Phim hay chuyển thể sách hay

  1. A beautiful mind – Sylvia Nasar
  2. A river runs through it – Norman Maclean
  3. Aftershock – Ling Zhang
  4. Aladdin (trong Nghìn lẻ một đêm)
  5. Anna and the King of Siam – Margaret Landon
  6. Anne of green gables (Anne tóc đỏ dưới chái nhà xanh) – L.M. Montgomery
  7. Atonement – Ian McEwan
  8. Band of brothers – Stephen E. Ambrose
  9. Ben-Hur: A tale of the Christ – Lew Wallace
  10. Biruma no tategoto (Cây đàn Miến Điện, Cây đàn hạc Miến Điện) – Takeyama Michio
  11. Bộ bộ kinh tâm – Tong Hua (Đồng Hoa)
  12. Chí Phèo; Lão Hạc; Sống mòn – Nam Cao
  13. Coffinman: The journal of a Buddhist mortician – Shinmon Aoki
  14. Cold Mountain – Charles Frazier
  15. Dances with wolves (Khiêu vũ với bầy sói) – Michael Blake
  16. Eine zeit zu leben und eine zu sterben (Một thời để yêu và một thời để chết) – Erich Maria Remarque
  17. Emergence: Labeled autistic – Temple Grandin & Margaret M. Scariano
  18. Empire of the Sun (Đế quốc Mặt Trời) – J. G. Ballard
  19. Forrest Gump (Forrest Gump) – Winston Groom
  20. From emperor to citizen: The autobiography of Aisin-Gioro Pu Yi – Pu Yi
  21. Gone with the wind (Cuốn theo chiều gió) – Margaret Mitchell
  22. Harry Potter and the sorcerer’s stone (Harry Potter và hòn đá phù thủy) – J. K. Rowling
  23. Hart’s war – John Katzenbach
  24. Hậu cung Chân Hoàn truyện – Lưu Liễm Tử
  25. Hóng lóu mèng (Hồng lâu mộng) – Tào Tuyết Cần
  26. Hương rừng Cà Mau – Sơn Nam
  27. Inside Hitler’s bunker – Joachim Fest
  28. Jane Eyre – Charlotte Bronte
  29. Jaws – Peter Benchley
  30. Jurassic Park (Công viên kỷ Jura ) – Michael Crichton
  31. The lost world – Michael Crichton
  32. Kane and Abel (Hai số phận) – Jeffrey Archer
  33. Lady Chatterley’s lover (Người tình của phu nhân Chatterley) – D.H. Lawrence
  34. Le tour du monde en 80 jours (Vòng quanh thế giới 80 ngày) – Jules Verne
  35. Le Comte de Monte-Cristo (Bá tước Monte-Cristo) – Alexandre Dumas
  36. Legends of the Fall (Huyền thoại mùa thu) – Jim Harrison
  37. Les misérables (Những người khốn khổ) – Victor Hugo
  38. Life of Pi (Cuộc đời của Pi) – Yann Martel
  39. Lộc Đỉnh Ký – Jin Yong (Kim Dung)
  40. Memoirs of a geisha – Arthur Golden
  41. Midnight Cowboy – James Leo Herlihy
  42. One flew over the cuckoo’s nest (Bay trên tổ chim cúc cu) – Ken Kesey
  43. Out of Africa – Isak Dinesen & Karen Blixen
  44. Papillon (Người tù khổ sai) – Henri Charrière
  45. Prayers for Bobby: A mother’s coming to terms with the suicide of her gay son – Leroy Aarons
  46. Pride and prejudice (Kiêu hãnh và định kiến) – Jane Austen
  47. Shakespeare’s Romeo and Juliet – Michael Rosen (truyện), Jane Ray (minh họa)
  48. Schlinder’s ark; Schlinder’s list (tạm dịch: Danh sách của Schindler) – Thomas Keneally
  49. Sense and sensibility (Lý trí và tình cảm) – Jane Austen
  50. Under the hawthorn tree – Ai Mi (author), Anna Holmwood (translator)
  51. Tam Quốc diễn nghĩa – La Quán Trung
  52. Tắt đèn – Ngô Tất Tố
  53. Tevye the Dairyman and the Railroad Stories – Sholem Aleichem
  54. The boy in the striped pajamas – John Boyne
  55. The bridges of Madison County (Những cây cầu ở quận Madison) – Robert James Waller
  56. The Elephant Man and Other Reminiscences – Frederick Treves
  57. The fault in our stars – John Green
  58. The Godfather – Mario Puzo
  59. The greatest gift: The original story that inspired the christmas classic It’s a wonderful life – Philip Van Doren Stern
  60. The Green Mile – Stephen King
  61. The longest day (Ngày dài nhất) – Cornelius Ryan
  62. The run of his life: The people v. O. J. Simpson của Jeffrey Toobin
  63. Rita Hayworth and the Shawshank redemption (Nhà tù Shawshank) – Stephen King
  64. To kill a mockingbird (Giết con chim nhại) – Harper Lee
  65. Twelve years a slave (12 năm nô lệ) – Solomon Northup
  66. When Heaven and Earth changed places – Le Ly Hayslip, Jay Wurts
  67. Child of war, woman of peace – Le Ly Hayslip, James Hayslip, Jenny Wurts
  68. Анна Каренина (Anna Karenina) – Leon Tolstoy
  69. До́ктор Жива́го (Bác sĩ Zhivago) – Boris Pasternak
  70. Тихий Дон (Sông Don êm đềm) – Mikhail Sholokhov

