng suy nghĩ lại càng chẳng hiểu, thực sự ai là người hại cha mẹ tôi? Không thể nói là Không Trí đại sư, Thiết Cầm tiên sinh những người đó được; cũng không thể bảo là ông ngoại tôi hay cậu tôi; thậm chí cũng không thể nói là những thủ hạ của cô như “A Nhị”, “A Tam” hay Huyền Minh nhị lão. Cái lý do nào trời xui đất khiến ra thế, biết bao nhiêu điều tôi không hiểu được. Dẫu như có những người là hung thủ thực chăng nữa, dù tôi có giết hết tất cả thì cũng để làm gì? Cha mẹ tôi có sống lại được đâu! Triệu cô nương, mấy hôm nay tôi chỉ nghĩ rằng nếu tất cả mọi người không giết lẫn nhau, sống hòa bình thân ái, làm bạn của nhau chẳng hay hơn ư? Tôi không nghĩ đến chuyện báo thù giết người, cũng mong người khác đừng hại ai giết ai.

Chàng nói một mạch những gì đã nghĩ trong lòng rất lâu, nhưng chưa hề nói cho Dương Tiêu hay, cũng chẳng nói cho Trương Tam Phong biết, cũng không nói cho Ân Lê Đình hay, bỗng nhiên nơi quán rượu nhỏ bé này lại nói cho Triệu Mẫn nghe, những lời đó nói ra rồi chính chàng cũng lấy làm lạ.

Triệu Mẫn thấy chàng nói thật thành khẩn, suy nghĩ một lát rồi nói:
–  Đó là tại anh tâm địa nhân hậu, nếu phải tay tôi ư? Tôi sẽ làm tới nơi tới chốn. Nếu như ai làm hại cha tôi, anh tôi, tôi sẽ giết sạch cả nhà người đó, ngay cả thân thích bằng hữu, phàm người nào y quen biết, tôi sẽ giết sạch không còn một mống.

Trương Vô Kỵ nói:
–  Như thế tôi sẽ ngăn không cho cô làm.

Triệu Mẫn hỏi lại:
–  Vì sao vậy? Anh về phe kẻ thù của tôi ư?

Trương Vô Kỵ đáp:
–  Cô giết một người, bản thân cô sẽ thêm một phần tội nghiệt. Người bị cô giết, chết đi ra sao thì không biết, cái đó cũng đã xong, thế nhưng còn cha mẹ con cái, vợ chồng anh em người ta đau lòng biết mấy? Về sau mỗi khi cô nghĩ lại, lương tâm cô sẽ không an. Nghĩa phụ tôi giết nhiều người lắm, tôi biết tuy ông không nói ra, nhưng trong lòng thật là hối hận.

Triệu Mẫn không đáp, chỉ suy nghĩ về những điều Trương Vô Kỵ vừa nói ra.

Trích Ỷ thiên Đồ long ký của Kim Dung

Tạ Tốn và Độ Ách

Tạ Tốn đi đến trước mặt Không Văn, quì xuống nói:
–  Đệ tử tội nghiệt thâm trọng, mong phương trượng cho ở lại, xuống tóc tu hành.

Không Văn chưa kịp trả lời, Độ Ách nói:
–  Ngươi lại đây, lão tăng thu ngươi làm đồ đệ.

Tạ Tốn đáp:
–  Đệ tử không dám mong được phúc duyên như thế.

Ông ta bái Không Văn làm thầy là đệ tử hàng chữ Viên, còn như bái Độ Ách làm thầy là ở vào hàng chữ Không, cùng Không Văn, Không Trí xưng hô huynh đệ.

Độ Ách quát lên:
–  Hừ!
     Không đã đành là không,
     Viên cũng lại là không,
     Ngã tướng với nhân tướng,
     Nào có chi bất đồng?

Tạ Tốn ngạc nhiên nhưng lập tức hiểu ngay: sư phụ đệ tử, hàng trên hàng dưới, pháp danh thứ tự đối với nhà Phật cũng đều là huyễn ảo, nên liền đọc ngay:
     Sư phụ vốn là không,
     Đệ tử cũng không nốt.
     Không tội, nghiệp sao còn,
     Công đức đâu mà kết?

Độ Ách nghe thế cười ha hả:
–  Thiện tai! Thiện tai! Ngươi vào làm môn hạ của ta, tên ngươi vẫn là Tạ Tốn, ngươi có hiểu chăng?

Tạ Tốn đáp:
–  Đệ tử hiểu rồi!
     Tạ Tốn hay cục phân,
     Cũng đều là hư ảnh.
     Đến thân còn chẳng chấp,
     Lẽ nào vướng vào danh?

Tạ Tốn văn võ toàn tài, chư tử bách gia đâu đâu cũng thông suốt, nay được Độ Ách điểm hóa, lập tức hiểu ngay tinh nghĩa nhà Phật, từ đó đi vào cửa không, về sau trở nên một cao tăng đức độ.

Trích Ỷ thiên Đồ long ký của Kim Dung

Chết như thế nào?

Một nhà diễn thuyết bắt đầu buổi nói chuyện bằng một câu hỏi: “Nếu phải chết, bạn muốn chọn một cái chết như thế nào: Chết nhẹ nhàng, nhanh chóng hay đau đớn và từ từ?”

Đám đông ồn ào vì câu hỏi kỳ quặc. Ai mà chẳng muốn một cái chết nhẹ nhàng và nhanh chóng, vì vậy mà mọi người đều chọn nó.

Khi mọi người đều đã chắc chắn với quyết định của mình rồi, nhà diễn thuyết mới tiếp tục:

“ Tôi cũng từng chọn giống như các bạn vậy. Cho đến một ngày, khi cha tôi lâm bệnh nặng. Ông phải trải qua những cơn đau khủng khiếp, kéo dài ngày này sang ngày khác. Chúng tôi rất thương yêu ông nhưng cũng không muốn ông phải chịu đau đớn như vậy. Mẹ tôi nói với cha tôi điều đó.

“ Ông nhìn bà hồi lâu rồi nói: Tôi đau lắm chứ, hơn ai hết tôi là người muốn giải thoát cho chính mình khỏi những cơn đau. Nhưng tôi vẫn muốn sống, chỉ để nhìn các con tôi đi làm về chào bố, các cháu tôi chào ông mỗi buổi sáng. Để chúng ôm hôn tôi trước khi đi ngủ. Để mỗi sáng dậy tôi còn được nhìn thấy ánh mặt trời, để nghe tiếng sóng biển từ xa vọng về. Với bà và các con, điều đó thật đơn giản, nhưng với một người như tôi thì thật khó khăn. Tôi không còn thời gian để làm những điều đó nữa. Dù đau đớn nhưng tôi bằng lòng vì tôi có thể mang đi những gì tươi đẹp nhất của cuộc sống mà tôi đã không bao giờ nhận ra…

Anh hùng

Thành Cát Tư Hãn chán nản quay về kim trướng. [Kim trướng có nghĩa lều màu màu vàng của người Mông Cổ. Sử Hoa văn gọi đế quốc rộng lớn của người Mông Cổ vào thời này là Hãn quốc Kim Trướng. (BT)]

Đến xế chiều, y gọi một mình Quách Tĩnh theo đi dạo trên thảo nguyên. Hai người giục ngựa cùng đi, được hơn mười dặm chợt nghe trên đầu có mấy tiếng chim điêu kêu, ngẩng nhìn thấy đôi bạch điêu đang lượn vòng trên không. Thành Cát Tư Hãn giương cung lắp tên nhắm thẳng vào con điêu mái.

Thaonguyen

Quách Tĩnh hoảng sợ kêu lên:
–  Đại hãn, đừng bắn!

Thành Cát Tư Hãn tuy đã già yếu nhưng ra tay vẫn rất mau lẹ, Quách Tĩnh vừa bật tiếng kêu, mũi tên đã bắn ra.

Quách Tĩnh thầm kêu khổ, y vốn biết Thành Cát Tư Hãn tý lực hơn người, tên bắn không mũi nào sai, phát tên ấy bắn ra, con chim điêu yêu quý ắt phải mất mạng, nào ngờ con điêu mái ngoắt qua tránh khỏi, cánh trái vỗ một cái đập mũi tên rơi xuống đất. Con điêu trống cả giận rít lớn một tiếng lao xuống mổ vào đầu Thành Cát Tư Hãn.

Quách Tĩnh quát:
–  Súc sinh, muốn chết à?

Rồi vung roi đánh con điêu trống. Con điêu trống thấy chủ nhân ra tay bèn vòng lên không, kêu lên mấy tiếng, cùng con điêu mái song song bay đi.

Thành Cát Tư Hãn thần sắc buồn thảm, ném cung tên xuống đất, nói:
–  Mấy mươi năm nay đây là lần đầu tiên ta bắn điêu không trúng, chắc là đúng tới lúc chết rồi.

Quách Tĩnh định an ủi nhưng không biết nói thế nào. Thành Cát Tư Hãn đột nhiên kẹp hai chân một cái thúc ngựa phi mau lên phía bắc. Quách Tĩnh sợ y bị sơ xuất phóng ngựa vượt lên, con tiểu hồng mã lướt đi như gió trong chớp mắt đã vượt qua ngựa y.

Thành Cát Tư Hãn kìm cương nhìn quanh, chợt nói:
–  Tĩnh nhi, đất nước to lớn mà ta dựng nên, xưa nay chưa từng có ai bằng được, từ giữa đất nước đi tới những nơi xa xôi nhất, đông nam tây bắc đều phải đi đường mất một năm. Ngươi nói các anh hùng cổ kim có ai hơn ta không?

Quách Tĩnh trầm ngâm một lúc rồi nói:
–  Đại hãn võ công hơn đời, xưa nay không ai bằng. Chỉ là đại hãn một mình oai phong hiển hách, nhưng thiên hạ lại không biết có bao nhiêu đống xương trắng chồng chất, làm chảy không biết bao nhiêu nước mắt của cô nhi quả phụ.

Thành Cát Tư Hãn trợn mắt lên, giơ roi ngựa muốn đánh lên đầu Quách Tĩnh, nhưng thấy y ngang nhiên không sợ đưa mắt nhìn mình, chiếc roi ngựa vung lên nửa chừng lại buông xuống, quát:
–  Ngươi nói gì?

Quách Tĩnh nghĩ thầm: “Từ nay trở đi chưa chắc đã có dịp gặp lại đại hãn, cho dù khiến y tức giận thì ý nghĩ trong lòng cũng phải nói rõ.”

Lúc ấy ngang nhiên nói:
–  Đại hãn, người nuôi con dạy con, bức tử mẹ con, đó là chuyện ân oán riêng tư, lúc này không cần nói nữa. Con chỉ muốn hỏi người một câu: Sau khi người ta chết, chôn xuống đất rồi thì chiếm hết bao nhiêu đất?

Thành Cát Tư Hãn sửng sốt, ngọn roi khua lên mấy vòng, nói:
–  Cái đó thì chẳng đáng bao nhiêu.

Quách Tĩnh nói:
–  Đúng thế, vậy người giết chết bấy nhiêu người, làm đổ bấy nhiêu máu, chiếm được bấy nhiêu nước, rốt lại dùng để làm gì?

Thành Cát Tư Hãn im lặng không đáp.

Quách Tĩnh lại nói:
–  Xưa nay bậc anh hùng khiến cho đương thời kính ngưỡng, đời sau nhớ tiếc ắt là kẻ tạo phúc cho dân, thương yêu bách tính. Theo con thấy thì giết nhiều người chưa chắc đã đáng gọi là anh hùng.

Thành Cát Tư Hãn nói:
–  Chẳng lẽ suốt đời ta chưa từng làm chuyện gì tốt à?

Quách Tĩnh nói:
–  Chuyện tốt thì tự nhiên là có, nhưng chuyện lớn hơn là người nam chinh tây phạt, xác chết chất thành núi, đâu là công đâu là tội cũng rất khó nói.

Y tính tình thẳng thắn, nghĩ gì nói nấy.

Thành Cát Tư Hãn nhất sinh tự phụ, lần này lại bị y dồn cho một chặp như thế, đã khó biện bác, nghĩ lại chuyện trước, giục ngựa quay đầu, không kìm được chán nản, lát sau ọe một tiếng, phun ra một búng máu tươi.

Quách Tĩnh giật nảy mình, mới biết mình ăn nói nặng lời, vội đưa tay đỡ y, nói:
–  Đại hãn, người về nghỉ ngơi thôi. Con ăn nói có điều mạo phạm, xin người tha tội.

Thành Cát Tư Hãn cười nhạt một tiếng, khuôn mặt trắng bệch như sáp, thở dài nói:
–  Tả hữu của ta không ai to gan bằng ngươi, dám nói mấy câu thật lòng với ta.

Rồi lập tức nhướng mày, trên mặt hiện vẻ ngạo nghễ, cao giọng nói:
–  Ta nhất sinh tung hoành thiên hạ, diệt quốc vô số mà ngươi lại nói không phải là anh hùng à? Hà, đúng là lời trẻ con!

Vung roi đánh mạnh con ngựa một cái, phi mau trở về.

Đêm ấy Thành Cát Tư Hãn băng trong kim trướng, lúc lâm tử vẫn lẩm bẩm:
–  Anh hùng, anh hùng…

Chắc trong lòng vẫn suy nghĩ về lần trò chuyện ấy của Quách Tĩnh.

Trích Anh hùng xạ điêu của Kim Dung

Dị nhân ăn cắp

Ở Nhật Bản, có một dị nhân hay bị bắt vào tù vì tội ăn cắp — hôm nay ông ta lấy một món đồ nhỏ nầy, ngày mai ông ta lại ăn cắp một vật tầm thường khác. Không có vật gì đáng giá cả, nhưng đó cũng là hành vi ăn cắp và vẫn phải bị ngồi tù. Ông ta vào tù ra tù đến cả 26 lần, và tội nhân trong tù đều là đệ tử của ông.

Lần cuối cùng ông ra tù, ông đã 78 tuổi rồi. Những đệ tử của ông khuyên: “Thôi, Thầy đã già rồi, đừng làm như thế nữa!”

Ông trả lời: “Nếu ta không làm nữa thì ai sẽ vào tù để hóa độ những tội nhân kia? Ai sẽ giảng dạy, khuyên bảo chúng cải tà qui chánh? Nếu mọi người chỉ biết giải thoát sung sướng một mình mình thì ai sẽ là người vào địa ngục cứu khổ muôn loài? Ai là người bẻ khóa xiềng xích giải thoát cho sanh linh? Đó là con đường duy nhất ta phải làm, nếu không chúng sẽ không theo ta tu tập sửa đổi lỗi lầm.”

Ông Vương

Trong thời Vũ Đế nhà Hán, nhà vua triệu Thái thú Bắc Hải đến nơi nhà vua kinh lý để báo cáo công việc. Người lo việc giấy tờ là ông Vương xin được cùng đi với Thái thú, nói:
–  Tôi sẽ giúp ích được cho ông.

Thái thú bằng lòng. Các viên thư lại trong phủ đều nói:
–  Ông Vương là người thích rượu, lắm lời nhưng trống rỗng, sợ không thể cùng đi.

Thái thú nói:
–  Ý ông ta muốn đi, ta không muốn trái.

Bèn cùng ông ta đi. Trong khi ở quán trọ chờ đợi chiếu nhà vua triệu vào, ông Vương chỉ mang tiền mua rượu thịt cùng viên quan chỉ huy vệ binh ăn uống say sưa hàng ngày, không gặp Thái thú.

Đến ngày Thái thú được triệu vào bái kiến, ông Vương hỏi:
–  Nếu Thiên tử hỏi ngài cai trị đất Bắc Hải như thế nào mà không có trộm cướp thì ngài trả lời như thế nào?

Thái thú đáp:
–  Chọn và cất nhắc đúng người tài, ai cũng dùng đúng năng lực của họ, thưởng những người giỏi, phạt những người kém.

Ông Vương nói:
–  Đáp như thế là tự đề cao, tự khoe công, không nên. Ngài cứ đáp: “Đó không phải là công sức của hạ thần, mà là nhờ thần linh uy vũ của Bệ hạ đã cảm hóa được lòng dân.”

–  Được! Phải đấy!

Khi Thái thú được triệu vào, đến quỳ dưới điện có chiếu hỏi:
–  Nhà ngươi cai trị đất Bắc Hải như thế nào mà trộm cướp không nổi lên?

Thái thú dập đầu, y lời đáp:
–  Khải tấu Bệ hạ, đó không phải là công sức của hạ thần, mà là nhờ thần linh uy vũ của Bệ hạ đã cảm hóa được lòng dân.

Vũ Đế cả cười, nói:
–  Ối chao! ông làm sao có được lời nói của bậc trưởng giả mà trình bày như vậy? Ai bày cho ông đấy?

Thái thú thật thà đáp:
–  Khải tấu Bệ hạ, hạ thần học từ người coi việc văn thư.

Nhà vua hỏi:
–  Ông ta nay ở đâu?

–  Thưa Bệ hạ, ông ta đang ở ngoài cửa cung.

Nhà vua cho gọi vào, thăng cấp cho cả hai ông.

Trích Sử ký của Tư Mã Thiên

Suy đoán: ông Vương mua chuộc, dọ hỏi quan chỉ huy vệ binh nên biết trước nhà vua thường hỏi những câu gì. (BT)

Tây Môn Báo

Thời Ngụy Văn Hầu[1], Tây Môn Báo làm huyện lệnh ở Ấp Nghiệp. Báo đến Ấp Nghiệp gặp các trưởng lão hỏi dân tình khổ sở vì điều gì.

Các vị trưởng lão nói:
–  Khổ vì chuyện Hà Bá lấy vợ nên dân nghèo.

Báo hỏi tại sao.