 

Dẫn nhập

Sách hay, nếu có phim chuyển thể hay thì sách càng được tôn vinh, qua âm thanh, hình ảnh và diễn xuất mà sách không có. Vì thế, ta có thể thưởng thức thêm giá trị của sách. Ngược lại, thật là đáng tiếc khi có sách rất hay nhưng phim chuyển thể không thể lột tả cái hồn của sách.

Trong bài này, người viết giới thiệu những phim chuyển thể thành công tác phẩm hay.

Về sách, người viết tham khảo Điểm Goodreads. Dĩ nhiên là chỉ có giá trị tham khảo tương đối, bởi vì đôi lúc người viết chấm điểm khác với điểm của Goodreads, được ghi trong hai dấu ngoặc vuông [ ].

Sách được đánh giá theo thang điểm từ 0 đến 0. Theo cảm nhận của cá nhân, sách có thể được đánh giá như sau:
từ 4.5 trở lên: tuyệt tác
từ 4.0 đến dưới 4.5: xuất sắc
từ 3.5 đến dưới 4.0: rất hay
từ 3.0 đến dưới 3.5: hay

Về phim, người viết tham khảo IMDb, tức Internet Movie Database – Cơ sở dữ liệu điện ảnh trên Internet. Đó là cơ sở dữ liệu trực tuyến về điện ảnh thế giới, đánh giá phim chiếu rạp, phim tài liệu, phim lẻ TV và phim bộ TV. Dĩ nhiên là chỉ có giá trị tham khảo tương đối, bởi vì người viết xem một số phim được IMDb chấm điểm cao nhưng chẳng thấy hay gì cả!

Phim được đánh giá theo thang điểm từ 0 đến 10. Theo cảm nhận của cá nhân, phim có thể được đánh giá như sau:
Từ 9.0 trở lên: kiệt tác phẩm
8.0 – 8.9: phim xuất sắc
7.6 – 7.9: phim rất hay
7.0 – 7.5: phim hay
6.0 – 6.9: phim khá hay.

Vì một số lý do, người viết cáo lỗi không thể đưa ra nguồn trích dẫn ở đây. Trang web không có tính thương mại này trình bày cảm nhận riêng của người viết, có tham khảo thông tin từ bốn phương, rồi đưa đi bốn phương. Nếu bạn xem qua bài này rồi xem phim được giới thiệu và tìm ra đôi điều hay hay nào đó cho cuộc sống, thì cái tội đạo văn của người viết hẳn sẽ được dung thứ.

A beautiful mind – Sylvia Nasar

Điểm Goodreads: 4.1

Tiểu thuyết của nhà văn Sylvia Nasar được lấy nguyên mẫu của nhà toán học vĩ đại John Forbes Nash Jr. Điểm đáng nói về cuộc đời của John Nash là việc ông từng có một quãng thời gian dài đấu tranh chống lại căn bệnh tâm thần phân liệt, một chứng bệnh mà không ai có thể nghĩ rằng người mắc nó lại có thể theo đuổi được khoa học.

Những miêu tả của Sylvia Nasar về ý chí và nỗ lực của John Nash tạo ấn tượng mạnh. Người ta coi John Nash là biểu tượng của một con người ý chí với sức sống vững bền. Và điều đó càng tiếp thêm sức mạnh cho John Nash theo đuổi công việc nghiên cứu khoa học.

Năm 2015, John Nash mất trong một vụ tai nạn ô tô. Hàng triệu độc giả bày tỏ sự xót thương trước người đàn ông vĩ đại ấy, và họ luôn nhớ đến cuốn sách A beautiful mind giản dị mà ấn tượng đã thay đổi cuộc đời mình.

A beautiful mind (2001)  

IMDb: 8.2
Đạo diễn: Ron Howard
Diễn viên: Russell Crowe, Ed Harris, Jennifer Connelly, Paul Bettany, Adam Goldberg, Judd Hirsch, Josh Lucas, Anthony Rapp, Christopher Plummer

Người ta luôn nói rằng “chiến thắng bản thân là chiến thắng lớn nhất của đời người”. Nên có lẽ mục đích lớn nhất của đời mình là nhận diện ra bản ngã và chinh phục nó. John Nash – nhà kinh tế học, toán học người Mỹ đoạt giải Nobel kinh tế năm 1994 – là một minh chứng rõ nét nhất cho việc chinh phục bản thân mình để sống trọn vẹn ý nghĩa.

Hollywood dựng lại được cuộc đời ông một cách tinh tế và giàu xúc cảm qua phim A beautiful mind để từ đó khán giả lại được thổn thức trước một con người có một cuộc đời vô cùng đặc biệt mà không phải ai cũng biết.

Phim là câu chuyện đầy nghị lực và đáng ngưỡng mộ về John Nash – nhà bác học phi thường của thế kỷ 20.

Phim nhận 4 giải Oscar, bao gồm Phim, Đạo diễn, Kịch bản chuyển thể, và Nữ diễn viên phụ.

A river runs through it – Norman Maclean

Điểm Goodreads: 4.2

Đây là một tác phẩm được xếp vào hàng văn học kinh điển của Mỹ. Norman Maclean là một giáo sư ngôn ngữ dạy văn chương Anh tại Đại học Chicago (Mỹ). Cuốn sách xuất bản lần đầu năm 1976, khi ông đang nghỉ hưu ở tuổi 73 tuổi, ra đời với sự khích lệ rất lớn từ hai đứa con của ông – Jean và John, khi chúng muốn cha viết lại những câu chuyện mà hồi bé cha đã kể cho chúng nghe và câu nói đầy ám ảnh cuối đời của ông nội: “Norman, một ngày nào đó, khi con đã sẵn sàng, con hãy kể cho con cháu nghe chuyện về gia đình mình, nhưng chỉ khi nào con hiểu được chuyện xảy ra và lý do của nó”.

A river runs through it là toàn bộ ký ức của tác giả về vùng đất thời thơ ấu miền Tây Montana của mình với dòng sông Big Blackfoot, nơi hợp lưu của các con sông đầy cá hồi; về gia đình Cơ đốc giáo gốc Scotland và truyền thống câu cá bằng mồi giả, về Paul – người em trai nhỏ hơn ông 3 tuổi, về cha, một mục sư kính Chúa. Norman và Paul lớn lên với tất cả những điều đó, không hề có sự phân chia giữa tôn giáo và câu cá. Rồi mỗi người lớn lên với con đường, ước mơ riêng. Norman thi đỗ vào trường đại học danh tiếng rồi trở thành giảng viên Đại học Chicago, cưới một cô gái địa phương tóc vàng xinh đẹp. Còn Paul, không thể rời xa Montana nên quyết định theo học ở quê nhà, trở thành một phóng viên tờ báo địa phương, đắm chìm với dòng Big Blackfoot và những cuộc đấu trí với cá hồi. Đây cũng là thứ gắn kết gia đình họ lại với nhau. Nhưng nếu Norman chung thủy với “nhịp bốn” và cuộc sống khuôn thước theo kỳ vọng của người cha nghiêm khắc thì Paul ngày càng thoát ra khỏi những ràng buộc đó. Anh ngang tàng, theo đuổi những xúc cảm mạo hiểm, làm bạn với đồn cảnh sát vì đánh lộn, yêu một cô gái da đỏ, chơi những canh bạc lớn tại quán rượu của những tay chơi… A river runs through it là tất cả những gì dịu dàng và thương mến nhất Norman dành cho ký ức đó. Như cha ông từng nói, “Chúng ta có thể yêu thương nhau trọn vẹn mà không cần hiểu nhau một cách trọn vẹn”.

A river runs through it sau khi ra đời trở thành một trong những cuốn sách bán chạy nhất, được in ra nhiều bản trên thế giới và là một trong những cuốn hồi ký được yêu mến nhất về “cuộc sống Mỹ”, “giá trị Mỹ”. 25 năm sau, Annie Proulx, nữ nhà văn nổi tiếng với tác phẩm Brokeback Mountain viết lời đề tựa rằng: “Norman Maclean mất năm 1990, nhưng trong lòng hàng trăm ngàn độc giả, ông vẫn còn sống mãi chừng nào cá vẫn còn bơi và sách vẫn còn được in”.