Họ đáp:
–  Quan tam lão[2] và những người thuộc lại mỗi năm thu thuế trăm họ được mấy trăm vạn, lấy ra hai ba mươi vạn để cưới vợ cho Hà Bá. Còn bao nhiêu thì giao cho ông đồng bà cốt chia nhau mang về. Đến lúc ấy, bọn bà cốt đi thấy nhà nào có con gái đẹp thì nói nên gả cho Hà Bá và đem đồ sính lễ đến cưới. Họ tắm rửa cho cô ta xong, lấy the lụa mặc cho cô ta, cho ở một mình, ăn chay, dựng nhà trai cung ở trên bờ sông Hoàng Hà, bày cờ đỏ màn the, cho người con gái sống ở trong cung. Cô ta có đủ thịt bò, rượu, cơm. Làm như thế hơn mười ngày. Sau đó lại đánh phấn tô điểm cho cô ta, chuẩn bị giường chiếu như cô dâu thật, để cô gái trên giường cho trôi ở trên Hoàng Hà. Lúc đầu còn trôi ở trên mặt nước, đi được mấy dặm rồi mới chìm. Nhà nào có con gái đẹp cũng rất sợ ông đồng bà cốt bắt gả cho Hà Bá. Cho nên nhiều người mang con gái trốn đi nơi xa. Vì thế trong thành vắng tanh không người, lại càng đói kém. Tục này đã có từ lâu. Dân gian có câu tục ngữ tương truyền: “Nếu không lấy vợ tho Hà Bá thì nước dâng lên chết hết dân.”

Tây Môn Báo nói:
–  Khi nào Hà Bá lấy vợ, xin cụ tam lão, các ông đồng bà cốt, các phụ lão tiễn người con gái trên Hoàng Hà đến nói với tôi; tôi cũng muốn tiễn cô ta.

Họ đều nói:
–  Dạ.

Đến hôm ấy, Tây Môn Báo đến họp trên Hoàng Hà. Cụ tam lão, các thuộc lại, những người tai mắt, các bô lão trong làng nhân dân đến xem hai ba nghìn người. Bà cốt là một bà già, tuổi đã bảy mươi. Bọn con gái làm đệ tử theo bà đến mười người. Tất cả đều mặc áo the mỏng đứng đằng sau bà cốt chính.

Tây Môn Báo nói:
–  Gọi người vợ Hà Bá đến đây xem xấu đẹp thế nào!

Người ta dẫn đến người con gái ở trong màn ra trước mặt Báo. Báo nhìn người ấy, đoạn quay lại bảo tam lão, ông đồng bà cốt:
–  Người con gái này không đẹp. Phiền bà cốt xuống sông báo với Hà Bá khi nào tìm được người đẹp để thay sẽ đưa dâu.

Liền sai thuộc hạ và quân lính ôm bà cốt già ném xuống Hoàng Hà.

Một lát sau, Báo lại nói:
–  Bà cốt già sao đi lâu thế? Các đệ tử phải giục bà ấy đi!

Lại sai ném một người đệ tử xuống sông.

Một lúc sau, Báo lại nói:

–  Đệ tử sao lâu về thế? Phải sai một người nữa đi giục họ về.

Lại ném một đệ tử xuống sông nữa.

Tây Môn Báo lại nói:
–  Bà cốt già và đệ tử đều là đàn bà con gái, không thể trình bày công việc được. Xin phiền vị tam lão xuống trình bày đầu đuôi.

Lại sai ném tam lão xuống sông Hoàng Hà. Tây Môn Báo cắm bút lên đầu làm ra vẻ cung kính quay về phía sông một hồi lâu. Các vị trưởng lão và thuộc lại đứng bên cạnh đều khiếp vía.

Tây Môn Báo quay lại nói:
–  Bà cốt già, tam lão không về! Bây giờ làm thế nào?

Muốn sai một người thuộc lại và một người trưởng lão xuống giục.

Hai người này đập đầu van xin, đầu muốn vỡ, máu chảy lênh láng trên đất, sắc mặt xám như tro nguội.

Tây Môn Báo nói:
–  Được, ta hãy đợi một chút.

Một lát sau, Tây Môn Báo bảo:
–  Ông lại đứng đây, Hà Bá giữ khách như thế lâu rồi. Cho tất cả về nhà.

Thuộc lại và dân chúng Ấp Nghiệp đều hoảng sợ. Từ đó về sau không ai dám nói đến việc Hà Bá lấy vợ nữa. Tây Môn Báo sai dân đào mười hai con ngòi để đem nước sông Hoàng vào tưới ruộng của dân, ruộng đều đầy nước. Lúc bấy giờ dân chúng đào ngòi rất khổ cực, không muốn làm.

Báo nói:
–  Dân chúng có thể vui thích khi việc đã thành, nhưng không thể cùng họ lo toan khi bắt đầu làm. Nay các cụ và con em tuy lo lắng, khổ sở vì ta, nhưng một trăm năm sau thế nào con cháu của các cụ cũng sẽ nhớ đến lời ta.

Đến nay, nhờ được thủy lợi, nhân dân đều được no đủ, giàu có. Mười hai con ngòi chạy thẳng, cắt mất đường của xe. Đến khi nhà Hán lên, quan lại cho rằng cầu của mười hai cái ngòi chắn mất đường đi, các ngòi lại gần nhau không tiện, muốn hợp các ngòi lại, ở trên đường cái, gộp ba ngòi làm một cầu. Nhân dân và các phụ lão đất Nghiệp không chịu nghe quan lại, cho rằng đó là điều Tây Môn Báo đã làm. Phép tắc của người hiền không thể thay đổi được. Rút cục quan lại phải nghe theo, gác việc ấy lại. Tây Môn Báo làm huyện lệnh đất Nghiệp nổi tiếng trong thiên hạ, ơn đức lưu lại đời sau không khi nào hết. Chẳng phải là một vị đại hiền sao?

Truyện nói: “Tử Sản cai trị đất Trịnh, dân không thể dối. Tử Tiện cai trị đất Đan Phụ, dân không nỡ dối. Tây Môn Báo cai trị đất Nghiệp, dân không dám dối.” Tài năng của ba người này ai giỏi hơn? Người nào biết phân tích đạo trị người thì mới biết điều đó[3].

Trích Sử ký của Tư Mã Thiên

[1] Ngụy Văn Hầu: (trị vì: 403 TCN đến 387 TCN hoặc 403 TCN đến 396 TCN) là vị quân chủ khai quốc của nước Ngụy.

[2] Chức quan ngày xưa coi việc giáo huấn trong làng.

[3] Ý nói: Tử Sản thông minh không ai dối được; Tử Tiện được dân yêu không ai nỡ dối; dân sợ Tây Môn Báo không ai dám dối.

Những chiến sĩ nhân đạo

Có lần một sư đoàn quân đội Nhật tập trận, vài sĩ quan thấy cần phải đặt bộ chỉ huy trong thiền viện của Gasan.

Gasan bảo nhà bếp: “Dọn cho các sĩ quan cùng một món mà chúng ta thường ăn.”

Điều này làm cho đám sĩ quan tức giận vì họ thường được hưởng ưu đãi. Một người đến gặp Gasan và nói: “Ông nghĩ chúng tôi là ai? Chúng tôi là chiến sĩ, hy sinh mạng sống cho quốc gia. Tại sao ông không đối đãi với chúng tôi đúng cách?”

Gasan nghiêm trọng trả lời: “Ông nghĩ chúng tôi là ai? Chúng tôi là chiến sĩ nhân đạo, cốt cứu được tất cả chúng sinh.”

Theo đuổi khát vọng

Tôi có một người bạn tên Monty Robert, hiện là chủ nhân một trại nuôi ngựa ở San Ysidro. Anh đã cho phép tôi dùng nhà của anh để tổ chức những buổi gây quỹ nhằm tài trợ cho các dự án đầu tư có tính rủi ro cao do thanh niên thực hiện.

Một hôm, anh đến ngồi cạnh tôi và nói:

–  Tôi muốn kể cho bạn biết tại sao tôi để bạn sử dụng nhà của tôi để làm nơi tổ chức gây quỹ. Chuyện xảy ra cách đây nhiều năm. Có một cậu bé sống cùng với cha của mình, một người làm nghề huấn luyện ngựa. Do công việc, người cha phải sống như một kẻ du mục. Ông đi từ trang trại này đến trang trại khác để huấn luyện các chú ngựa chưa được thuần hóa. Kết quả là việc học hành của cậu bé không được ổn định lắm. Một hôm, thầy giáo bảo cậu bé về viết một bài luận văn với đề tài “Lớn lên em muốn làm nghề gì?” Đêm đó, cậu bé đã viết 7 trang giấy mô tả khát vọng ngày nào đó sẽ làm chủ một trang trại nuôi ngựa.

Em diễn đạt ước mơ của mình thật chi tiết. Thậm chí em còn vẽ cả sơ đồ trại nuôi ngựa tương lai với diện tích khoảng 200 mẫu, trong đó em chỉ rõ chỗ nào xây nhà, chỗ nào đặt làm đường chạy cho ngựa. Viết xong, cậu bé đem bài nộp thầy giáo. Vài ngày sau, cậu bé nhận lại bài làm của mình với một điểm 1 to tướng và một dòng bút phê đỏ chói của thầy “Đến gặp tôi sau giờ học.”

Thế là cuối giờ cậu bé đến gặp thầy và hỏi:
–  Thưa thầy, tại sao em lại bị điểm 1?

–  Em đã hoạch định một việc mà em không thể làm được. Ước mơ của em không có cơ sở thực tế. Em không có tiền thân lại xuất thân từ một gia đình không có chỗ ở ổn định. Nói chung, em không được một nguồn lực khả dĩ nào để thực hiện những dự tính của mình. Em có biết để làm chủ một trại nuôi ngựa thì cần phải có rất nhiều tiền không? Bây giờ tôi cho em về làm lại bài văn. Nếu em sửa chữa cho nó thực tế hơn thì tôi sẽ cứu xét đến điểm số của em. Rõ chưa?

Hôm đó, cậu bé về nhà và nghĩ ngợi mãi. Cuối cùng cậu gặp cha để hỏi ý kiến.

–  Con yêu, chính con phải quyết định vì ba nghĩ đây là ước mơ của con.

Nghe cha đáp, cậu bẻ liền nhoẻn miệng cười và sau đó đến gặp thầy giáo của mình:
–  Thưa thầy, thầy có thể giữ điểm 1 của thầy, còn em xin được giữ ước mơ của mình.

Kể đến đây Monty dừng lại và hỏi tôi:

–  Bạn có biết bạn đang ngồi trong một trại ngựa rộng 200 mẫu của cậu bé trong câu chuyện mà tôi vừa kể không? Cách đây hai năm, vị thầy giáo đó đã tình cờ dẫn 30 học trò của ông đến đây để cắm trại. Thế là thầy trò tôi nhận ra nhau. Cầm tay tôi, thầy nói: “Monty này, khi anh còn học với tôi, tôi đã đánh cắp ước mơ của anh, và suốt bao nhiêu năm qua tôi cũng đã làm thế với bao đứa trẻ khác, tôi rất ân hận về điều đó.” Nghe thầy nói thế, tôi vội đáp: “Không, thưa thầy, thầy không có lỗi gì cả, chẳng qua thầy chỉ muốn những gì tốt đẹp sẽ đến với học trò của mình mà thôi. Còn em chỉ muốn theo đuổi tới cùng những khát vọng của đời mình.”

Người thợ đóng thùng

Các thiền sư hay chỉ dẫn cho từng cá nhân trong một căn phòng cô tịch; không ai được vào khi thầy và môn sinh đang ở cùng nhau.

Mokurai, thiền sư ở chùa Kennin tại Kyoto, thường ưa thích chuyện trò với các nhà buôn và nhà báo cũng như với các môn sinh của ông. Một người thợ đóng thùng nọ gần như thất học. Ông ta hay hỏi Mokurai những câu điên rồ, uống nước trà, rồi bỏ đi.

Một hôm khi người thợ đóng thùng ở đó, Mokurai muốn chỉ dẫn riêng tư cho một đệ tử, cho nên ông yêu cầu người thợ đóng thùng đợi ở một căn phòng khác.

“Tôi biết ông là một vị Phật sống,” ông thợ phản đối. “Ngay cả các tượng Phật bằng đá trong chùa cũng không bao giờ từ chối nhiều người cùng đến trước mặt các pho tượng đó. Thế thì tại sao tôi lại bị đuổi ra?”

Mokurai phải đi ra bên ngoài để gặp các đệ tử của ông.

Hạnh phúc vô biên

Hai người đàn ông đều bệnh nặng, được xếp chung một phòng tại bệnh viện. Một người được phép ngồi dậy mỗi ngày một tiếng để thông phổi. Giường ông ta nằm cạnh cửa sổ duy nhất trong phòng, người kia phải nằm suốt ngày. Hai người nói chuyện với nhau rất nhiều. Họ nói về vợ con, gia đình, nhà cửa công việc, những năm tháng trong quân đội và cả những kỳ nghỉ đã trải qua.

Mỗi chiều khi được ngồi dậy, người đàn ông cạnh cửa sổ dành hết thời gian để tả cho người bạn cùng phòng nghe những gì ông thấy được ngoài cửa sổ. Người kia, mỗi chiều lại chờ đợi được sống trong cái khoảnh khắc một tiếng đó – khoảnh khắc mà thế giới của người đó mở ra sống động bởi những hoạt động và màu sắc bên ngoài. Cửa sổ nhìn ra một công viên với một cái hồ nhỏ xinh xắn. Vịt, ngỗng đùa giỡn trên mặt hồ trong khi bọn trẻ thả những chiếc thuyền giấy. Những cặp tình nhân tay trong tay nhau đi dạo giữa ngàn hoa và ráng chiều rực rỡ. Những cây cổ thụ sum suê tỏa bóng mát, và xa xa là đường chân trời của thành phố ẩn hiện. Khi người đàn ông bên cửa sổ mô tả bằng lời những chi tiết tinh tế, người kia có thể nhắm mắt và tưởng tượng ra cho riêng mình một bức tranh sống động. Một chiều, người đàn ông bên cửa sổ mô tả một đoàn diễu hành đi ngang qua. Dù không nghe được tiếng nhạc, người kia vẫn như nhìn thấy được trong tưởng tượng qua lời kể của người bạn cùng phòng.

Ngày và đêm trôi dần….

Một buổi sáng, khi mang nước đến phòng cho họ, cô y tá phát hiện người đàn ông bên cửa sổ đã qua đời êm ái trong giấc ngủ. Cô báo cho người nhà đến mang ông đi. Một ngày kia, người đàn ông còn lại yêu cầu được chuyển đến bên cạnh cửa sổ. Cô y ta đồng ý để ông được yên tĩnh một mình. Chậm chạp gắng sức, ông nhổm dậy bằng hai cùi chỏ và ngắm nhìn thế giới bên ngoài. Ông căng thẳng nhìn ra cửa sổ. Đối diện ông chỉ là một bức tường xám xịt.

Ông hỏi cô y tá điều gì khiến người bạn khốn khổ cùng phòng của ông đã mô tả cho ông nghe những điều tuyệt diệu qua cửa sổ. Cô y tá cho biết rằng người đàn ông đó bị mù và thậm chí ông ta cũng không thấy được bức tường nữa. Cô nói: “Nhưng ông ấy muốn khuyến khích ông can đảm lên.”

Mẩu bánh mỳ

Một lần trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai, có hai người tù Do Thái trốn khỏi trại tập trung Đức Quốc xã, họ chạy thục mạng và quyết định chia làm hai ngả…

Người tù già hơn nắm chặt tay người tù trẻ, ông đắn đo một lúc rồi nói “Này cháu, ta chỉ có một mẩu bánh mỳ, cháu hãy cầm lấy, ta già rồi, chịu đói được lâu hơn cháu… Nhưng cháu hãy hứa với ta rằng: chỉ khi nào cháu không còn cách nào, không còn một cách nào khác để có cái ăn thì cháu mới giở miếng bánh này ra… Trong rừng có nhiều thứ ăn được, nếu đến chỗ có dân cháu có thể làm thuê kiếm miếng ăn… Đường từ đây về nhà còn xa lắm, và nếu trong túi vẫn còn một miếng bánh thì cháu vẫn còn có thể chịu đựng được mọi gian truân…”

Người tù trẻ cảm động, hứa với ông già, nắm chặt lấy mẩu bánh mỳ rồi lao đầu chạy…

Ròng rã bao nhiêu ngày đêm anh nhằm hướng quê nhà mà chạy, khi thì phải lẩn lút trong rừng, khi thì băng cánh đồng. Anh hái quả rừng, lội suối tìm cá, khi gặp những người chăn cừu anh bẻ củi đến cho họ để nhận một bát sữa, hay một miếng thịt cừu thơm lừng…

Có lúc anh tưởng chừng không còn cách nào khác để có một miếng ăn. Tránh né quân Đức, anh lẩn lút vòng qua đầm lầy trong cái nóng hầm hập, xung quanh chỉ một màu xám xịt của lau sậy… Không biết bao nhiêu lần anh rút mẩu bánh mỳ đã khô cứng như đá ra khỏi túi, anh ngắm cái gói nhỏ gói bằng một miếng vải thô, quấn thật chặt và buộc bằng một sợi dây gai thắt nút, cái gói chỉ bằng nửa miếng xà phòng, chắc mẩu bánh mỳ còn bé hơn, song anh vẫn nuốt nước miếng, nghĩ đến vị bột ngọt ngào trên đầu lưỡi, chắc là có chút ẩm mốc… anh nhìn trừng trừng cái gói nhỏ rồi lại đút vào túi, bởi anh kinh hoàng nghĩ đến ngày mai, túi rỗng không mà đường thì còn xa lắc. Cứ thế anh đi ròng rã và cuối cùng cũng đến cái ngày anh ngã nhào vào tay người thân…

Sau những phút vui sướng khóc cười, anh vùng dậy, rút ra cái gói nhỏ đã bẩn thỉu hôi hám song vẫn được quấn rất chặt, anh nói: “Mẹ ơi, nhờ mẩu bánh này đây mà con thoát chết trở về…”

Anh cảm động gỡ nút dây, mở lần vải bọc và sững sờ: đó chỉ là một miếng gỗ được gọt đẽo vuông vức như một mẩu bánh mỳ!