Phim lẻ: A river runs through it (1992)
Điểm IMDb: 7.3
Đạo diễn: Robert Redford
Diễn viên: Craig Sheffer (Norman), Brad Pitt (Paul), Tom Skerritt (Mục sư Maclean)

Tựa như một album ảnh, A river runs through it không chỉ khiến người xem lặng người trước những khung cảnh đẹp tuyệt vời của miền Tây bang Montana nước Mỹ mà còn đưa người xem quay ngược thời gian, tìm về những ký ức tuổi thơ dịu dàng thương mến với những chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc đời, con người và gia đình. Sự đồng cảm là điều dễ nhận thấy nhất trong “cú bắt tay” giữa nam tài tử kiêm đạo diễn Robert Redford và nhà văn Norman Maclean bởi với những xúc cảm trong A river runs through it, họ đã khiến dòng sông Big Blackfoot mãi cuộn chảy trong lòng người xem.

Một trong những điểm khiến phim luôn giữ được vị trí quan trọng trong lòng khán giả cũng như lọt vào danh sách phim phải xem của điện ảnh thế giới bởi những chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc đời, con người và gia đình. Từ sách lên màn ảnh, qua lời tự sự của Norman, những điều tưởng chừng chỉ đào sâu được trong con chữ bỗng trở nên thấm thía khi đi kèm với khuôn hình và thực sự gây ám ảnh.

Không chỉ tái hiện toàn bộ câu chuyện với những tình tiết, ý tứ được mô tả trong cuốn tiểu thuyết, điều khiến Robert Redford được đề cử giải đạo diễn bởi ông còn chuyển thể được cả sự mượt mà của câu văn thành nhịp điệu trong phim. Không có những cú cắt dựng đột ngột, thay vào đó là sự mềm mại như ký ức chảy về nhưng cũng không thiếu cao trào khiến người xem phải thổn thức theo tiết tấu phim. Dòng Big Blackfoot với giai điệu chỗ mềm mại, chỗ cuộn xoáy, tung bọt vượt ghềnh không chỉ xuyên suốt bộ phim, đồng hành với cuộc sống, số phận nhân vật và còn là cảm hứng chính cho phong cách dựng phim của Robert Redford. Ngoài ra, sự phối hợp tuyệt vời của nhạc phim cũng khiến người xem đồng cảm, lúc reo lên, lúc nín lại rồi thở phào, mỉm cười qua mỗi hành động của nhân vật.

Phim nhận Giải Oscar cho Quay phim sau khi có 4 đề cử cho Kịch bản chuyển thể, Đạo diễn, Quay phim và Nghệ sĩ trẻ.

Theo ẩn ý của người cha tác giả, con cháu họ cần nhận ra điều tốt phải theo và việc xấu phải tránh, vì thế trên tinh thần đó giới trẻ nên xem phim này.

Aftershock – Ling Zhang

Điểm Goodreads: 3.6

Truyện kể về cuộc đời của một cô bé sau trận động đất san phẳng thành phố Tangshan, miền Bắc Trung Quốc, vào ngày 28 tháng 7 năm 1976.

Phim lẻ: Aftershock – Đường Sơn đại địa chấn (2010)

Điểm IMDb: 7.4
Đạo diễn: Xiaogang Feng (Phùng Tiểu Cương)
Diễn viên: Từ Phàm, Trương Tịnh Sơ, Trần Đạo Minh, Fan Xu, Jingchu Zhang, Chen Li, Zi-feng Zhang, Jiajun Zhang, Yi Lu, Daoming Chen

Đường Sơn đại địa chấn không thể thành công nếu thiếu đi diễn xuất tuyệt vời của dàn diễn viên. Trương Tịnh Sơ khiến người xem xúc động khi lột tả tâm lý của một cô gái lớn lên với cơn chấn động về mặt tinh thần khi còn bé. Quá trình thay đổi về mặt nhận thức tình cảm của nhân vật Phương Đăng qua sự thể hiện của người đẹp họ Trương đã thuyết phục người xem. Không thể không nhắc tới nữ diễn viên nhí Chương Tử Phong trong vai Phương Đăng hồi nhỏ. Diễn xuất tự nhiên và đặc biệt là tiếng khóc của Chương Tử Phong để lại những ấn tượng khó có thể phai nhòa trong tâm trí của mỗi khán giả khi xem xong.