Người cưỡi ngựa

Đó là một đêm lạnh cóng ở phía Bắc bang Virginia nhiều năm về trước.

Sương xuống lạnh khủng khiếp nhưng vẫn có một cụ già đứng bên đường chờ có người cho quá giang. Không biết cụ đã đợi từ bao giờ và sẽ phải đợi thêm bao lâu nữa, nhưng cụ vẫn run rẩy đứng đó, kiên nhẫn chờ đợi. Có rất nhiều người cưỡi ngựa đi qua nhưng ông cụ lặng im không vẫy họ. Thậm chí cụ cũng không làm gì để gây chú ý. Từng người, từng người qua chỗ cụ đứng nhưng cụ vẫn như một bức tượng đá. Đêm khuya dần, trời càng lạnh và người qua lại thưa thớt dần.

Bỗng ông cụ đứng bật dậy khi có tiếng vó ngựa lại gần:
–  Con trai, liệu con có thể cho ta đi nhờ một đoạn đường không? Đoạn này nhiều tuyết quá, ta không đi nổi nữa…

Người cưỡi ngựa ghìm cương, nhảy xuống đỡ ông cụ lên ngựa. Anh ta không chỉ cho ông cụ “đi nhờ một đoạn đường” mà còn đưa ông ấy về tận nhà.

Trước khi ông cụ vào nhà, người cưỡi ngựa tò mò hỏi:
–  Ông ạ, con nghĩ ông đứng đó lâu rồi, tại sao ông không đi nhờ sớm hơn? Đường này nhiều người qua lại lắm cơ mà! Tại sao ông cứ đứng chờ trong khi trời tối và lạnh như vậy?

Ông cụ nhìn vào mắt người cưỡi ngựa, trả lời:
–  Anh con trai, ta ở vùng này lâu rồi. Ta có thể nhìn vào mắt một người và phán đoán được về người đó. Khi những người cưỡi ngựa trước đi qua, họ liếc nhìn thấy ta rồi đi tiếp ngay. Trong ánh mắt đó không hề có mối quan tâm hay tình cảm, nên ta nghĩ dù ta có vẫy họ thì họ cũng chẳng để ý đâu. Nhưng khi con đi tới, từ đằng xa, con đã nhìn ta và không rời mắt khỏi ta. Trong ánh mắt đó, ta nhìn thấy sự cảm thương và lo lắng. Và ngay lúc đó, ta biết con muốn giúp đỡ ta.

Những lời đó thật sự làm người cưỡi ngựa cảm động:
–  Con rất cảm ơn ông đã nói những lời đó. Hy vọng con sẽ không bao giờ quá bận rộn đến mức không nhìn thấy những người khác khi họ cần giúp đỡ…

Và ngay lúc đó, Thomas Jefferson quay ngựa lại Nhà Trắng.

Thomas Jefferson là Tổng thống thứ ba của Mỹ, người đã soạn bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776.

Năm phút trong cuộc sống

Trong công viên, một người phụ nữ ngồi gần một người đàn ông trên băng ghế gần sân chơi cho trẻ em.

Người phụ nữ chỉ tay về phía cậu bé mặc áo len đỏ đang chơi cầu trượt: “Con trai tôi đó.”

Người đàn ông đáp lời: “Nó trông khoẻ mạnh quá! Còn con trai của tôi là đứa mặc áo len màu xanh ấy.” Nói rồi, ông ta nhìn đồng hồ và nói với theo cậu con trai: “Về thôi, Todd.”

Cậu bé tên Todd quay nhìn bố nài nỉ: “Năm phút nũa thôi mà bố, chỉ năm phút nữa thôi.”

Người đàn ông khẽ gật đầu và cậu bé lại tiếp tục chạy nhảy với vẻ rất vui sướng. Năm phút trôi qua, người cha đứng dậy và nói: “Sao? Bây giờ chúng ta về được chưa con?”

Todd lại nài nỉ một lần nữa: “Bố, năm phút nữa, chỉ năm phút nữa thôi!”

Người đàn ông lại mỉm cười và nói: “Được rồi!”

Người phụ nữ thấy vậy bèn thốt lên: “Ông thật là một người cha kiên nhẫn!”

Người đàn ông cười và chậm rãi nói: “Con trai cả Tommy của tôi bị một kẻ lái xe say rượu đụng chết năm ngoái trong khi nó đang chạy xe đạp gần đây. Tôi chưa bao giờ dành nhiều thời gian cho Tommy và bây giờ tôi có thể đánh đổi bất cứ thứ gì để có thể ở bên nó dù chỉ năm phút. Tôi nguyện rằng sẽ không bao giờ lặp lại lỗi lầm đó với Todd. Todd nghĩ nó có năm phút để chơi đùa. Nhưng sự thật là tôi đã có thêm năm phút nữa để nhìn nó chơi đùa.”

Sử dụng thời giờ

Một kỹ sư tính được rằng với một thanh thép nặng 5kg, chúng ta có thể làm được một trong các việc sau đây:

* Nếu làm đinh sẽ bán được 10 USD.
* Nếu làm kim may sẽ bán được 300 USD.
* Còn nếu dùng làm những cái lò xo đồng hồ sẽ đem lại 25.000 USD

Mỗi ngày đều cho chúng ta 24 giờ bằng nhau, còn sử dụng những nguyên liệu đó như thế nào, dùng chúng để làm gì là tùy thuộc vào chúng ta.

Ðường lầy

Hai thiền sư có việc phải hạ sơn. Trên đường đi, hai huynh đệ thấy một thiếu nữ xinh xắn, ăn vận đẹp đẽ, đang đứng phân vân bên vệ đường. Chả là cô nàng muốn đi ăn cỗ cho sớm sủa mà lại bị một vũng nước to ngang đường chẹn mất lối đi.

Vị thiền sư trẻ tuổi liền tỏ ý giúp và bế cô qua quãng đường lầy. Sau lời cám ơn, đường ai nấy đi.

Buổi chiều, vừa về đến cổng tu viện, vị thiền sư lớn tuổi đã khều tay bạn hỏi một cách bực dọc:
–  Này chú… tại sao hồi sáng chú cả gan bế một thiếu nữ xinh đẹp thế kia qua vũng bùn mà không sợ ô nhiễm đến giới thể hử?

Vị thiền sư trẻ tuổi ngạc nhiên:
–  Ô hay! Đệ đã đặt cô nàng xuống bên kia vệ đường rồi cơ mà! Sao sư huynh còn cõng cô ta về tận nơi đây?

Chiếc vòng kỳ diệu

Một ngày nọ, vua Salomon muốn làm bẽ mặt Benaiah, một cận thần thân tín của mình. Vua bèn nói với ông: “Benaiah này, ta muốn ông mang về cho ta một chiếc vòng kỳ diệu để đeo trong ngày lễ và ta cho ông sáu tháng để tìm chiếc vòng đó.”

Benaiah trả lời: “Thưa đức vua, nếu có một thứ gì đó tồn tại trên đời này, tôi sẽ tìm thấy nó và mang về cho ngài, nhưng chiếc vòng ấy phải kỳ diệu như thế nào?”

Nhà vua đáp: “Nó có sức mạnh kỳ diệu ở chỗ: Nếu kẻ nào đang vui nhìn vào nó sẽ thấy buồn, còn nếu ai đang buồn nhìn vào nó sẽ thấy vui.” Vua Salomon biết rằng sẽ không đời nào có một chiếc vòng như thế tồn tại trên thế gian này, nhưng ông muốn cho người cận thần của mình nếm một chút bẽ bàng.

Mùa xuân trôi qua, mùa hạ đến nhưng Benaiah vẫn chưa có một ý tưởng nào để tìm ra một chiếc vòng như thế.

Vào đêm trước ngày lễ, ông quyết định lang thang đến một trong những nơi nghèo nhất của Jerusalem. Ông đi ngang qua một người bán hàng rong đang bày những món hàng trên một tấm bạt tồi tàn. Benaiah dừng chân lại hỏi: “Có bao giờ ông nghe nói về một chiếc vòng kỳ diệu làm cho người hạnh phúc đeo nó quên đi niềm vui sướng và người đau khổ đeo nó quên đi nỗi buồn không?”

Người bán hàng lấy từ tấm bạt lên một chiếc vòng giản dị có khắc một dòng chữ. Khi Benaiah đọc dòng chữ trên chiếc vòng đó, khuôn mặt ông rạng ngời một nụ cười.

Đêm đó, toàn thành phố hân hoan, tưng bừng đón mùa lễ hội.

Vua Salomon hỏi: “Nào, ông bạn của ta, ông tìm thấy điều ta yêu cầu chưa?”

Tất cả cận thần có mặt đều cười lớn và cả chính vua Salomon cũng cười.

Trước sự ngạc nhiên của mọi người, Benaiah đưa chiếc vòng ra và nói: “Nó đây, thưa đức vua.”

Khi vua Salomon đọc dòng chữ, nụ cười biến mất trên khuôn mặt vua.

Trên chiếc vòng có khắc dòng chữ: Điều đó rồi cũng qua đi.

Vào chính giây phút ấy, vua Salomon nhận ra rằng tất thảy những sự khôn ngoan, vương giả và quyền uy của ông đều là phù du, bởi vì một ngày nào đó ông chỉ là cát bụi…

Lý do cho một tình yêu

Một cô gái hỏi người yêu của mình:

–  Tại sao anh yêu em?

–  Sao em lại hỏi như thế? Làm sao anh tìm được lý do chứ! – Chàng trai trả lời.

–  Không có lý do gì tức là anh không yêu em!

–  Em không thể suy diễn như vậy được.

–  Nhưng bạn trai của bạn em luôn nói cho cô ấy biết những lý do mà anh ta yêu cô ấy.

–  Thôi được, anh yêu em vì em xinh đẹp, giỏi giang, nhanh nhẹn. Anh yêu em vì nụ cười của em, vì em lạc quan. Anh yêu em vì em quan tâm đến người khác.

Cô gái cảm thấy rất hài lòng.

Vài tuần sau, cô gái gặp một tai nạn khủng khiếp nhưng thật may, cô ấy vẫn còn sống. Bỗng nhiên cô trở nên cáu kỉnh vì cảm thấy mình vô dụng. Vài ngày sau khi bình phục, cô gái nhận được một lá thư từ bạn trai của mình:

     Em yêu!
Anh đã yêu em vì em xinh đẹp. Thế thì với vết sẹo trên mặt, bây giờ anh không thể yêu em được nữa.
Anh đã yêu em vì em giỏi giang, nhưng bây giờ em có làm được việc gì đâu! Vậy thì anh không thể yêu em được.
Anh đã yêu em vì em nhanh nhẹn, nhưng thực tế là em đang ngồi trên xe lăn. Đây không phải là lý do để anh yêu em.
Anh đã yêu em vì nụ cười của em, nhưng cả tháng nay rồi anh chẳng thấy em cười. Anh có nên yêu em nữa không?
Anh đã yêu em vì em lạc quan. Bây giờ anh không yêu em nữa vì lúc nào em cũng nhăn nhó, than vãn.
Anh đã yêu em vì em quan tâm đến người khác, nhưng giờ đây mọi người lại phải quan tâm đến em quá nhiều. Anh không nên yêu em nữa.
Đấy, em chẳng có lý do gì khiến anh phải yêu em, vậy mà anh vẫn yêu em. Em có cần một lý do nào nữa không, em yêu?

Cô gái bật khóc và chắc chắn cô không cần biết một lý do nào nữa.

Bài kiểm tra nhớ đời

Khi tôi đang còn học năm thứ hai trường nữ hộ sinh, một ngày nọ, vị giáo sư già cho chúng tôi làm bài kiểm tra. Việc đầu tiên của tôi là lướt mắt qua toàn bộ các câu hỏi. Không có câu nào quá khó, vì tôi vốn là cô học trò thông minh! Duy chỉ có câu hỏi cuối cùng làm tôi bật ngửa người: Hãy cho biết tên của bà lao công trong trường ta.

Trời đất ạ! Bà lao công thì có liên quan gì tới chuyện đỡ đẻ và chăm sóc sản phụ kia chứ? Ngày nào tôi chẳng gặp bà! Bà ấy già lắm rồi, chẳng biết là 60 hay đã 70 tuổi. Mặt nhăn nheo, dáng vẻ khắc khổ, bà hầu như không bao giờ nói tiếng nào, suốt ngày chỉ cắm cúi cầm giẻ, cầm chổi lau nhà. Nhiều khi cả bọn chúng tôi vừa bô bô tán chuyện vừa đi trên hành lang, không thèm tránh lối cho bà lão đang còng lưng lau sàn nhà. Trông bà lão vội vàng né sang một bên, có lúc lòng tôi cũng cảm thấy hơi nao nao. Một lần nọ, mải chạy, một cô bạn tôi vấp té đánh đổ bịch sữa đang uống dở ra sàn. Bà lão tội nghiệp vội lắp bắp: “Các cô để đấy cho già. Các cô vội, cứ làm việc của mình đi. Đây là việc của già mà!”

Chỉ có thế thôi thì làm sao tôi biết họ và tên của bà? Mà có biết cũng chẳng để làm gì. Bà ấy chẳng qua chỉ như cái bóng âm thầm bên lề cuộc sống sôi động đang cuốn hút lũ sinh viên ồn ào chúng tôi. Tôi quyết định để trống câu trả lời. Cũng không có gì là quan trọng. Miễn tôi trả lời xuất sắc những câu hỏi liên quan tới chuyên môn là được.

Vài ngày sau, vị giáo sư trả lại bài kiểm tra. Ông chậm rãi nói: “Đa số các em đều viết được. Nhưng tôi lo ngại rằng nếu cứ cái đà này, khi tốt nghiệp lớp ta sẽ cho ra trường toàn là những… người máy. Đó sẽ là một thảm họa!”

Phía dưới, lũ học trò chúng tôi lao xao, không hiểu thầy muốn nói gì.

“Nghề của các em là chăm sóc, giúp đỡ phụ nữ trong những giờ phút đau đớn nhất và cũng là hạnh phúc nhất trong đời. Các em là thiên thần hộ mệnh cho những sinh linh mới. Nỗi đau của họ cũng phải là nỗi đau của chính các em. Nghề nghiệp của các em cần những con người nhạy cảm, biết quan tâm, nâng đỡ số phận của mọi người, dù họ là mệnh phụ phu nhân, một ngôi sao hay chỉ là một bà quét rác. Một bà lão cần mẫn phục vụ các em năm này qua năm khác mà các em cũng không thèm biết tên, không biết hoàn cảnh của bà ấy là một điều đáng để các em cần suy nghĩ. Vì thế, thầy cho rằng toàn bộ số bài kiểm tra của lớp ta đều không đạt yêu cầu.”

Một bài học nhớ đời đối với tôi! Sau này, tôi dò hỏi và biết được tên của bà lão. Bà đã làm việc ở đây gần nửa thế kỷ, từ lúc còn con gái. Hai người con trai của bà đã hy sinh trong chiến tranh. Bà ấy có quyền nghỉ hưu nhưng vẫn xin ở lại làm việc không lương.

Bay cạnh một thổ dân

Chuyện xảy ra vào thời nạn kỳ thị chủng tộc ở Nam Phi còn nặng nề.

Trên chuyến bay của hãng British Airways (Hàng không Anh) từ thủ đô Johannesburg của Nam Phi, một người đàn bà Nam Phi da trắng ăn mặc sang trọng tìm thấy chỗ ngồi của mình cạnh một người da đen. Bà ta gọi tiếp viên lại để phàn nàn về chỗ ngồi.

Cô tiếp viên hỏi: “Có vấn đề gì vậy, thưa bà?”

Bà ta trả lời: “Cô không thấy à? Các cô đã xếp tôi ngồi cạnh một thổ dân. Tôi không thể ngồi cạnh một người khác biệt như vậy được. Hãy tìm cho tôi một chỗ khác.”

Cô tiếp viên trả lời: “Xin bà bình tĩnh. Chuyến bay hôm nay rất đông khách, nhưng tôi sẽ đi kiểm tra xem còn chỗ nào ở khu vực hạng nhì hoặc hạng nhất không.”

Người đàn bà ném một cái nhìn khinh miệt về phía người đàn ông da đen bị xúc phạm và cả những hành khách khác đang có mặt trên chuyến bay.

Một vài phút sau, cô tiếp viên quay lại với một tin vui. Người đàn bà mỉm cười tự mãn với những người xung quanh.

“Thật không may, thưa bà. Như tôi đã đoán trước, khoang hạng thường đã hết chỗ. Tôi đã nói với tiếp viên trưởng nhưng khu vực hạng nhì cũng hết chỗ. Chúng tôi chỉ còn một chỗ duy nhất tại khoang hạng nhất.”

Trước khi bà kia kịp trả lời, cô nói tiếp: “Việc đổi chỗ này là rất đặc biệt, vì vậy tôi phải xin phép cơ trưởng. Nhưng trong trường hợp này, cơ trưởng cảm thấy thật là xúc phạm nếu bắt ai đó phải ngồi cạnh một người quá khó chịu.”

Nói xong, cô tiếp viên quay về phía người đàn ông da đen rồi nói: “Vì vậy, nếu ông có thể thu xếp đồ đạc, chúng tôi đã chuẩn bị cho ông một chỗ tại khoang hạng nhất.”

Cơ hội

Giáo sư Vật lý nổi tiếng George Gate muốn tìm một phụ tá cho mình khi nghiên cứu lĩnh vực truyền điện tín. Ông đăng báo tuyển phụ tá.

Phòng đợi hôm ấy chật ních. Mọi người đều chọn cho mình bộ quần áo sang trọng nhất, nghiên cứu hàng chục sách về morse trước khi đến đây. Họ đều phải chờ ở phòng ngoài cho tới khi được vị giáo sư mời vào phỏng vấn. Trong khi chờ đợi, họ tán gẫu và cố thể hiện kiến thức của mình. Chỉ có một chàng trai trẻ ngồi yên lặng, chú tâm quan sát phòng làm việc của George Gate. Anh đã theo dõi sát sao những công trình nghiên cứu trước đó của vị giáo sư này và rất muốn góp sức với ông. Nhiều giờ trôi qua, cửa phòng thí nghiệm vẫn đóng im ỉm. Phòng đợi vẫn ồn ã những tiếng bàn cãi sôi nổi.

Bỗng chàng trai vẫn ngồi im lặng khi nãy khẽ mỉm cười, bật đứng dậy bước vào phòng thí nghiệm của giáo sư. Cánh cửa không hề khóa. Thoạt đầu họ nhìn chàng trai với ánh mắt thương hại vì cho rằng anh ta không đủ kiên nhẫn chờ và định xin bỏ cuộc.

Nhưng không lâu sau, tất cả mọi người đều bất ngờ khi thấy giáo sư George từ phòng thí nghiệm bước ra cùng chàng trai trẻ.

–  Xin cảm ơn mọi người đã đến đây, nhưng tôi đã tìm được trợ lý thực sự có năng lực rồi.

Vị giáo sư chỉ vào chàng trai. Mọi người hết sức bất bình trước quyết định đột ngột của giáo sư. Họ đã phải chờ đợi rất lâu, vậy mà không có một cơ hội để chứng tỏ khả năng của mình.

Giáo sư chậm rãi giải thích:

–  Các bạn đã không để ý, nhưng ngay từ khi mọi người bước vào đây, máy điện tín của tôi đã liên tục đánh một dòng thông báo bằng tín hiệu như thế này: “Nếu bạn giải mã được lời nhắn này, hãy bước vào gặp tôi.” Tôi biết mọi người ở đây đều rất giỏi nhưng chỉ có một cơ hội, và người biết tập trung vào mục tiêu chính khi đến đây đã giành được cơ hội đó.

Và chàng phụ tá trẻ đó chính là Thomas Edison, người đã góp phần làm thay đổi thời đại của chúng ta. Cơ hội là cho tất cả mọi người. Nhưng chỉ những người có đủ tập trung và nhạy bén mới đọc được thông điệp của nó.

Tình hữu nghị

Phạm Xuân Ẩn kể cho tôi nghe một câu chuyện với hy vọng có thể minh họa cho tôi về tình hữu nghị của nhân dân Mỹ có ý nghĩa nhiều đến mức nào đối với ông.

Một hôm, khi vẫn còn ở California, ông ngủ gật trên xe buýt trên đường từ Monterey đến Costa Mesa và lỡ bến đỗ. Lúc đó trời đã rất khuya. Người lái xe buýt cho biết xe sẽ không quay lại nữa. Phạm Xuân Ẩn chắc sẽ phải chờ cho chuyến xe buýt tiếp theo vào sáng ngày mai. Một phụ nữ trẻ nghe được cuộc trao đổi giữa ông với tài xế thì cảm thấy ái ngại cho Phạm Xuân Ẩn. Người phụ nữ này liền cùng xuống xe với ông để bà gọi một người bạn của gia đình đến chở Phạm Xuân Ẩn về Costa Mesa. Người phụ nữ nọ và Phạm Xuân Ẩn phải đi tìm một bốt điện thoại công cộng để gọi điện. Sau đó phải chờ gần hai giờ đồng hồ mới có xe của người bạn gia đình bà đến đón. Người phụ nữ này cũng ở lại chờ cùng với ông luôn.

Phạm Xuân Ẩn nhớ lại: “Người phụ nữ này là con gái của đại tá Thorton ở Stanford. Người bạn của gia đình bà đến đón Phạm Xuân Ẩn là ông Mendenhall, nhà ở Laguna Beach. Ông Mendenhall lái xe chở Phạm Xuân Ẩn trở về ký tức xá, trên đường đi ông cho biết ông có một người con trai làm việc trong không lực.”

Vài tuần sau, gia đình Mendenhall mời Phạm Xuân Ẩn đến nhà họ ăn cơm tối. Phạm Xuân Ẩn nhớ lại: Gia đình Mendenhall là những người ủng hộ mạnh mẽ Richard Nixon, trên tường phòng khách của gia đình treo bức ảnh lớn của Phó Tổng thống Nixon. Trong bữa ăn, Phạm Xuân Ẩn biết rằng con trai của họ đóng quân tại tổng hành dinh quân sự ở Sài Gòn. Gia đình Mendenhall muốn Phạm Xuân Ẩn khi nào trở về Sài Gòn thì đến gặp con trai họ.

Phạm Xuân Ẩn nói:

“Là một tình báo viên, tôi nghĩ rằng hoàn toàn có thể khai thác được mối quan hệ này, nhưng tôi quyết định không làm việc đó và cũng không bao giờ nói về điều đó với cấp trên của tôi. Tôi vẫn giữ im lặng bởi vì sẽ là không sòng phẳng nếu như tôi lợi dụng một người mà con gái một người bạn của người ấy lại chính là vị cứu tinh đối với tôi vào tối hôm đó. Trong lúc tôi lạnh lẽo và cô đơn, ai biết được điều gì có thể sẽ xảy ra đối với tôi đêm hôm đó. Thế mà người phụ nữ ấy đã đến cứu tôi và che chở cho tôi.”

Trích Perfect spy của Larry Berman, Nguyễn Đại Phượng dịch

Cùng nhau vượt qua bão tố

Một công ty nọ tổ chức thi tuyển nhân viên. Câu hỏi cuối cùng trong phần thi viết khiến hầu hết thí sinh ngạc nhiên. Câu hỏi như sau: Bạn đang lái xe hơi đi trong một đêm bão tố cấp 12. Xe bạn chạy qua một quãng đường vắng và bạn phát hiện thấy có 3 người đứng ven đường vẫy tay xin đi nhờ xe. Họ gồm một bà cụ đang bị bệnh nặng, một bác sĩ giỏi dư sức cứu tính mạng của bạn nếu bạn mắc bệnh hiểm nghèo, và người thứ ba là cô gái bạn yêu. Họ mong bạn cứu giúp họ, bạn rất muốn nhưng rất tiếc xe bạn chỉ có thể chở thêm được một người. Bạn sẽ chọn chở người nào? Hãy giải thích lí do của sự chọn lựa ấy.

Tới đây, chắc bạn sẽ hiểu rằng đây là một câu hỏi đánh giá nhân cách của bạn, bởi mỗi sự lựa chọn đều phản ánh quan điểm của bạn về sinh mạng con người. Bạn có thể đưa bà cụ lên xe. Mặc dù bà cụ có thể (và có lẽ là sẽ như thế) không đủ sức qua được cho tới khi bạn gặp một bệnh viện, nhưng dù sao thì cứu người vẫn là trên hết. Còn một tia hy vọng le lói vẫn phải làm.

Nhưng đứng từ góc độ hơn thiệt, có lẽ bạn sẽ chọn ông bác sĩ. Bạn cứu ông ta để ông ta cứu bạn – một hành động thiết thực có tính chất đầu tư cho tương lai. Việc chở bà cụ nói cho cùng chỉ để lương tâm của bạn khỏi bị cắn rứt.

Có thể bạn sẽ tự vấn: Tại sao lại không chở người yêu của bạn? Bà lão đã già, các bạn còn trẻ, tương lai ở phía trước. Bác sĩ giỏi trong thiên hạ cũng không phải là quá hiếm. Trong cuộc đời cơ hội gặp được người bạn đời như ý hầu như là duy nhất. Bỏ qua cơ hội cứu được người bạn yêu cũng có nghĩa là phần đời còn lại của bạn không chắc đã trôi qua trong hạnh phúc.

Trong số hơn 200 ứng viên tham gia cuộc thi tuyển, chỉ có một người duy nhất có câu trả lời được ban giám khảo nhất trí lựa chọn, cho dù thí sinh này không đưa ra lời giải thích nào cho phương án của mình. Vậy thí sinh này đã trả lời ra sao? Phương án của thí sinh này là…

“Đưa chìa khoá xe cho bác sĩ. Ông ta sẽ chở bà cụ tới bệnh viện. Tôi sẽ cùng người bạn gái của tôi lội bộ vượt qua bão tố.”

Ân đức hay tội ác?

Vào đầu thời kỳ chiến quốc (giữa thế kỷ thứ V trước Công Nguyên), người dân ở Hàm Đan (kinh đô nước Triệu) có tục: Cứ ngày mồng một đầu năm họ mang chim ban cưu đến bán cho Triệu Giản Tử.

Triệu Giản Tử vui mừng thưởng tiền bạc cho họ rất nhiều.

Có người chất vấn Giản Tử:
–  Ngài mua chim ban cưu làm gì?

chim ban cuuGiản Tử nói:
–  Ngày đầu năm ta thích phóng sinh để thể hiện cái ân đức của ta.

Người kia nói:
–  Mọi người biết ngài hay phóng sinh chim nên mới tranh nhau đi bắt chim, như vậy chim ban cưu chết vào ngày ấy rất nhiều. Nếu ngài thật muốn cho chim sống, sao không lệnh cho mọi người đừng bắt chúng? Chứ như bắt rồi mới phóng sinh e rằng ân đức này không bù đắp nổi tội ác này.

Triệu Giản Tử khen:
–  Ông nói đúng lắm!

Từ đó ông không mua chim vào ngày đầu năm nữa.

Tiệc rượu “Bứt đứt dải mũ”

Thắng trận, Sở Trang vương đời Xuân Thu truyền bày tiệc liên hoan, gọi là “Thái bình yến.” Phàm các quan văn võ bất cứ cấp nào đều được tham dự. Khi mặt trời gần lặn, tiệc rượu còn đương vui say, Sở Trang vương truyền đốt đèn lên, lại cho một nàng hầu yêu tuyệt đẹp là Hứa Cơ đi mời khắp quan triều thần, mỗi người một chén rượu.

Được mỹ nhân chuốc rượu, các quan lấy làm vui vẻ thích thú, đều đứng dậy đón lấy rượu uống. Bỗng có một ngọn gió to, bao nhiêu nến thắp ở trên điện tắt phụp cả. Điện tối mò. Bọn nội thị còn đương loay hoay đi châm lửa chưa đến. Trong hàng quan đại phu có một người trông thấy Hứa Cơ đẹp, nhân lúc tối tăm, đưa tay nắm lấy vạt áo của nàng. Hứa Cơ tay trái giằng vạt áo, tay mặt chụp được dải mũ của người ấy.

Dải mũ đứt, người ấy sợ lắm vội buông tay ra. Hứa Cơ lấy được dải mũ, rón rén đến trước Sở Trang vương, ghé tâu:
–  Thiếp vâng mạng đại vương ra mời các quan uống rượu, thế mà có người vô lễ dám nhân lúc tắt đèn, nắm lấy vạt áo thiếp. Nay thiếp bứt được cái dải mũ của người ấy, vậy xin đại vương giục thắp nến mà xét xem.

Nhưng Sở Trang vương lại truyền cho bọn nội thị chớ thắp nến vội, đoạn bảo các triều thần:
–  Ngày nay ta bày tiệc mong cùng các quan mua vui. Vậy các ngươi nên bứt đứt dải mũ cả đi, rồi cùng ta uống rượu thật say. Nếu ai không bứt đứt dải mũ thì chưa được vui lắm.

Nghe lịnh dạy, tất cả triều thần đều bứt đứt dải mũ của mình. Bấy giờ Sở Trang vương mới cho thắp đèn lại. Thành ra không ai biết người nào làm ẩu, níu lấy vạt áo mỹ nhân cả.

Tiệc xong trở về cung, Hứa Cơ tâu với Sở Trang vương:
–  Thiếp nghe nói kẻ trai gái phải có sự phân biệt, huống chi là vua tôi. Đại vương sai thiếp mời các quan uống rượu là để tỏ lòng mến, nay người ấy nắm lấy vạt áo thiếp mà đại vương không trị tội, thì còn ra thể thống gì nữa!

Sở Trang vương cười bảo:
–  Ta bày tiệc rượu này là muốn các quan đều được cùng vui. Rượu say sinh ra chớt nhả chẳng qua là lẽ thường tình. Nếu ta trị tội một người mà làm cho các quan không được vui thì ta không muốn.

Hứa Cơ nghe nói, phục vua là người có lượng.

Một ngày, Sở Trang vương đem quân đánh nước Trịnh, có một viên phó tướng tên Đường Giao xin đem 100 thủ hạ đi mở đường. Đường Giao cố sức xông pha. Quân nước Trịnh không ai đương nổi. Vì thế, đại binh của Sở Trang vương tiến thẳng đến địa giới của nước Trịnh một cách mau lẹ. Sở Trang vương thấy quân tiền bộ đi được nhanh chóng như thế, mới triệu Đường Giao đến, toan trọng thưởng.

Đường Giao thưa:
–  Tôi chịu ơn đại vương to lắm. Ngày nay gọi chút báo đền, có đâu lại dám lãnh thưởng!

Sở Trang vương ngạc nhiên hỏi:
–  Ta có biết nhà ngươi bao giờ mà nhà ngươi bảo là chịu ơn ta?

Đường Giao thưa:
–  Trong tiệc rượu có người nắm áo Hứa Cơ và bị đứt dải mũ, tức là tôi đó. Đại vương rộng lượng tha, không giết mà còn tìm cách làm tôi không phải bị nhục, vậy tôi cố sức phải báo đền.

Sở Trang vương truyền ghi công ấy để về sau phong thưởng.

Nhưng Đường Giao nói với bằng hữu:
–  Tội ta đáng chết mà đại vương không giết, vậy ta nên cố sức báo đền. Nay đã nói rõ sự thực rồi, chẳng lẽ ta là người có tội mà còn chờ đợi phong thưởng hay sao?

Ngay đêm hôm ấy, Đường Giao bỏ trốn.

Trích Đông Chu liệt quốc

Giấy chứng nhận

Trên đoàn tàu, cô soát vé hết sức xinh đẹp cứ nhìn chằm chằm vào người đàn ông lớn tuổi áng chừng là dân đi làm thuê, cộc lốc hạch sách:
–  Vé tàu!

Người đàn ông lớn tuổi lục khắp người từ trên xuống dưới một thôi một hồi, cuối cùng tìm thấy vé, nhưng cứ cầm trong tay không muốn chìa ra.

Cô soát vé liếc nhìn vào tay anh, cười trách móc:
–  Đây là vé trẻ em.

Người đàn ông đứng tuổi đỏ bằng mặt, nhỏ nhẹ đáp:
–  Vé trẻ em chẳng phải ngang giá vé người tàn tật hay sao?

Giá vé trẻ em và người tàn tật đều bằng một nửa vé, đương nhiên cô soát vé biết. Cô nhìn kỹ người đàn ông một lúc rồi hỏi:
–  Anh là người tàn tật?

–  Vâng, tôi là người tàn tật.

–  Vậy anh cho tôi xem giấy chứng nhận tàn tật.

Người đàn ông tỏ ra căng thẳng. Anh đáp:
–  Tôi… không có giấy tờ. Khi mua vé cô bán vé bảo tôi đưa giấy chứng nhận tàn tật, không biết làm thế nào, tôi đã mua vé trẻ em.

Cô soát vé cười gằn:
–  Không có giấy chứng nhận tàn tật, làm sao chứng minh được anh là người tàn tật?

Người đàn ông đứng tuổi im lặng, khe khẽ tháo giầy, rồi vén ống quần lên – Anh chỉ còn một nửa bàn chân.

Cô soát vé liếc nhìn, bảo:
–  Tôi cần xem chứng từ, tức là quyển sổ có in mấy chữ ‘Giấy chứng nhận tàn tật’, có đóng con dấu bằng thép của Hội người tàn tật!

Người đàn ông đứng tuổi có khuôn mặt quả dưa đắng, giải thích:
–  Tôi không có hộ khẩu của địa phương, người ta không cấp sổ tàn tật cho tôi. Hơn nữa, tôi làm việc trên công trường của tư nhân. Sau khi xảy ra tai nạn ông chủ bỏ chạy, tôi cũng không có tiền đến bệnh viện giám định…

Trưởng tàu nghe tin, đến hỏi tình hình.

Người đàn ông đứng tuổi một lần nữa trình bày với trưởng tàu, mình là người tàn tật, đã mua một chiếc vé có giá trị bằng vé của người tàn tật…

Trưởng tàu cũng hỏi:
–  Giấy chứng nhận tàn tật của anh đâu?

Người đàn ông đứng tuổi trả lời anh không có giấy chứng nhận tàn tật, sau đó anh cho Trưởng tàu xem nửa bàn chân của mình.

Trưởng tàu ngay đến nhìn cũng không thèm nhìn, cứ nhất quyết nói:
–  Chúng tôi chỉ xem giấy chứng nhận, không xem người. Có giấy chứng nhận tàn tật chính là người tàn tật, có giấy chứng nhận tàn tật mới được hưởng chế độ ưu đãi vé người tàn tật. Anh mau mau mua vé bổ sung.

Người đứng tuổi bỗng thẫn thờ. Anh lục khắp lượt các túi trên người và hành lý, chỉ có bốn đồng, hoàn toàn không đủ mua vé bổ sung. Anh nhăn nhó và nói với Trưởng tàu như khóc:
–  Sau khi bàn chân tôi bị máy cán đứt một nửa, không bao giờ còn đi làm được nữa. Không có tiền, ngay đến về quê cũng không về nổi. Nửa vé này cũng do bà con đồng hương góp mỗi người một ít để mua giùm, xin ông mở lượng hải hà, giơ cao đánh khẽ, nương bàn tay cao quý, tha cho tôi.

Trưởng tàu nói kiên quyết:
–  Không được.

Thừa dịp, cô soát vé nói với Trưởng tàu:
–  Bắt anh ta lên đầu tàu xúc than, coi như làm lao động nghĩa vụ.

Nghĩ một lát, Trưởng tàu đồng ý:
–  Cũng được.

Một người lão thành ngồi đối diện với người đàn ông đứng tuổi tỏ ra chướng tai gai mắt, đứng phắt lên nhìn chằm chằm vào mắt vị Trưởng tàu, hỏi:
–  Anh có phải đàn ông không?