Nói về vai diễn của mình, Chương Tử Phong tâm sự: “Cảnh quay bị đè do động đất rất tội nghiệp bởi vì cuối cùng mẹ lại chọn cứu em trai. Nghĩ đến như vậy, cháu liền muốn khóc và không hiểu được tại sao lại chọn em trai chứ? Con gái cũng là con của mẹ mà. Cháu cứ nghĩ như thế…”

Diễn xuất của nữ diễn viên Từ Phàm trong vai bà mẹ Lý Nguyên Ni được đánh giá là xuất sắc và gây xúc động không chỉ cho khán giả mà cả các diễn viên đóng chung với chị. “Tôi còn nhớ cảnh quay chị Phàm phải quỳ trước mặt tôi, thực sự rất là choáng váng. Cách chị ấy thể hiện quả thực rất có sức sống. Đó không phải là kiểu người mẹ cực khổ điển hình, mà là một người mẹ luôn đấu tranh với cuộc sống và rất mạnh mẽ” – Trương Tịnh Sơ nói về người bạn diễn vào vai mẹ mình trong phim.

Phim nhận giải phim hay nhất trong liên hoan phim châu Á-Thái Bình Dương.

Một phim rất đáng xem dù bạn đã đọc sách nguyên tác hay chưa.

Aladdin (trong Nghìn lẻ một đêm)

Điểm Goodreads: 3.8

Đây là bộ sưu tập các truyện dân gian Trung Đông và Nam Á được biên soạn bằng tiếng Ả Rập trong thời đại hoàng kim Hồi giáo. Tác phẩm này được sưu tập qua nhiều thế kỷ bởi nhiều tác giả, dịch giả và học giả khắp Tây Á, Trung Á, Nam Á và Bắc Phi. Bản thân các câu truyện được truy tìm nguồn gốc ngược về nền văn chương và truyện kể dân gian Ả Rập, Ba Tư, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Do Thái và Ai Cập.

Phim lẻ hoạt hình: Aladdin (1992) Điểm IMDb: 8.0

Mạch phim tiếp diễn giống như trong câu chuyện cổ tích, với sự giúp đỡ của những người bạn đồng hành dễ thương, chú khỉ Abu và một tấm thảm bay, Aladdin tìm cách chiếm được trái tim người đẹp Jasmine.

Aladdin 2

Phim Aladdin là sự kết hợp tuyệt vời giữa hình ảnh rực rỡ và âm nhạc sôi động, kết hợp thêm nhiều tình tiết hài hước, khiến cuộc phiêu lưu của Aladdin và thần đèn trở nên rất vui nhộn. Bên cạnh đó, những khoảnh khắc lãng mạn khiến phim có nhiều nét quyến rũ, như cảnh Aladdin cùng công chúa Jasmine ngồi trên thảm bay đến với những kỳ quan thế giới trên nền nhạc A whole new world. Thành công của Aladdin có được không thể không kể đến phần lồng tiếng của Robin Williams góp phần tạo nên một ông thần đèn dễ thương và tinh nghịch, thậm chí còn được khán giả yêu thích hơn cả nhân vật chính Aladdin. Mỗi khi thần đèn xuất hiện, ông ta làm lu mờ tất cả các nhân vật khác bằng phép thuật hài hước của mình.

Anna and the King of Siam – Margaret Landon

Điểm Goodreads: 3.8

Câu chuyện xoay quanh Anna Leonowens, một quả phụ người Anh có một con trai. Anne được mời làm gia sư cho các công chúa và hoàng tử của vua Xiêm La Mongkut (vua Rama IV, trị vì trong khoảng thời gian 1851-1868).

Năm 1862, quả phụ Anna Leonowens người Anh cùng cậu con trai Loius quyết định nhận lời mời của vua Mongkut tới Siam (tên gọi của Thái Lan lúc bấy giờ) để dạy tiếng Anh cho thái tử Chualalongkorn cùng 67 anh chị em cùng cha khác mẹ của cậu. Được mệnh danh là “cha đẻ của nền khoa học và công nghệ hiện đại Thái Lan”, vua Mongkut chứng tỏ tầm nhìn xa trông rộng của mình thông qua cách giáo dục con cái. Ông tin rằng tiếng Anh cùng các trí thức tiến bộ của phương Tây vào thế kỷ 19 là món quà quý giá nhất ông dành cho các con – những người sẽ trở thành chủ nhân của đất nước Siam trong tương lai.

Một trong những học trò của bà là vua tương lai Chulalongkorn. Chịu ảnh hưởng từ Anna, khi lên làm vua, Chulalongkorn lèo lái đất nước Siam từ một nước phong kiến thành một xã hội hiện đại, bãi bỏ chế độ nô lệ, và tiến hành những cải cách khác.

Quyển sách được chuyển thể thành hàng chục vở nhạc kịch và phim.

Phim lẻ: The King and I (1956)
Điểm IMDb: 7.5
Đạo diễn: Walter Lang
Diễn viên: Yul Brynner, Deborah Kerr, Rita Moreno

Phim nhạc kịch, dựa trên tiểu thuyết Anna and the King of Siam và vở nhạc kịch sân khấu.

Phim nhận 5 Giải Oscars: Nam diễn viên chính, Chỉ đạo nghệ thuật, trang phục, Âm thanh, Âm nhạc.

Phim bị cấm chiếu ở Thái Lan. Ngay cả việc mang phim vào Thái Lan cũng bị cấm.

Anne of green gables (Anne tóc đỏ dưới chái nhà xanh) –
L.M. Montgomery

Điểm Goodreads: 4.2

Tác phẩm là tiểu thuyết đầu tay của nhà văn người Canada và là tập đầu tiên của loạt truyện. Tác phẩm được xuất bản lần đầu vào năm 1908 và được dịch ra hơn 30 ngôn ngữ, đưa tên tuổi của L.M. Montgomery nổi tiếng khắp thế giới, trở thành một trong những nhà văn có tác phẩm bán chạy nhất.

Câu chuyện kể về hai anh em Matthew và Marilla Cuthbert xin trại trẻ mồ côi một bé trai khoảng 11 tuổi để nuôi cũng như có thể phụ giúp công việc ở nông trại. Không may thay, một sự nhầm lẫn đã xảy ra, cả hai ngỡ ngàng khi bước ra khỏi tàu là một bé gái tinh nghịch và lắm mồm. Sau đó là chuỗi ngày cả hai phải ra sức nuôi dạy cô bé nên người.

Không hề có những tình tiết li kỳ, hấp dẫn, câu chuyện dẫn dắt người đọc vào những câu chuyện êm đềm và bình dị của vùng quê yên bình, với những người nông dân tốt bụng và giàu lòng thương người. Đôi khi độc giả sẽ bất ngờ với những xáo trộn mà cô bé gây ra tại nông trại, cũng như cảm động với những lãng mạn và tình thương dạt dào của cô bé đối với mọi người xung quanh.

Phim bộ: Anne of Green Gables (1985)
Điểm IMDb: 8.4
Đạo diễn: Kevin Sullivan
Diễn viên: Megan Follows (Anne Shirley), Colleen Dewhurst (Marilla Cuthbert), Richard Farnsworth (Matthew Cuthbert), Patricia Hamilton (Rachel Lynde), Marilyn Lightstone (Miss Muriel Stacy)

Anneofgreengables_02

Gồm 2 tập, dài tổng cộng 3 giờ 19 phút. Người yêu mến cô bé Anne sẽ không thất vọng với phim bộ này, qua sự nhập vai xuất sắc của Megan Follows. Kỹ thuật quay phim đáng khen, ngoại cảnh xinh tươi.

Những phim sau này, hoặc là kể phần tiếp theo hoặc là phim remake, đều không thể sánh bằng.

Atonement – Ian McEwan

Điểm Goodreads: 3.9

Câu chuyện bắt đầu khi cô bé Briony Tallis, do hiểu lầm và tưởng tượng, tố cáo oan cho Robbie (là người yêu của Cecilia, và Celicia là chị ruột của Briony) về tội hiếp dâm Lola (em họ của Briony). Hậu quả là Robbie phải vào tù thay vì vào trường y khoa để thành bác sĩ. Người chị khốn khổ tội nghiệp Celicia không bao giờ tha thứ cho em gái mình là Briony. Rồi Robbie được thả ra với điều kiện phải đăng lính, và anh chiến đấu ở chiến trường Pháp.

Tác phẩm nhận Giải Booker.

Phim lẻ: Atonement (2007)
Điểm IMDb: 7.8
Đạo diễn: Joe Wright
Diễn viên: Ian McEwan, Christopher Hampton

Bằng nhịp kể chậm rãi trên nền nhạc giao hưởng như thôi thúc và dẫn dụ, nhân vật Briony ngồi trực diện trước máy quay, nói ra những bí mật chôn giấu cho đến gần cuối đời. Đó là câu chuyện về một mùa hè nóng nực nào đó trong quá khứ, khi bà còn là cô bé 13 tuổi, say mê văn chương và ôm ấp những giấc mộng của riêng mình… Saoirse Ronan hóa thân xuất sắc vào vai Briony năm 13 tuổi và được đề cử Oscar cho hạng mục Nữ diễn viên phụ.