Vị Trưởng tàu không hiểu, hỏi lại:
–  Chuyện này có liên quan gì đến tôi có là đàn ông hay không?

–  Anh hãy trả lời tôi, anh có phải đàn ông hay không?

–  Đương nhiên tôi là đàn ông!

–  Anh dùng cái gì để chứng minh anh là đàn ông? Anh đưa giấy chứng nhận đàn ông của mình cho mọi người xem xem!

Mọi người chung quanh cười rộ lên.

Thừ người ra một lát, vị Truởng tàu nói:
–  Một người đàn ông to lớn như tôi đang đứng đây, lẽ nào lại là đàn ông giả?

Người lão thành lắc lắc đầu, nói:
–  Tôi cũng giống anh chị, chỉ xem chứng từ, không xem người, có giấy chứng nhận đàn ông sẽ là đàn ông, không có giấy chứng nhận đàn ông thì không phải là đàn ông.

Vị trưởng tàu tịt ngóp, ngây người một lúc không biết ứng phó ra sao.

Cô soát vé đứng ra giải vây cho Trưởng tàu. Cô nói với người lão thành:
–  Tôi không phải đàn ông, có chuyện gì ông cứ nói với tôi.

Người lão thành chỉ vào mặt chị ta, nói thẳng thừng:
–  Cô hoàn toàn không phải là người!

Cô soát vé nổi cơn tam bành, nói the thé:
–  Ông ăn nói đàng hoàng một chút. Tôi không là người thì là gì?

Người lão thành vẫn bình tĩnh, cười ranh mãnh, ông nói:
–  Cô là người ư? Cô đưa giấy chứng nhận “ngườí” của cô ra xem nào!

Mọi hành khách chung quanh lại cười ầm lên một lần nữa.

Chỉ có một người không cười. Đó là người đàn ông trung niên bị cụt chân. Anh cứ nhìn trân trân vào hư vô, mắt đẫm lệ.

Đại hạ giá

Thời buổi này còn cái gì không hạ giá nhỉ? Sách vở, quần áo, đồ điện tử v…v… hạ giá! Tôi cầm mảnh bằng đại học cạ cục mãi chưa tìm ra việc làm, cũng nhào ra vỉa hè bán sách đại hạ giá. Từ Victor Hugo, Lev Tolstoy, Tagore, Dostoievski… đến Khái Hưng, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng… cả thảy đều bị “hạ” nằm la liệt. Lắm lúc ngồi chồm hổm nhìn xuống các tên tuổi từng “vang bóng một thời”, tôi thầm hỏi: Nên cười hay nên khóc, thưa chư liệt vị?

Cách đây ít lâu, một ông lão hình dáng tiều tụy mang đến bán hai pho sách dày. Một cuốn là “Hán Việt Từ Điển” của Đào Duy Anh do Khai Trí tái bản. Cuốn kia là “Petit Larousse Illustré” in tại Paris năm 1973. Sách còn tinh tươm lắm, hẳn chủ nhân đã xài rất kỹ. Thấy giá rẻ, tôi mua. Loại ấn bản này đây, gặp loại khách biên biết, bán cũng được lời.

Ngoài bìa và một số trang ruột của mỗi cuốn, đều có ấn dấu son hình ellipse: “Bibliothèque – Đô Bi – Professeur.” À, té ra ông lão vốn từng là giáo chức. Thảo nào! Cất tiền vào ví rồi mà ông cứ dùng dằng nuối tiếc, ngoảnh lại nhìn những tài liệu – tài sản phải đứt ruột bán đi. Ngoái mãi mấy lần rồi ông mới dắt chiếc xe đạp cà tàng đạp về. Mắt ông đỏ hoe. Lòng tôi chợt se lại!

Chiều 25 Tết. Ngồi cạnh các danh tác tôi vẫn lim dim, thấp thỏm, chồm hổm ra đấy. Qua đường không ai thấy, lá vàng rơi trên giấy. Sài Gòn chả có mưa bụi cho đủ khổ thơ Vũ Đình Liên. Nhưng bụi đường thì tha hồ, đủ khổ thứ dân lê lết vệ đường như tôi.

Một chị hàng rong đến mời:
–   Anh mua bánh bò, bánh tiêu?

Tôi lắc đầu. Bỗng chị sững người chăm chú nhìn vào hai bộ từ điển. Chị ngồi thụp xuống, đặt sề bánh bên cạnh, cầm hết cuốn này đến cuốn kia lật lật. Rồi chị hỏi giá cả hai. Ngần ngừ lúc lâu, chị hỏi:
–   Anh có bán… trả góp không?

–  Trời đất ơi! Người ta bán trả góp đủ thứ, chứ sách vở, sách đại hạ giá ai đời bán trả góp? Vả lại, tôi nào biết chị là ai, ở đâu?

–  Tôi cần mua cả hai – chị nói tiếp – xin anh giữ, đừng bán cho người khác. Khi nào góp đủ, tôi sẽ lấy trọn. Anh thông cảm làm ơn giúp tôi.

Thấy lạ, tôi hỏi chuyện mới vỡ lẽ. Đô Bi chính là thầy cũ của chị hàng rong. Chị Tám (tên chị) bất ngờ thấy có dấu son quen, hiểu ra hoàn cảnh của thầy, bèn nảy ý chuộc lại cho người mình từng thọ ơn giáo dục. Song, bán bánh bò bánh tiêu nào được bao nhiêu, lại còn nuôi con nhỏ, không đủ tiền mua một lần nên chị xin trả góp.

Tôi cảm động quá, trao ngay hai bộ từ điển cho chị Tám:
–  Chị hãy cầm lấy, kịp làm quà Tết cho thầy. Tôi cũng xin lại đúng số vốn mà thôi, chị à.

–  Nhưng…

–  Đừng ngại, chị trả góp dần sau này cũng được.

Chị lấy làm mừng rỡ, cuống quít trả tôi một ít tiền:
–  Chao ôi, quý hóa quá! Cảm ơn… cảm ơn… anh nhá!

Mai lại, chị Tám trả góp tiếp. Chị kể:
–  Thầy Bi thảm lắm… Gần Tết, cô lại ngã bệnh… Thầy nhận sách, mừng mừng tủi tủi tội ghê, anh à!… Thầy cũ trò xưa khóc, khóc mãi!

Tôi vụt muốn nhảy cỡn lên và thét to: “Hỡi ông Victor, ông Lev, ông Dostoievski… ơi! Ông Khái, ông Vũ, ông Ngô… ơi! Có những thứ không bao giờ hạ giá được! Có những người bình thường, vô danh tiểu tốt nhưng có những kiệt tác không hạ giá nổi, đó là ‘Tấm lòng’.”

Bữa cơm của Khổng Tử

Một lần Khổng Tử dẫn học trò đi du thuyết từ Lỗ sang Tề. Trong đám học trò đi với Khổng Tử có Nhan Hồi và Tử Lộ là 2 học trò yêu của Khổng Tử.

Trong thời Đông Chu, chiến tranh liên miên, các nước chư hầu loạn lạc, dân chúng phiêu bạt điêu linh, lầm than đói khổ. Thầy trò Khổng Tử cũng lâm vào cảnh rau cháo cầm hơi và cũng có nhiều ngày phải nhịn đói, nhịn khát. Tuy vậy, không một ai kêu than, thoái chí; tất cả đều quyết tâm theo thầy đến cùng.

May mắn thay, ngày đầu tiên đến đất Tề, có một nhà hào phú từ lâu đã nghe danh Khổng Tử, nên đem biếu thầy trò một ít gạo. Khổng Tử liền phân công Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau, còn Nhan Hồi đảm nhận việc thổi cơm.

Tại sao Khổng Tử lại giao cho Nhan Hồi – một đệ tử đạo cao đức trọng mà Khổng Tử đã đặt nhiều kỳ vọng nhất – phần việc nấu cơm? Bởi lẽ, trong hoàn cảnh đói kém, phân công cho Nhan Hồi việc bếp núc là hợp lý nhất.

Sau khi Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau, Nhan Hồi thổi cơm ở nhà bếp, Khổng Tử nằm đọc sách ở nhà trên, đối diện với nhà bếp, cách một cái sân nhỏ.

Đang đọc sách bỗng nghe một tiếng “cộp” từ nhà bếp vọng lên, Khổng Tử ngừng đọc, liếc mắt nhìn xuống thấy Nhan Hồi từ từ mở vung, lấy đũa xới cơm cho vào tay và nắm lại từng nắm nhỏ. Xong, Nhan Hồi đậy vung lại, liếc mắt nhìn chung quanh rồi từ từ đưa cơm lên miệng.

Hành động của Nhan Hồi không lọt qua đôi mắt của vị thầy tôn kính. Khổng Tử thở dài… ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Chao ôi! Học trò giỏi nhất của ta mà lại đi ăn vụng thầy, vụng bạn, đốn mạt như thế này ư? Chao ôi! Bao nhiêu kỳ vọng ta đặt vào nó thế là tan thành mây khói!”

Sau đó, Tử Lộ cùng các môn sinh khác mang rau về. Nhan Hồi lại luộc rau. Khổng Tử vẫn nằm im đau khổ.

Một lát sau rau chín. Nhan Hồi và Tử Lộ dọn cơm lên nhà trên: tất cả các môn sinh chắp tay mời Khổng Tử xơi cơm.

Khổng Tử ngồi dậy và nói rằng:

“ Các con ơi! Chúng ta đi từ đất Lỗ sang Tề đường xa vạn dặm, thầy rất mừng vì trong hoàn cảnh loạn lạc, dãi nắng dầm mưa, đói khổ như thế này mà các con vẫn giữ được tấm lòng trong sạch, các con vẫn yêu thương đùm bọc nhau, các con vẫn một dạ theo thầy, trải qua bao nhiêu chặng đường đói cơm, khát nước.

“ Hôm nay, ngày đầu tiên đến đất Tề, may mắn làm sao thầy trò ta lại có được bữa cơm. Bữa cơm đầu tiên trên đất Tề làm thầy chạnh lòng nhớ đến quê hương nước Lỗ. Thầy nhớ đến cha mẹ thầy, cho nên thầy muốn xới một bát cơm để cúng cha mẹ thầy, các con bảo có nên chăng?”

Trừ Nhan Hồi đứng im, còn các môn sinh đều chắp tay thưa: “Dạ thưa thầy, nên ạ!”

Khổng Tử lại nói: “Nhưng không biết nồi cơm này có sạch hay không?”

Tất cả học trò không rõ ý Khổng Tử muốn nói gì nên ngơ ngác nhìn nhau.

Lúc bấy giờ Nhan Hồi liền chắp tay thưa: “Dạ thưa thầy, nồi cơm này không được sạch.”

Khổng Tử hỏi: “Tại sao?”

Nhan Hồi thưa:

“ Khi cơm chín con mở vung ra xem thử cơm đã chín đều chưa, chẳng may một cơn gió tràn vào, bồ hóng và bụi trên nhà rơi xuống làm bẩn cả nồi cơm. Con nhanh tay đậy vung lại nhưng không kịp. Sau đó con liền xới lớp cơm bẩn ra định vất đi nhưng lại nghĩ: cơm thì ít, anh em lại đông, nếu bỏ lớp cơm bẩn này thì vô hình trung làm mất một phần ăn, anh em hẳn phải ăn ít lại. Vì thế cho nên con mạn phép thầy và tất cả anh em, ăn trước phần cơm bẩn ấy, còn phần cơm sạch để dâng thầy và tất cả anh em.

“ Thưa thầy, như vậy là hôm nay con ăn cơm rồi. Bây giờ, con xin phép không ăn cơm nữa, con chỉ ăn phần rau. Và thưa thầy, nồi cơm đã ăn trước thì không nên cúng nữa ạ!”

Nghe Nhan Hồi nói xong, Khổng Tử ngửa mặt lên trời mà than rằng:

“ Thế ra trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn không hiểu được đúng sự thật! Chao ôi! Suýt tí nữa là Khổng Tử nầy trở thành kẻ hồ đồ rồi!”

Hôm qua – Hôm nay – Ngày mai

Đây là một câu chuyện có thật trong lịch sử. Tại một trường trung học ở Mỹ, có một lớp học nọ với 26 em học sinh cá biệt. Những em học sinh trong lớp học này đều có tiểu sử không mấy hay ho: em từng tiêm chích ma túy, em từng vào trại cải tạo, thậm chí có một học sinh nữ mà trong một năm đã phá thai tới 3 lần.

Gia đình đều chán nản và đã buông bỏ chúng, các thầy cô giáo trong trường thậm chí cũng coi chúng là đồ bỏ đi. Tưởng chừng cuộc sống đã hết hy vọng thì một ngày kia, Phila, một cô giáo mới về trường tình nguyện làm chủ nhiệm của những đứa trẻ hư hỏng này.

Khác với suy đoán của bọn trẻ, trong ngày đầu tiên nhận lớp, Phila không hề quát nạt hay ra oai với chúng. Trong chiếc đầm lụa màu xanh nhạt, mái tóc màu nâu hạt dẻ búi cao, Phila bước nhẹ lên bục giảng. Cô dịu dàng nhìn xuống lũ trẻ một lượt rồi cất tiếng với vẻ trầm ngâm:

“ Cô sẽ kể cho các em nghe về quá khứ của 3 người đàn ông khác nhau.

“ Người thứ nhất từng có những vụ bê bối về chính trị, rất tin vào y thuật của thầy cúng, ông ta từng có tới 2 tình nhân, hút thuốc nhiều và uống 8-10 ly rượu mạnh mỗi ngày.

“ Người thứ hai 2 lần bị đuổi việc, hôm nào cũng ngủ tới trưa mới dậy và tối nào cũng uống 1 lít rượu brandy. Ông ta từng hít thuốc phiện khi còn là sinh viên….

“ Người thứ ba là anh hùng chiến tranh của một đất nước. Ông ta ăn chay trường, không bao giờ hút thuốc và thỉnh thoảng mới uống rượu, có uống bia nhưng uống không nhiều. Thời thanh niên không hề làm gì phạm pháp và không hề có một vụ bê bối tình ái nào”.

Cô hỏi cả lớp trong 3 người, ai sau này sẽ cống hiến nhiều nhất cho nhân loại.

Các em học sinh đồng thanh chọn người thứ 3, nhưng cô giáo làm cho cả lớp kinh ngạc khi trả lời:

“ Các em thân mến, cô biết chắc chắn các em sẽ cho rằng chỉ có người thứ ba mới có thể cống hiến được nhiều cho nhân loại. Nhưng các em sai rồi đấy.

“ Ba người này là những nhân vật nổi tiếng trong Thế chiến thứ 2:

“ Người thứ nhất là Franklin Roosevelt, tuy tàn tật nhưng ý chí kiên cường, ông đảm nhận chức vụ tổng thống Mỹ trong bốn nhiệm kỳ liên tiếp.

“ Người thứ hai là Winston Churchill, thủ tướng nổi tiếng nhất trong lịch sử nước Anh.

“ Người thứ ba là Adolf Hitler, con ác quỷ phát xít cướp đi sinh mạng của hàng chục triệu người dân vô tội”.

Khi cô nói xong, tất cả học sinh đều ngây người nhìn cô và như không tin nổi những gì chúng vừa nghe thấy. Cô giáo nói tiếp:

“Các em biết không, những điều mà cô nói về ba nhân vật này là quá khứ của họ. Còn sự nghiệp sau này của họ, là những việc mà họ làm sau khi họ thoát ra khỏi cái quá khứ đó. Các em ạ, cuộc sống của các em chỉ mới bắt đầu, vinh quang và tủi nhục trong quá khứ chỉ đại diện cho quá khứ. Cái thực sự đại diện cho cuộc đời một con người chính là những việc làm ở hiện tại và tương lai. Hãy bước ra từ bóng tối của quá khứ, bắt đầu làm lại từ hôm nay, cố gắng làm những việc mà các em muốn làm nhất trong cuộc đời mình, các em sẽ trở thành những người xuất chúng…”

Phila vừa nói vừa nhìn chúng với ánh mắt đầy hy vọng.

Sau khi những học sinh này trưởng thành, rất nhiều người trên cương vị công tác của mình đạt được nhiều thành tích đáng tự hào: Có người trở thành bác sĩ tâm lý, có người trở thành quan tòa, có người trở thành nhà du hành vũ trụ. Điều đáng nói là, Robert Harrison, cậu học sinh thấp nhất và quậy phá nhất lớp, sau này trở thành giám đốc tài chính trẻ nhất của Phố Wall.

Chuyến bay Delta 15

Câu chuyện đã xảy ra gần 12 năm mới được một tiếp viên hàng không kể lại.

Jerry Brown – Tôi muốn chia sẻ câu chuyện này bởi vì bây giờ chúng ta cần những câu chuyện đẹp như thế này. Tôi hy vọng khi biết dù ta bị trôi dạt đến nơi xa xôi và xa lạ,  ta vẫn có thể nhận được sự đối xử tử tế. Thế giới này có bao nhiêu điều tốt đẹp. Bất chấp mọi điều xấu xa chúng ta thấy đang diễn ra, vẫn còn rất nhiều người tốt và thánh thiện trên thế giới và họ sẽ hiện ra khi tình thế  của chúng ta xấu tệ đi.

Vào sáng ngày Thứ Ba, 11 Tháng Chín năm 2001, chúng tôi rời khỏi Frankfurt khoảng 5 giờ đồng hồ rồi và đang bay qua Bắc Đại Tây Dương.

Thình lình tấm màn ngăn cách giữa buồng lái với khoang tàu chứa hành khách vén mở và tôi được gọi vào buồng lái gặp phi công trưởng ngay lập tức.

Vừa bước vào buồng lái là tôi để ý nhận thấy ngay nét nghiêm trọng lộ trên khuôn mặt mọi người. Phi công trưởng đưa cho tôi một bản in ra vừa nhận từ trụ sở chính của hãng Delta Airlines ở Atlanta viết vỏn vẹn câu: “Mọi tuyến không lưu trên lục địa Hoa Kỳ đều ngăn cấm giao thông hàng không thương mại. Hãy đáp khẩn cấp càng sớm càng tốt xuống phi trường nào gần nhất. Hãy thông báo điểm đáp.”