Joe Wright quả thực sáng suốt khi chọn được bộ ba diễn viên với ánh mắt u uẩn, trống trải đến vô hồn hóa thân vào vai Briony ở các chặng khác nhau trong đời: Saoirse Ronan, Romola Garai, Vanessa Redgrave. Ngoài sự tương đồng về ngoại hình, mỗi Briony đều thể hiện tốt những bước tiến triển trong tâm lý, tính cách của nhân vật.

Tuy nhiên, ấn tượng hơn cả có lẽ phải kể đến Saoirse Ronan – cô bé với mái tóc ngắn cá tính, cử chỉ dứt khoát, lanh lẹ trong chiếc váy trắng vào vai Briony 13 tuổi. Ở cô, người xem nhìn thấy một tham vọng, một ngọn lửa mãnh liệt không thôi nung nấu trong ánh mắt lạnh lùng, tàn nhẫn khi kết tội Robbie.

“Bông hồng nước Anh” Keira Knightney cũng tỏ ra không kém phần gai góc và sắc nét. Một lần nữa, người đàn bà với ánh mắt nồng nàn, đôi môi cháy bỏng chinh phục được trái tim khán giả.

Bên cạnh diễn xuất xuất sắc của các diễn viên, việc lựa chọn phục trang cũng là một điểm nhấn quan trọng về mặt tạo hình của Atonement. Bộ váy trắng thanh thoát, xinh xắn cho kẻ nói dối Briony, hay chiếc váy xanh mềm mại, quý phái khoe lưng trần gợi cảm của Cecilia, trở thành những biểu tượng điện ảnh khó quên trong lòng người hâm mộ.

Đặc biệt, chiếc váy xanh duyên dáng của Keira Knightley trong bộ phim lọt vào top “Trang phục đẹp nhất mọi thời đại” do tạp chí InStyle bình chọn, cùng với chiếc váy đen của Audrey Hepburn trong Breakfast at Tiffanys, chiếc váy trắng của Marilyn Monroe trong The Seven Year Itch và chiếc váy đỏ của Vivien Leigh trong Gone with the Wind.

Người xem cũng sẽ dễ dàng nhận ra những thước phim mang đậm tinh thần duy mỹ của Joe Wright. Không chỉ là sự tỉ mỉ đến từng chi tiết như giấy dán tường, rèm cửa, ly, tách, khuôn viên vườn hoa, những lối đi dưới vòm cây xanh mướt mang đậm chất “quý tộc Anh”, kỹ thuật xử lý ánh sáng tinh tế còn khiến cho từng khuôn hình của Atonement như căng tràn khí trời và tưới đẫm ánh sáng.

Joe Wright dùng chính cái đẹp để nói về tội lỗi và những vết thương đầy nhân bản của con người theo cách ấy. Cũng như trong tối tăm và khốc liệt của chiến tranh, ánh sáng của tình yêu vẫn soi lối, chỉ đường cho ta đi và sống đến tận cùng hy vọng.

Khi ra mắt năm 2007, Atonement nhận vô số lời khen và giành Quả Cầu Vàng cho Phim tâm lý hay nhất. Phim cũng nhận được một Giải Oscar cho Nhạc phim. Sau 7 năm, Atonement vẫn được coi là một trong những bộ phim tâm lý chuyển thể từ tiểu thuyết hay nhất mọi thời đại.

Band of brothers – Stephen E. Ambrose

Điểm Goodreads: 4.4

Câu chuyện có thật được tổng hợp bởi một nhà quân sử nổi tiếng. Cốt chuyện xoay quanh đại đội Easy thuộc Sư đoàn Không vận 101 Hoa Kỳ (đã từng tham chiến ở Việt Nam dưới hình thức di chuyển bằng trực thăng) vào giai đoạn ác liệt nhất của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai trải dài qua các nước Pháp, Hà Lan, với những địa danh đi vào sử sách như Normandy, Bastogne (Hà Lan). Đ cũng là giai đoạn hình thành của Sư đoàn Không vận 101 (Tư lệnh sư đoàn này sau đó làm đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng hòa).

Phim bộ: Band of brothers (2001 TV series)

Điểm IMDb: 9.5 (điểm cao nhất hiện tại cho TV shows và phim]
Đạo diễn: Phil Alden Robinson, Richard Loncraine, Mikael Salomon, David Nutter, Tom Hanks, David Leland, David Frankel, Tony To
Diễn viên: Scott Grimes (Donald G. Malarkey), Damian Lewis (Richard D. Winters), Ron Livingston (Lewis Nixon), Shane Taylor (Eugene G. Roe), Donnie Wahlberg (C. Carwood Lipton), Peter Youngblood Hills (Darrell C. “Shifty” Powers), Matthew Leitch (Floyd M. “Tab” Talbert), Rod Strohl (himself)

Một series 10 tập phim được kênh truyền hình HBO sản xuất, cực kỳ thành công nhờ cách thể hiện rất chân thật và cách dàn dựng nghệ thuật.