Không ai nói một lời nào cho tôi biết điều này mang ý nghĩa gì. Chúng tôi biết đây là một tình thế nghiêm trọng và chúng tôi cần phải tìm đất liền để đáp ngay. Phi công trưởng xác định sân bay gần nhất là phi trường Gander, Newfoundland, cách 400 dặm. Ông liên lạc với trạm không lưu Canada để xin cho thay đổi tuyến bay và được chấp thuận ngay mà không cần hỏi lý do. Tất nhiên sau đó chúng tôi đã hiểu ra lý do tại sao họ chấp thuận không do dự.

Trong khi phi hành đoàn chuẩn bị cho máy bay hạ cánh, một tin nhắn đến từ Atlanta báo cho chúng tôi biết có hoạt động khủng bố trong khu vực New York. Vài phút sau tin cập nhật cho biết có không tặc.

Delta 15 mapChúng tôi quyết định nói dối với hành khách trong khi chúng tôi vẫn còn ở trên không. Chúng tôi nói với họ rằng máy bay gặp một trục trặc nhỏ về cơ khí và cần phải hạ cánh tại sân bay gần nhất ở Gander, Newfoundland, để kiểm tra. Chúng tôi hứa sẽ cung cấp thêm thông tin sau khi hạ cánh ở Gander. Có nhiều hành khách phàn nàn, nhưng điều đó không có gì mới lạ! Bốn mươi phút sau, chúng tôi hạ cánh xuống Gander. Giờ địa phương lúc bấy giờ tại Gander là 12:30 PM, tức là 11:00 AM New York.

Khi chúng tôi đáp thì đã có khoảng 20 máy bay khác trên mặt đất đến từ khắp nơi trên thế giới, và họ cũng đã phải chọn lối đi vòng này trên đường đến Hoa Kỳ.

Sau khi chúng tôi đã đậu trên phi đạo chờ lệnh mới, phi công trưởng thông báo như sau: “Thưa quý vị, chắc quí vị thắc mắc phải chăng tất cả các máy bay xung quanh chúng ta có vấn đề cơ khí tương tự như chúng ta. Thật ra chúng ta đang ở đây là vì một lý do khác.” Sau đó, ông tiếp tục giải thích thêm đôi chút cho chúng tôi biết về tình hình tại Hoa Kỳ. Có những tiếng thở hổn hển ồ to lên và những tia nhìn hoài nghi thảng thốt. Phi công trưởng thông báo cho hành khách biết rằng giới hữu trách của phi trường Gander bảo chúng tôi giữ yên tại chỗ.

Bấy giờ trách nhiệm và quyền quyết định về tình trạng của chúng tôi tùy thuộc ở chính phủ Canada, và lệnh của họ là không ai được ra khỏi máy bay. Và cũng không ai dưới đất được phép đến gần bất kỳ phi cơ nào. Chỉ có cảnh sát sân bay cứ lâu lâu lại đến dòm ngó chúng tôi một lúc, xong đi qua các máy bay khác. Trong khoảng một giờ đồng hồ kế tiếp, thêm nhiều máy bay hạ cánh và sau cùng Gander tiếp nhận tất cả là 53 máy bay từ khắp nơi trên thế giới, 27 chiếc trong số đó là phi cơ hàng không thương mại của Mỹ.

Gander 4

Trong khi đó, những mảnh tin tức bắt đầu phát ra trên hệ thống âm thanh của phi cơ. Lần đầu tiên chúng tôi được biết các phi cơ bị không tặc đã đâm vào World Trace Center ở New York và vào Lầu Năm Góc trong vùng Washington DC. Mọi người cố gắng dùng điện thoại di động của họ, nhưng không thể kết nối vì hệ thống truyền sóng ở Canada khác biệt. Một số người gọi thông qua được, nhưng chỉ có thể với tổng đài ở Canada và họ cho biết rằng các làn sóng nối kết vào đất Mỹ đã bị chặn hoặc bị nghet.

Khoảng vào buổi tối trong ngày, tin tức cho chúng tôi rằng hai tòa cao ốc World Trace Center đã sụp đổ và chiếc phi cơ thứ tư bị không tặc đã đâm xuống đất. Bấy giờ hành khách đều kiệt sức về thể chất lẫn cảm xúc, không kể nỗi sợ hãi, nhưng tất cả mọi người đều bình tĩnh đáng kinh ngạc. Chúng tôi chỉ cần nhìn ra ngoài cửa sổ thấy 52 phi cơ bị lạc khác để nhận ra rằng chúng tôi không phải là người duy nhất trong tình trạng khó khăn này.

Trước đó chúng tôi được thông báo rằng họ sẽ cho phép hành khách lần lượt ra khỏi máy bay mỗi lần một chiếc. Lúc 6 giờ chiều, sân bay Gander nói với chúng tôi rằng phiên chúng tôi được phép rời phi cơ sẽ là 11 giờ sáng hôm sau. Hành khách không hài lòng tí nào, nhưng họ cũng buông xuôi chấp nhận tin không vui này mà không phản đối ồn ào; họ bắt đầu chuẩn bị sẵn sàng để ở qua đêm trên máy bay.

Gander hứa với chúng ta sẽ chăm sóc y tế, nếu cần thiết, nước, và dịch vụ vệ sinh. Và họ giữ lời. May mắn thay, chúng tôi không có tình huống y tế nào phải lo lắng. Chúng tôi có một phụ nữ trẻ mang thai 33 tuần. Chúng tôi chăm sóc rất chu đáo cho thai phụ đó. Đêm trôi qua không gặp biến cố nào ngoại trừ sự xếp đặt chỗ ngủ không được thoải mái.

Khoảng 10 giờ 30 sáng ngày 12, một đoàn xe buýt trường học chạy đến. Chúng tôi ra khỏi máy bay và được đưa đến nhà ga, nơi chúng tôi thông qua thủ tục nhập cảnh và quan thuế, và sau đó phải ghi danh với Hội Hồng Thập Tự.

Sau đó chúng tôi (phi hành đoàn) được tách ra khỏi đám đông hành khách và được xe van đưa đến một khách sạn nhỏ. Chúng tôi không biết hành khách của chúng tôi được đưa đi đâu. Nhân viên của Hội HTT cho chúng tôi biết rằng thị trấn Gander có dân số 10.400 người và họ đang có khoảng 10.500 hành khách phải chăm sóc từ tất cả các máy bay đã buộc phải đáp xuống Gander! Họ bảo chúng tôi hãy yên tâm nghỉ ngơi tại khách sạn và họ sẽ liên lạc khi các phi trường Mỹ mở và hoạt động trở lại, nhưng chắc cũng mất một thời gian.

Chỉ khi chúng tôi đến khách sạn và bật TV lên, chúng tôi mới biết hết toàn diện của cuộc tấn công khủng bố ở quê nhà (nước Mỹ), 24 giờ sau khi nó bắt đầu diễn ra.

Trong lúc đó, chúng tôi có rất nhiều thì giờ rảnh rỗi và nhận thấy rằng người dân Gander vô cùng thân thiện. Họ bắt đầu gọi chúng tôi là “người máy bay.” Chúng tôi hưởng nhận tính hiếu khách của họ, khám phá thị trấn Gander kết cuộc đã trải qua một khoảng thời gian khá tốt đẹp.

Hai ngày sau, chúng tôi được gọi và được đưa trở lại sân bay. Trên máy bay, chúng tôi đoàn tụ với các hành khách và khám phá những gì họ đã làm trong hai ngày qua. Những điều chúng tôi khám phá đó thật không thể tin được.

Gander và tất cả các cộng đồng xung quanh (trong vòng bán kính 75km) đóng cửa tất cả các trường trung học, hội trường, nhà nghỉ, và bất kỳ nơi tập hợp lớn nào khác. Họ biến đổi tất cả các cơ sở vật chất đó thành chỗ trú ngụ chung cho tất cả lữ khách lỡ đường. Có chỗ thì trải chiếu, chỗ thì trải nệm, chỗ thì trải túi ngủ và gối nằm.

Tất cả các học sinh trung học được kêu gọi tình nguyện thì giờ để chăm sóc cho “khách.” 218 hành khách của phi cơ chúng tôi được đưa tới một thị trấn có tên là Lewisporte, cách Gander khoảng 45 cây số, nơi đó họ được trú ngụ trong một trường trung học. Hành khách phụ nữ nào muốn có khu ngủ riêng cũng được sắp xếp theo ý muốn. Các hành khách đi chung cả gia đình cũng được giữ lại chung với nhau. Tất cả các hành khách lớn tuổi được đưa tới nhà riêng.

Các bạn còn nhớ người phụ nữ trẻ mang thai chứ? Bà ấy được đưa đến một nhà riêng đối diện bên kia đường với một cơ sở chăm sóc khẩn cấp 24 giờ. Có một nha sĩ được cử sẵn nếu cần đến, các y tá nam và nữ túc trực cạnh đám đông trong suốt thời gian tạm trú.

Các cuộc gọi điện thoại và e-mail cho Mỹ và thế giới được thiết lập sẵn để tất cả mọi người có thể dùng mỗi ngày một lần. Vào ban ngày, hành khách được cung cấp các chuyến “du ngoạn”. Một số chọn đi du ngoạn bằng tàu thuyền trên các hồ và bến cảng. Một số chọn đi băng đồng trong các khu rừng của địa phương. Các tiệm nướng bánh địa phương tiếp tục mở cửa để làm bánh mì tươi cho khách hàng.

Thức ăn được các cư dân nấu nướng ở nhà rồi mang đến cho các trường học. Người nào thích dùng bữa ở nhà hàng theo sự lựa chọn của họ cũng được đưa đi và được cung cấp các bữa ăn tuyệt vời. Mọi người đều được cấp phiếu đến các tiệm giặt địa phương để giặt quần áo vì tất cả hành lý vẫn còn giữ trên máy bay.

Nói cách khác, mỗi nhu cầu thuần nhất của lữ khách lỡ đường cũng đều được đáp ứng đầy đủ. Hành khách đã khóc khi kể lại với chúng tôi những câu chuyện này.

Cuối cùng, khi có tin tất cả phi trường ở Mỹ đã mở cửa trở lại, họ được chở đến sân bay đúng giờ và không thiếu một hành khách nào. Hội HTT địa phương nắm đầy đủ tất cả các thông tin của mọi hành khách và đưa trả hành khách về lại đúng chuyến bay. Họ phối hợp tất cả mọi việcmột cách tốt đẹp. Thật đúng là hoàn toàn không thể tin được.

Gander 2
Hành khách trong ảnh lưu niệm với nhân viên sân bay

Khi hành khách đã trên tàu, nó giống như họ vừa mới đi một chuyến du hành trên biển. Tất cả mọi người đều biết tên nhau. Họ trao đổi những câu chuyện của họ trong mấy ngày qua, khoe với nhau xem người nào được đối xử tốt hơn.

Chuyến bay của chúng tôi về đến Atlanta trông giống như một chuyến bay du ngoạn được thuê bao. Phi hành đoàn tránh ra để họ tự do. Thật không thể tưởng. Hành khách hoàn toàn gắn bó với nhau và gọi nhau bằng tên một cách thân mật, cùng nhau trao đổi số điện thoại, địa chỉ, địa chỉ email.

Và sau đó là một điều rất lạ thường xảy ra. Một trong những hành khách của chúng tôi đến gần tôi và hỏi tôi rằng ông ta có thể dùng hệ thống âm thanh của phi cơ để nói vài lời được không. Chúng tôi không bao giờ cho phép điều đó. Nhưng lần này thì khác. Tôi nói “tất nhiên” và đưa máy vi âm cho ông. Ông nhắc mọi người về những gì họ vừa trải nghiệm trong mấy ngày qua. Ông nhắc nhở họ về lòng hiếu khách mà họ đã nhận được từ tay của những con người hoàn toàn xa lạ. Ông tiếp tục nói rằng ông muốn làm một điều gì đó để đền đáp lại cho những cư dân tốt bụng của Lewisporte.

Ông cho biết ông sẽ thành lập một Quỹ tín thác dưới tên Delta 15 (số hiệu chuyến bay của chúng tôi). Mục đích của quỹ tín thác là cung cấp học bổng đại học cho học sinh trung học của Lewisporte. Ông kêu gọi mọi khách đồng hành cùng chuyến bay đóng góp bất kỳ số tiền bao nhiêu cũng được. Khi chúng tôi đã gom góp đủ hết các tờ giấy ký hứa có ghi số tiền, tên họ, số điện thoại và địa chỉ, tổng số khoản tài trợ là trên $14.000!

Người đề xướng đó là một bác sĩ ở Virginia, ông hứa phần ông sẽ đóng góp bằng với số tiền đó và sẽ tiến hành thủ tục giấy tờ lập học bổng. Ông cũng nói rằng ông sẽ chuyển đề nghị này đến Công ty Hàng không Delta và sẽ yêu cầu họ cùng hiến tặng.

Khi tôi viết bài này, quỹ tín thác đã lên hơn $1.5 triệu và đã hỗ trợ 134 học sinh theo học đại học.

Tôi muốn chia sẻ câu chuyện này chỉ bởi vì bây giờ chúng ta cần những câu chuyện đẹp như thế. Nó mang lại cho tôi một chút hy vọng khi biết rằng người ta dù ở nơi xa xôi vẫn có thể đối xử tử tế với người lạ trôi dạt tới. Nó nhắc tôi thế giới này có bao nhiêu điều tốt đẹp. Bất chấp mọi điều xấu xa chúng ta thấy đang diễn ra trong thế giới ngày nay, câu chuyện này khẳng định rằng vẫn còn rất nhiều người tốt và thánh thiện trên thế giới và họ sẽ hiện ra khi tình thế xấu tệ đi.

Xin thượng đế ban phước cho Hoa Kỳ. Xin thượng đế ban phước cho người dân Canada… và đặc biệt là xin thượng đế ban phước cho người dân Newfoundland.

(Phan Hạnh chuyển ngữ)

Một ngày không vội vã

Hoàng Thanh (Nhật báo Viễn đông)

Mỗi năm một lần, tôi về thăm Mẹ và các em hiện đang sống ở Montréal, Canada. Năm nay cũng như thuờng lệ, tôi về thăm nhà 2 tuần cuối tháng 6. Nói sao cho hết niềm vui gặp lại gia đình. Montréal vào mùa hè thật nóng bức, có ngày lên đến hơn 100 độ F, nên cả nhà thường rủ nhau đi ra ngoài chơi cho mát mẻ.

Tôi còn nhớ sáng hôm đó, cả nhà định dẫn mấy đứa cháu ra công viên cho tụi nhỏ hưởng chút khí trời. Tôi thì đã thay quần áo từ lâu, cứ chờ mãi mà mọi người cứ “xàng qua xàng lại”, gần 9 giờ vẫn chưa xong, nhất là mấy đứa nhóc thì cứ lăng xăng chơi game, không ai chịu thay quần áo.

Thế là tôi bắt đầu nổi quạu: “Nhà mình sao làm gì cũng như rùa bò vậy? Có đi hay không thì bảo…?”

Cô em tôi nhỏ nhẹ: “Thì từ từ, vacation mà lị, chị sống ở Mỹ riết rồi quen thói ‘stress out’ hả…”

Cậu em trai thì nói: “Chị làm gì mà dữ vậy, chị có biết hôm nay là ngày không vội vã hôn?”

Tôi ngạc nhiên, tưởng tai mình nghe lầm, nên hỏi lại: “Ngày gì? Không vội vã là sao?”

Thế là Má tôi bật tivi lên. Trên màn ảnh, đài nào cũng đang nói về cái ngày đặc biệt này. Ồ, thì ra là từ vài năm nay, mỗi năm chính phủ Canada chọn ra một ngày, thường là vào mùa hè, một ngày cuối tuần, và năm nay rơi vào ngày 26 tháng 6, gọi là “một ngày không vội vã”.

Khoảng chừng vài tuần trước đó, là báo chí, các cơ quan truyền thông đều loan báo và nhắc nhở để mọi người chuẩn bị. “Ngày không vội vã” bắt đầu từ 8 giờ sáng cho đến 9 giờ tối. Mọi người được khuyên là “Bạn hãy ngủ cho thẳng giấc, thức dậy khi nào mình muốn. Hãy nhâm nhi tách cà phê, và ngồi ngắm khu vườn của bạn, nghe tiếng chim hót líu lo. Hãy đi ra ngoài nếu bạn thích, vào ăn trưa ở một restaurant nào mà bỗng dưng bạn muốn. Còn nếu không, bạn có thể mời bè bạn đến nhà làm BBQ. Bạn cũng có thể chạy xe đạp một vòng thành phố, hay nằm dài trên bãi cỏ của một công viên gần nhà.” vân vân và… vân vân.

Tóm lại, chính phủ khuyến khích người dân: “Hãy enjoy từng phút giây hạnh phúc, bình an của… một ngày không vội vã. Hãy biết sống và tận hưởng Hạnh phúc ở quanh ta”, như lời của một người phóng viên trên đài tivi đang nói.

Rồi còn có các màn phỏng vấn vài người dân, hỏi xem họ dự định sẽ làm gì trong cái ngày đặc biệt này trong năm, thì đa số câu trả lời đều là “spend time với gia đình, người thân”.

Có một cảnh trên màn hình làm tôi nhớ mãi. Hình ảnh một cụ già tóc bạc phơ, lụm cụm trả lời phỏng vấn với nụ cười móm mém “Tôi luôn mong đợi và yêu nhất cái ngày này trong năm, vì đó là ngày duy nhất mà tất cả con cháu tôi không… bận rộn, chúng nó tề tựu đông đủ để họp mặt với tôi. Cám ơn chính phủ, cám ơn ân nhân nào đã đặt ra cái ngày ý nghĩa này… “

Thế là bỗng dưng tôi đổi ý. Tôi bảo gia đình “Hôm nay là ngày đặc biệt, vậy thôi mình làm chương trình gì special đi nhe!”

Thế là cả nhà nhao nhao hưởng ứng, người thì bảo “khỏi nấu cơm, đi ăn tiệm cho khỏe”, kẻ thì nói “nhà hàng đông lắm, đi xuống downtown chơi”.

Em trai tôi thì muốn đi xe đạp (ở Montréal có rất nhiều bãi cho mướn xe đạp, bạn chỉ cần quẹt cái credit card vô là có thể lấy xe đạp đi ngay).

Mấy cháu nhỏ lại muốn đi tàu Bateau Mouche. Rồi lại có ý kiến đi câu cá, hay đi xe ngựa một vòng thành phố. Và thế là giơ tay biểu quyết. Cuối cùng thì đa số thắng thiểu số: đi xuống Vieux-port (khu phố cổ) chơi và sẽ đi tàu BateauMouche. Thế là chúng tôi lên đường, thảnh thơi, không vội vã…

Đường xuống phố đông nghẹt, và kẹt xe, thế mà không một xe nào bóp kèn. Thiên hạ ngồi trong xe, an nhiên chờ đợi, còn mở cửa kiếng xuống nhìn nhau cười, và vẫy tay “ No hurry! Be happy!” Tôi thật sự “thấm” được thế nào là ý nghĩa của 3 chữ “không vội vã”!

Đến chừng xếp hàng mua vé đi tàu, thì lại là một hàng thật dài, trong cái nắng gắt của mùa hè. Vậy mà ai ai cũng cười, cũng nói, cũng bắt tay, với cả những người… không quen biết. Dường như con người ở đây, ngày hôm nay, không ai bị stress cả. Cả một thế giới hòa bình, thanh thản quanh tôi…

Lúc bước xuống tàu, David, thằng cháu nhỏ 5 tuổi hối hả muốn chạy đến dành chỗ, thì bị Christina – cô cháu 4 tuổi, “chỉnh” ngay: “David! Bữa nay là ‘No hurry day’ mà, sao David cứ hurry hoài vậy?”, làm cả nhà cùng cười. Tôi cũng bật cười theo vì nhận thức dễ thương của cô bé này.

Trưa đến, đói bụng, chúng tôi ghé vô một nhà hàng Tàu. Lại đông nghẹt khách, nhưng ai ai cũng vui vẻ xếp hàng đợi đến lượt mình. Đang đứng chờ thì người bên cạnh tôi, một phụ nữ Quebécois bắt chuyện hỏi tôi đã làm gì ngày hôm nay. Tôi kể lại một ngày vui chơi với gia đình cùng các cháu. Bà cười, chỉ hai người con “Chồng tôi mất lâu rồi, năm nào vào ngày này, tôi cũng để tụi nó quyết định muốn đi đâu, làm gì… Cuộc sống mà, có gì mà phải vội vã…” Rồi bà tiếp “Như trưa nay nè, bỗng dưng con gái tôi thèm ăn món lẩu Tàu, thế là chúng tôi vô đây, xếp hàng, nghe nói nhà hàng này món nào cũng ngon lắm.”

Tôi gật đầu đồng ý và cảm thấy vui vui trong lòng…

Ăn no xong, thì đến chiều. Không ai muốn về nhà, thế là kéo nhau ra park chơi. Nhìn quanh, thiên hạ đông như kiến, tự dưng tôi thấy lòng mình vui chi lạ. Trải tấm chiếu trên bãi cỏ, tôi nằm xoải người, vươn vai một cái thật đã. Dường như hơn 10 năm sống trên đất Mỹ, tôi chưa hề có được cái “đã” nào như thế này. Cứ để mặc tụi nhỏ tha hồ chơi xích đu, cầu tuột, chạy chơi, la hét… tôi nằm đeo cặp mắt kính mát, tận hưởng từng làn gió thoảng qua một cách khoái chí, do… nothing, lim dim… ngẫm nghĩ sự đời. Kể cũng lạ, nhờ có cái ngày này, mà tôi mới nhận ra là hình như trong đời, tôi chưa hề bao giờ có được một ngày không vội vã.

Zen13B

Thật sự tôi phải cám ơn chính phủ Canada, hay cám ơn ân nhân “trí tuệ” nào đó, đã nghĩ ra cái ngày đặc biệt này trong năm, để giúp người dân biết trân quý sự thanh thản mà cuộc sống ban cho chúng ta… Bỗng dưng tôi chợt nhớ mới cách đây vài tuần, tôi tình cờ gặp lại cô bạn cũ hồi trung học, khi vô tiệm food to go ở Cali mua đồ ăn. Hai đứa chỉ kịp chào hỏi vài câu, thì cô bạn vội vã về đón con, còn tôi thì lật đật đi ra xe sợ trễ giờ làm. Cô bạn than “Sao cuộc sống tụi mình lúc nào cũng tất bật quá há, chỉ khi nào hết thở thì mới hết… bận rộn…” Tôi chỉ cười “Xứ Mỹ mà lị…” Cô bạn tự dưng hỏi xin địa chỉ email của tôi, rồi bảo rằng “sẽ email gửi cho bồ một bài ý nghĩa lắm”, rồi cô cười nói thêm “nhưng đọc thì hay, mà làm có được hay không lại là chuyện khác…” Tối đó check mail, tôi nhận được ngay, với vài dòng nhắn nhủ “Bồ ráng cố gắng thực hành theo lời khuyên trong bài này nhé, còn mình thì… đời vẫn lăng xăng…” Tôi bật cười, và click vô đọc bài viết ngắn của cô bạn:

BẬN RỘN làm cho ta không có bình an và hạnh phúc. BẬN RỘN làm cho sự hành xả của ta vụng dại. BẬN RỘN làm cho cái hiểu biết của ta khô cằn. BẬN RỘN làn cho sự sống của ta ngắn lại. BẬN RỘN khiến ta không thấy được cái đẹp của người ta thương yêu. BẬN RỘN khiến ta đi trên đường như ma rượt… Đời sống bận rộn là đời sống bất hạnh nhất trên đời…!

Thế đấy, nhưng con người ai ai cũng luôn tìm đủ mọi lý do để mà… BẬN RỘN.

Và rồi một ngày kia, thử hỏi có ai mang theo được cái “BẬN RỘN” về bên kia thế giới?

Hãy biết dừng lại
Hãy biết ngơi nghỉ
Hãy tập thanh than
và buông xả, thảnh thơi…

thì khi cái ngày ấy đến, chúng ta mới có thể ra đi với cái tâm… KHÔNG… BẬN RỘN…!!!

Đúng thật, cả một đời tôi luôn sống quá vội vàng, thì làm sao có thể ra đi bình an? Một lần nữa, xin cám ơn cái ngày đặc biệt này, đã giúp tôi có một cái nhìn mới, khác hơn về cuộc sống…

Tự dưng tôi nhớ đến hai cô bạn thân. Cô bạn đạo Chúa thì chủ nhật nào cũng đi nhà thờ, hễ rảnh là đọc cuốn Thánh kinh nhỏ lúc nào cũng kè kè trong bóp. Cô hay nói với tôi: “Chúng ta nên làm theo lời dạy của Ngài, thì lúc ra đi, mình sẽ được lên Thiên đàng với Chúa.”

Nhỏ bạn đạo Phật thì hễ rảnh là đến chùa, niệm Phật, nó nói với tôi: “Ở lành, giữ ngũ giới, làm từ thiện, thì chắc chắn sẽ được về với Phật…” Còn giờ phút này, tôi hiểu ra một điều: Nếu như chúng ta biết tự làm cho mỗi ngày của mình thành “MỘT NGÀY KHÔNG VỘI VÔ, thì chúng ta sẽ có được 365 ngày một năm đang sống ở Thiên đàng, hay Niết bàn rồi đó…

Chúc mỗi người trong cuộc đời, luôn có được những ngày… không vội vã…

Thu tiền xem xiếc

Một câu chuyện có thật ở Hà Nội. Trường mầm non nọ thu 40.000 đồng/học sinh để tổ chức cho các cháu xem xiếc, nhưng vì không phải tất cả cùng đóng nên các cô bắc loa yêu cầu cháu nào không đóng tiền thì phải ngồi trong lớp. Và những đứa trẻ đã khóc…

Nguyên văn câu chuyện được một vị phụ huynh kể trên trang mạng xã hội thế này: “Nhân kỉ niệm ngày 2.9 trường mầm non T.M – A (Hà Nội) tổ chức cho các con xem xiếc tại sân trường. Chi phí phải đóng của mỗi con là 40 ngàn đồng. Phụ huynh các bạn nhỏ hồ hởi đóng góp cho con. Sáng 30.8, đoàn xiếc về trường, nhạc tưng bừng phấn khởi. Từ phòng giám hiệu, tiếng cô giáo trên loa tròn vành rõ chữ: Alo, alo, đề nghị các vị phụ huynh cho con khẩn trương vào trường ổn định chỗ ngồi vì sắp đến giờ biểu diễn. Để công bằng cho các em đã đóng tiền, đề nghị những em chưa đóng tiền ngồi nguyên trong lớp học, không được ra sân.

Thảng thốt nghe đâu đó tiếng khóc, tiếng sụt sịt, tiếng xì mũi, tiếng nấc của những đứa trẻ mà bản thân chúng nó không hiểu sao bố mẹ không đóng nổi cho nó bốn chục ngàn…”

Tôi đã khóc khi biết câu chuyện này. Thật khó hình dung một ứng xử tàn nhẫn và lạnh lùng như thế lại xảy ra trong một trường mầm non ngay giữa thủ đô. Nó cho thấy trong nhà trường bây giờ, nhiều thầy cô, những bậc được tôn kính gọi là “kỹ sư tâm hồn” đã trở thành cái máy thật rồi. Những cỗ máy không có trái tim, vì nếu là người, ai lại làm như thế.

Tôi đặt ra trường hợp thế này, để thuê đoàn xiếc về trường biểu diễn cho trẻ xem, cần một số tiền là A, mặc dù không phải tất cả phụ huynh đều đóng tiền cho con (vì nhiều lý do, có thể quên hoặc gia đình không có điều kiện) nhưng trường cũng vẫn thu đủ số tiền là A. Bởi bằng chứng là vẫn có đoàn xiếc về trường diễn. Vậy thì tiếc gì một chỗ ngồi mà không cho tất cả con trẻ đều được ra xem?

Nếu đó là những giáo viên có tình người, tất cả các cháu đều được mời ra xem xiếc, mà không cần phải có một thông báo gì hết. Còn giả sử, có máy móc một tý, các cô vẫn có thể nói với các con rằng: “Mặc dù có những bạn không đóng tiền, nhưng các bạn khác đã đóng đủ tiền để cho tất cả các con được xem xiếc hôm nay. Các con hãy vỗ tay cảm ơn các bạn mình vì điều đó và nhớ rằng, trong cuộc sống, khi chia sẻ với người khác thì niềm vui và hạnh phúc sẽ nhân lên”.

Vậy mà cả hai trường hợp đáng lẽ xảy ra đã không xảy ra, chỉ có một thông báo lạnh lùng: “Để công bằng cho các em đã đóng tiền, đề nghị những em chưa đóng tiền ngồi nguyên trong lớp học, không được ra sân”. Than ôi, công bằng nào ở đây? Những đứa trẻ như búp non, vắt mũi còn chưa sạch thì chúng cần quái gì cái thứ công bằng gớm giếc xấu xí đó của người lớn?

Tôi cứ hình dung ra hoàn cảnh những đứa bé bị nhốt trong lớp học vào cái buổi diễn xiếc ấy mà thấy lòng đau thắt. Chúng khóc, hẳn nhiên rồi, làm sao những đứa bé non nớt ấy không khóc cho được khi thấy các bạn bè hò reo vui vẻ ngoài sân, còn chúng thì phải ngồi ở đây. Đứa bé bỏng chưa hiểu chuyện thì ngơ ngác, đứa lớn hơn một chút sẽ biết, vì cha mẹ chúng đã không nộp 40.000 đồng. Chao ôi, có khi nào đồng tiền bốc mùi tanh lạnh như lúc này không?

Mục đích cao cả nhất của giáo dục, theo tôi, không phải kiến thức mà là sự khai phóng và giúp con người ta hiểu thế nào là lòng nhân ái. Vậy mà trong nhà trường này, ở cấp học mà đối tượng học trò cần nâng niu nhất, lại ứng xử theo kiểu “tiền trao cháo múc”, ráo hoảnh lạnh lùng. Có tiền thì được phục vụ, còn không tiền thì xin mời nghỉ cho khỏe.

Những đứa bé ấy, lớn lên sẽ nghĩ gì, sẽ học được gì từ bài học đắt giá mà các giáo viên đã dạy cho chúng?, rằng trong cuộc đời này, chỉ có đồng tiền là tối thượng, còn lại tất cả đều vô nghĩa mà thôi.

Sự vô cảm chưa lúc nào lại tràn ngập khắp nơi trong xã hội này, đến mức có cảm giác, nhiệt độ dòng máu nóng ấm chảy trong cơ thể chúng ta, cứ mỗi ngày, mỗi ngày lại nguội đi một chút. Thấy người cơ nhỡ hoạn nạn không chút xót thương, thấy người làm một việc tốt lành tử tế thì ngay lập tức nghi ngờ, không biết nó có định bẫy gì mình không. Nhiều người trong chúng ta đang dần dần hóa đá mà không biết.

Câu chuyện về buổi xem xiếc trong trường mầm non này, tôi ước sao có thể đến được với các vị lãnh đạo của Sở Giáo dục Đào tạo Hà Nội, không phải để truy ra trường nào mà phê bình, trừng phạt. Chỉ cần các vị lấy đó làm một trường hợp cụ thể để cho các giáo viên thảo luận cùng nhau, chúng ta ứng xử như vậy đã đúng với tư cách của những người đang làm trong môi trường giáo dục, trồng người hay chưa. Chắc sẽ có ích cho các thế hệ tương lai nhiều lắm đấy.

Cái khó nhất và cần phải hướng tới trong xã hội này, không phải là một cuộc sống ngày càng no đủ, sung sướng phủ phê hơn mà chính là những ứng xử nhân văn, là tình người. Thiếu nó, mọi thứ vật chất chỉ là của phù vân bèo trôi nước nổi.

Mi An

Hãy đọc hết câu chuyện

Buc anh facebook3
Bức ảnh lan truyền trên mạng xã hội

Chủ nhân bức ảnh chú thích: “Bức ảnh này chụp vào trưa ngày 13/01/2014 tại quán cơm chay Thiên Phước 5000 đồng, địa chỉ 62 Nguyễn Chí Thanh, Phường 16, Quận 11 (TP.HCM). Một người đàn bà bán ve chai bước vào quán với bao gạo và chai dầu ăn. Chị mang ơn quán cơm này vì đã cứu chị rất nhiều bữa đói. Chị nghèo khó nhưng không quên ơn, gom góp từng đồng, cuối năm, chị dành mua 1 bao gạo và 1 chai dầu tặng lại quán để có thể giúp thêm những người khốn khó khác”.

Có lẽ đó là một trong những bức ảnh đẹp nhất về chân dung con người, trong hoàn cảnh đảo điên nhuộm nhoạm của xã hội ngày nay. Tôi cứ ngắm mãi khuôn mặt chị, đó là một người đàn bà chắc chắn đã trải qua rất nhiều khó khăn, đói khát. Một khuôn mặt điển hình của những người lao động vất vả ngoài đường.

Vậy mà trong khoảnh khắc ấy, chị thật đẹp. Vẻ đẹp tỏa ra từ bên trong, từ hành động cao cả, nghĩ đến người khác, những người khó khăn hơn mình, nên dù nghèo, chị vẫn gom nhặt từng đồng tiền lẻ để mua bằng được một bao gạo con con, một chai dầu ăn mang đến quán.

Trong cái thời buổi đồng tiền lên ngôi, tình người lạnh lẽo, lối sống ích kỷ lan tràn thì tấm lòng của người đàn bà bán ve chai lại càng đẹp hơn bao giờ hết. Nó cho thấy dù chị nghèo khó thật đấy, nhưng chị giàu có hơn vạn lần người khác, những người chưa một lần chìa tay ra san sẻ cho đồng loại.

Biết được câu chuyện này, chẳng phải chúng ta đang cảm thấy trái tim mình ấm áp, tâm hồn mình thư thái và hạnh phúc hay sao? Bởi người đàn bà bán ve chai ấy, chẳng ai biết tên chị là gì, giờ đang tá túc ở đâu, nhưng hành động của chị đã cho chúng ta có thêm niềm tin, rằng những người tốt và những tấm lòng cao cả ở đời còn nhiều lắm. Họ là con người đúng nghĩa với những điều tốt đẹp nhất của danh từ này.

Tôi tin những người như chị, nếu làm người bán hàng sẽ không bao giờ gian tham dối trá hay bớt xén của ai một đồng một hào nào. Nếu làm người công nhân, sẽ có trách nhiệm đến cùng với sản phẩm của mình. Nếu làm một công chức, sẽ cống hiến tận tâm cho xã hội.

Một cộng đồng muốn tốt đẹp thì không thể không dựa vào từng cá nhân tốt đẹp, một cái cây muốn tươi tốt, bền chắc thì phải có bộ rễ khỏe mạnh. Đạo đức là gốc rễ của mọi vấn đề. Tiếc là ngày nay, xã hội vì quá coi trọng đồng tiền nên đã xem thường nó, coi rẻ nó, khiến cho mọi thứ lộn xộn, đảo điên.

Người đàn bà bán ve chai vô danh ấy, có lẽ chẳng bao giờ hình dung ra những con số dài dằng dặc để ghi lại số tiền đã hóa hơi trong những đại án tham nhũng đang làm nghèo đất nước. Càng không bao giờ biết đến chuyện, để chạy chức và chạy án, các quan chức ngày nay xách đến nhà nhau hàng vali tiền mà người nghèo có đếm cả đời cũng không hết.