Với kinh phí lên đến 125 triệu USD, nghĩa là mỗi tập phim tiêu tốn hết 12,5 triệu USD! – một con số khá lớn cho một phim truyền hình. Tuy nhiên điều đó lại thật sự có ý nghĩa khi mang về thành công ngoài sức tưởng tượng. Band of Brothers giành được 6 giải thưởng trong tổng số 19 đề cử của Emmy Awards, ngoài ra còn lần lượt giành chiến thắng ở các giải của Golden Globe và American Film Institute…

Việc Tom Hanks và đạo diễn lừng danh Steven Spielberg tham gia với vai trò đồng sản xuất như một sự cam kết cho thành công của Band of Brothers. Hanks đồng thời cũng làm đạo diễn cho một trong tổng số 10 tập của phim. Dàn diễn viên thể hiện rất tốt –  nhất là nam diễn viên chính Damian Lewis.

Band of Brothers mang lại ấn tượng sâu sắc cho khán giả yêu thích thể loại phim chiến tranh, đặc biệt là đề tài Chiến tranh thế giới II.

Ben-Hur: A tale of the Christ – Lew Wallace

Điểm Goodreads: 4.0

Sau gần 5 năm chấp bút, cuối cùng tác phẩm Ben-Hur: A Tale of the Christ của tướng Lew Wallace được xuất bản vào năm 1880. Ban đầu sách không thu được thành công, nhưng 2 năm sau vụt trở nên ăn khách và trở thành sách bán chạy lúc ấy.

Tiểu thuyết của vị tướng Wallace được xem là quyển sách về Ki tô giáo có sức ảnh hưởng mạnh nhất Thế kỷ 19. Câu chuyện bắt đầu lúc ba nhà thông thái lên đường đến Bethlehem để tìm đức chúa Jesus mới hạ sinh, và cũng hư cấu thêm nhân vật trung tâm là vị hoàng tử Do Thái, Judah Ben-Hur. Trong câu chuyện, Ben-Hur và Messala là hai người bạn thân nhau từ thuở bé. Lớn lên, lý tưởng, mục đích sống và quan niệm của họ đẩy hai người về hai bên chiến tuyến. Một người phục vụ cho đế chế La Mã, người kia trung thành với Tổ quốc…

Phim lẻ: Ben-Hur (1959)
Điểm IMDb: 8.1
Đạo diễn: William Wyler
Diễn viên: Charlton Heston (Judah Ben-Hur), Stephen Boyd (Messala), Martha Scott (Miriam), Cathy O’donnell (Tirzah), Sam Jaffe (Simonides), Finlay Currie (Balthasar /), Frank Thring (Pontius Pilate), André Morell (Sextus), Terence Longdon (Drusus), George Relph (Tiberius Caesar), Jack Hawkins (Quintus Arrius), Haya Harareet (Esther), Hugh Griffith (Sheik Ilderim)

Suốt hơn nửa thế kỷ qua, phim dài 3 giờ rưỡi này vẫn sừng sững như một tượng đài chắc chắn. Điện ảnh thế giới không hiếm những thiên sử thi vĩ đại mang tầm vóc siêu phẩm đúng nghĩa cả về thương mại lẫn nghệ thuật. Nhưng sẽ không có phim nào sánh nổi với Ben-Hur ra đời cách đây hơn 60 năm, vào thời mà khái niệm kỹ thuật số còn rất lâu nữa mới xuất hiện trên đời.

Trước đó, vào năm 1923, hãng phim MGM mua bản quyền cuốn sách và năm 1925 bỏ ra 4 triệu USD để sản xuất phim. Ben-Hur: A Tale of the Christ trở thành phim tốn kém nhất, vĩ đại nhất và ăn khách nhất trong lịch sử phim câm, được IMDb chấm điểm 8.0. Thập niên 1950, Hãng phim MGM danh tiếng ở bên bờ vực phá sản như các hãng phim khác vì sự tấn công mạnh mẽ của truyền hình. Năm 1954, ban lãnh đạo của hãng quyết định dốc hết vốn liếng chơi một canh bạc chót cực kỳ mạo hiểm: dựng lại Ben-Hur trên màn ảnh đại vĩ tuyến 70 mm.

Lý do những nhà điều hành MGM muốn quay bằng phim 70 mm là tạo ra sự khác biệt về hình ảnh nhằm kéo khán giả đến lại với rạp. Mọi thứ đều rất đắt đỏ và phải đồng bộ từ máy