Chị chỉ quanh quẩn sáng tối với cái vỏ chai, mảnh giấy vụn. Hạnh phúc của chị chỉ là sau một năm làm ăn cần mẫn, mua được bao gạo, chai dầu đến cảm ơn quán cơm đã cứu đói chị và san sẻ tình thương cho những người đồng cảnh ngộ. Nhưng cuộc đời của chị, thanh sạch và đáng kính trọng biết bao nhiêu.

Những bài học lý thuyết về đạo đức, tình người sẽ không bao giờ khiến chúng ta thấm thía bằng hành động của người đàn bà bán ve chai ấy.

Cầu mong cho những tấm lòng cao cả ấy sẽ được tiếp nối, sẽ lan rộng ra để duy trì sự tốt đẹp và làm sáng thêm hai chữ “đạo nghĩa” trong đời sống này.

(E-mail được chuyển tiếp bởi KIM CHI <[email protected]>)

Con trai tên cướp

ĐINH HƯƠNG, THEO HELINO 19:44 19/02/2018

Khi mất đi một người mà mình yêu thương, nỗi đau đó sẽ khiến cho trái tim chúng ta như bị xuyên thủng một lỗ lớn rất khó để có thể phục hồi. Những ký ức, những nỗi buồn đau có thể sẽ mãi mãi theo ta suốt cuộc đời này.

Với bà cụ 78 tuổi Tona Herndon, sống tại bang Oklahoma, Mỹ, ngày mà chồng bà qua đời cũng là khi cuộc sống của bà hoàn toàn vỡ vụn. Sau hơn 60 năm kết hôn, sự ra đi của ông làm cho bà Tona vô cùng suy sụp và cô đơn. Mỗi ngày cho dù có mệt mỏi đến mấy, bà đều đến thăm mộ của ông và đó là điều duy nhất có thể giúp cho bà cảm thấy thoải mái hơn.

Một vài tuần sau đám tang, cũng như mọi hôm bà Tona đi ra mộ để thăm và nói chuyện với chồng quá cố. Thế nhưng buổi viếng mộ ngày hôm đó rất nhanh chóng trở thành một trải nghiệm kinh khủng với bà. Trong lúc bà Tona đang đứng trước mộ chồng thì bất ngờ có một người lạ mặt áp sát bà từ phía sau. Tên cướp to khỏe nhanh tay cướp lấy chiếc túi xách của người quá phụ và tẩu thoát khỏi hiện trường. Bà Tona vừa hoảng loạn vừa sợ hãi và tuyệt vọng, có kẻ nào tồi tệ đến mức đi cướp của bà già yếu đuối ngay trong nghĩa trang cơ chứ?

Tuy nhiên, cuộc sống đời thực đôi khi lại lạ lùng hơn những câu chuyện cổ tích rất nhiều. Giống như những điều sắp xảy ra sau vụ cướp đó lại là mở đầu cho một cậu chuyện tươi sáng và tràn đầy tình người. Tên cướp không lâu sau bị cảnh sát tóm cổ. Bức hình của hắn được công bố rộng rãi khắp các bản tin tức. Nhiều tờ báo địa phương cũng chỉ trích cho rằng vụ tấn công đối với bà Tona là một sự hèn nhát không thể chấp nhận. Khoảng 1 tuần sau đó, một cậu bé 15 tuổi bất ngờ liên lạc với bà Tona và đưa ra một lời đề nghị lạ lùng.

Christian Lunsford chính là con trai của tên cướp, Shane Lunsford. Sau khi thấy hình ảnh của bố mình được đăng ở mọi nơi, cậu bé cảm thấy vô cùng xấu hổ cũng như phẫn nộ với việc xấu xa ông đã làm. Được biết Shane từng nhiều lần gặp rắc rối với cảnh sát và lần này, hắn ta cướp được số tiền là 700 USD từ trong túi của bà Tona. Cậu bé Christian gọi điện cho bà Tona, hy vọng bà đồng ý gặp mình tại bãi đậu xe gần một nhà thờ địa phương. Cậu muốn thay bố để trực tiếp nói lời xin lỗi với bà.

Bố mẹ Christian đã ly thân từ khi cậu mới 2 tuổi đầu và từ đó trở đi, ông bố này chẳng mấy khi xuất hiện trong đời cậu bé. Và mặc dù có một người bố tồi tệ đến mấy, thật may mắn sự lương thiện trong Christian chưa bao giờ bị ảnh hưởng. Cuộc đời tội lỗi của Shane thực tế càng khiến cho Christian muốn làm điều hoàn toàn ngược lại.

“Điều này cần được thực hiện”, Christian nói. “Bà ấy cần một câu xin lỗi từ ai đó. Nếu tôi không xin lỗi thì còn ai vào đây?”.

Bà Tona đồng ý gặp mặt Christian vào một buổi chiều, nhưng thứ mà bà không ngờ được đó là ngoài lời xin lỗi, cậu bé còn đưa cho bà 250 USD xem như trả bớt khoản tiền mà Shane đã cướp của bà. Đó cũng là khoản tiền cậu bé dùng để đóng cho chuyến đi cùng với trường học.

“Tôi nghĩ rằng chuyện thằng bé làm là vô cùng đáng trân trọng”, Tona nói. “Bất kỳ cậu bé 15 tuổi nào mà có lương tâm đến như vậy đều là một chuyện phi thường”.

Con trai ten cuop

Với sự biết ơn và trân trọng sâu sắc, bà Tona quyết định trả lại toàn bộ số tiền cho Christian. Tona cho biết đó là tiền của bà nên bà có toàn quyền quyết định sử dụng thế nào. Và thứ mà Tona muốn chính là cậu thiếu niên có thể tham dự vào chuyến đi của trường mình.

Ngày hôm đó, dù không có khoản tiền bồi thường nào được trao nhưng đối với cả Tona và Christian, họ nhận được một giá trị tuyệt vời trong cuộc sống.

“Tôi cảm thấy mình vẫn còn có những mục đích sống”, Tona nói.

“Bạn không phải là bản sao của bố mẹ bạn”, Christian khẳng định. “Cho dù họ nuôi nấng bạn ra sao, bạn mới là người quyết định bạn sẽ trở thành người như thế nào”.

Bài văn điểm 10 về bạn thân

Với đề văn “Hãy kể về người bạn thân nhất của em”, Vũ Ngọc Quỳnh Giang, lớp 10 chuyên Địa, trường THPT Chuyên Nguyễn Huệ (Hà Nội) giành được điểm 10. Tám trang giấy viết tay giúp em giãi bày nỗi buồn khi mất đi người bạn thân vì căn bệnh ung thư máu.

Đoạn đầu bài văn mở ra dòng ký ức về một tình bạn đẹp:

“Mày có bạn thân không? Câu hỏi khá là quen thuộc. Câu trả lời là có, không, nhiều lắm… Đấy là tùy thuộc vào mỗi người. Còn câu trả lời của tôi là “đã từng”. Tôi đã từng có một người bạn thân, thân thiết như chị em trong nhà. Nhưng một căn bệnh quái ác đã mang bạn tôi đi khỏi vòng tay của gia đình, bạn bè và tôi, một cách đột ngột và đau đớn”.

Quỳnh Giang kể lại ngày đầu làm quen với bạn từ năm lớp 4 vì một con gấu bông, hay cảm giác hụt hẫng vào năm cuối tiểu học vì nghĩ không còn được học chung với nhau nữa. Tuy nhiên, việc tiếp tục chung lớp khiến những năm tháng cấp hai của em trở nên nhiều màu sắc. Là người sống nội tâm, Giang dần mở lòng hơn với thế giới nhờ người bạn thân năng nổ, hoạt bát, hay cười. Cả hai giúp nhau học bài, cùng sáng tác truyện tranh, gắn với nhau như hình với bóng.

Đến năm lớp 9, bạn của Giang lâm bệnh, nghỉ học cả tháng, sụt cân và ngày càng tiều tụy. Lần đầu tiên Giang chứng kiến sự đoàn kết của tập thể, khi cả lớp thay phiên chép bài, giảng bài, cố giúp bạn vượt qua kỳ thi cuối kỳ. Tuy nhiên, một lần tới nhà thăm bạn, Giang hoang mang vì câu nói: “Có lẽ là bọn mày nên chuẩn bị sẵn tinh thần đi. Tao không nghĩ là tao qua được Tết năm nay đâu”.

Dù hết lòng cầu nguyện, không có phép màu nào cho người bạn của Giang. Em ra đi vào ngày mồng ba Tết năm ngoái. Giang bị khủng hoảng một thời gian, học tập sa sút, kết quả thi học sinh giỏi không như mong đợi. Nhưng nghĩ đến người bạn phải từ biệt thế gian quá sớm, Giang như được tiếp thêm sức mạnh, nỗ lực cho kỳ thi chuyển cấp.

Giang viết:

“Đã hơn một năm kể từ ngày nó ra đi. Tôi đã bước được một nửa tuổi mười sáu, cái tuổi mạnh nhất, khỏe khoắn nhất. Đạt được ước mơ, vào được ngôi trường mà mình hằng mong ước. Còn nó mãi dừng ở đó, ngưỡng cửa mười lăm đầy khát vọng, hoài bão. Mãi mãi ra đi, để lại mọi thứ, để lại một ước mơ còn đang dang dở, để lại sự đau buồn trong trái tim của những người ở lại. Nhưng tôi biết rằng, ít ra ở thế giới bên kia, nó sẽ không còn phải chịu đau đớn nữa. Không còn những xét nghiệm dài đằng đẵng, những ngày xạ trị đau đớn. Hy vọng ở nơi ấy, thế giới của nó sẽ tốt đẹp hơn”,.

Bên cạnh điểm 10, cô giáo để lại lời phê: “Cô thành thật chia buồn cùng em! Hãy đi tiếp con đường em đã chọn và đi cả cho người bạn của em nữa!

Quỳnh Giang chia sẻ ngày bé từng nhận nhiều điểm kém môn văn. Nhưng đến năm lớp 6, sau một lần được cô giáo khen dùng từ tốt và so sánh hay, em bắt đầu thích viết văn, đặc biệt là văn miêu tả và thuyết minh.

Với bài văn về chủ đề bạn thân, Giang mất ba đêm, mỗi đêm từ hai tiếng rưỡi đến ba tiếng để hoàn thiện bài, do bận bịu với lịch học ban ngày. Kể từ ngày bạn mất, Giang chưa bao giờ nói hết suy nghĩ cho ai, nên bao nhiêu nuối tiếc, xót xa đều trút vào trang giấy.

Giang cho biết:

“Lúc viết xong, em không dám đọc lại, sợ sẽ đứng khóc giữa sân trường. Đến hôm được trả bài, em thực sự rất bất ngờ, vì mặc dù còn nhiều lỗi dùng từ lặp hoặc lủng củng nhưng bài văn vẫn được điểm 10. Trong suốt 10 năm đi học, đây là điểm 10 Văn đầu tiên nên em thấy rất vui”,.

Lần đầu đọc lại những gì mình viết sau khi trả bài, Giang bật khóc. Các bạn chạy lại an ủi, chuyền tay nhau bài văn và khóc theo, dặn đưa bài cho ai nhớ kèm theo bịch khăn giấy.

Chị Bùi Thị Quỳnh, mẹ Giang không kìm được nước mắt khi đọc bài văn điểm 10, muốn nói lời xin lỗi vì những lúc vô tâm, chưa đặt mình vào vị trí của con. Chị nói:

“Mất đi một người bạn thân là mất mát rất lớn, giống như mình mất đi người thân trong gia đình. Tuy nhiên, tôi lại không ở bên con nhiều những lúc đó, có thể con cảm thấy cô đơn. Tôi thấy mình đã vô tâm khi chưa chia sẻ nhiều với con để biết về tình trạng bệnh tật của bạn. Nếu biết, có thể tôi sẽ thu xếp đưa con đến viện, để con không phải hối tiếc khi chưa dành được nhiều thời gian bên bạn”.

Câu chuyện của con giúp chị nhớ lại tuổi học trò với những tình cảm trong sáng, thuần khiết. Tuy nhiên, cuộc sống đầy lo toan của người lớn khiến sự quan tâm, chia sẻ giữa bạn bè trở nên nhạt nhòa hơn trước. Sau khi bài văn của con được chị Quỳnh đăng lên mạng xã hội, hàng trăm người chia sẻ, nhắn nhủ hãy trân trọng tình bạn và đối tốt với nhau hơn.

Lắng nghe tiếng thì thầm

Một giám đốc thành đạt trẻ tuổi phóng chiếc xe hơi thể thao đời mới hiệu Jaguar khá nhanh qua khu phố bên cạnh. Anh dòm chừng bọn trẻ con có thể bất ngờ lao qua từ ngõ hẻm bên đường, và anh giảm tốc độ vì nghĩ hình như vừa thoáng thấy bóng người. Khi xe anh chạy qua, không có bóng đứa trẻ nào. Nhưng bất ngờ, một viên đá bay thẳng vào thân xe. Anh thắng gấp và lùi xe về chỗ viên đá bay ra. Anh nhào khỏi xe, chộp lấy thằng nhóc đang còn đứng đấy và quát to: “Mày nghĩ mày đã làm gì hả nhóc?”

Cơn nóng giận càng bốc lên: “Xe này là xe mới và viên đá của mày sẽ tốn bộn tiền đấy con ạ. Tại sao mày chơi thế hả?”

Cậu bé van xin: “Anh ơi, làm ơn. Em xin lỗi nhưng em không còn cách nào khác… Em phải ném đá vì không ai chịu dừng lại cả…”

Nước mắt chảy dài xuống cằm cậu bé khi cậu nhìn quanh bãi đậu xe. Cậu nói tiếp: “Kia là anh trai của em. Anh ấy ngã khỏi xe lăn nhưng em không thể nào bế anh ấy vào lại được”. Sụt sịt khóc, cậu bé năn nỉ chàng giám đốc: “Anh có thể làm ơn giúp em đưa anh ấy vào lại xe được không ạ? Anh ấy đã bị thương mà anh ấy nặng quá đối với em”.

Nghe thế, chàng giám đốc nuốt cơn giận vào lòng.

Anh giúp chàng trai tật nguyền lên xe lăn, lấy khăn tay lau những vết trầy xước và kiểm tra cẩn thận xem mọi việc đã ổn chưa.

Cậu bé nói với giọng đầy biết ơn: “Cám ơn anh và cầu Chúa phù hộ cho anh”.

Chàng giám đốc nhìn theo dáng cậu bé đang đẩy chiếc xe lăn đi xa dần.

Đoạn đường anh trở lại với chiếc xe hơi đắt tiền của mình sao bỗng trở nên dài đến thế! Và anh không muốn cho sơn lại vết xướt hỏng kia.

Anh muốn giữ lại bằng chứng ấy để nhắc mình đừng đi qua cuộc đời nhanh quá đến nỗi ai đó phải ném đá mới mong được mình chú ý.

Con trai sợ hãi vì gặp người da đen

Đây là một câu chuyện có thật xảy ra ở nước Mỹ.

Có một bà mẹ dẫn cậu con trai 6 tuổi đi chơi. Họ gọi một chiếc taxi, lái xe là một người da đen. Cậu bé 6 tuổi chưa bao giờ nhìn thấy người da đen nên trong lòng sợ hãi.

Trên xe, cậu hỏi mẹ: “Mẹ ơi, người này có phải là người xấu không? Tại sao ông ta lại đen sì như vậy?”

Người lái xe nghe thấy cậu bé hỏi vậy, dẫu biết là trẻ con chưa hiểu chuyện, song anh ta không tránh được cảm giác không vui.

Người mẹ nghe thấy con nói vậy liền trả lời con ngay: “Chú lái xe không phải là người xấu con ạ.”

Cậu con trai im lặng một hồi rồi lại hỏi: “Nếu đã không phải là người xấu, vậy có phải chú ấy đã làm việc gì đó không tốt nên mới bị ông trời trừng phạt không?”

Người lái xe nghe vậy trong lòng lại trào lên cảm giác buồn bã. Anh ta rất muốn nghe xem người mẹ sẽ trả lời câu hỏi của cậu con trai thế nào.

Người mẹ nói: “Không phải đâu con, chú ấy không làm việc gì xấu cả. Con có thấy trong vườn hoa nhà mình không, có rất nhiều loại hoa, có màu hồng, màu trắng, màu vàng…?”

“Vâng, con có thấy ạ.”

“Vậy hạt giống để trồng hoa có phải đều là màu đen không?”

Cậu bé ngẫm nghĩ một lát rồi nói: “Đúng ạ, đều là màu đen ạ.”

“Hạt giống màu đen, lại nở ra những bông hoa nhiều màu sắc sặc sỡ, khiến cho thế giới của chúng ta thêm tươi đẹp, rực rỡ, có đúng thế không?”

“Đúng ạ!” Rồi cậu bé như chợt hiểu ra và nói: “Vậy thì chú lái xe không phải người xấu rồi. Cháu cầu nguyện cho chú luôn vui vẻ.”

Những giọt nước mắt lăn xuống má người lái xe. Anh ta nghĩ: “Mình là người da đen, người da đen trước giờ đều bị người khác coi thường, hôm nay, người phụ nữ da trắng đã dạy con cô ta theo cách ấm áp, dịu dàng, giải tỏa được sự sợ hãi của đứa trẻ đối với mình, cậu bé còn cầu nguyện cho mình nữa, mình phải cảm ơn cô ấy.”

Lúc này, xe đã đến điểm cần đến, người lái xe vội xuống xe mở cửa cho hai mẹ con và nói với giọng điệu rất cảm kích: “Thưa cô, cảm ơn cô, lời nói của cô đã khiến cuộc đời tôi trở nên có giá trị, tràn đầy hi vọng, không còn tối tăm nữa, thực sự cảm ơn cô.”

– – – – – – – – –

Ghi chú: Bài này còn ở trạng thái mở, sẽ được bổ sung khi có thêm mẩu chuyện mới.

Người góp nhặt: Diệp Minh Tâm – tháng 7/2019

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *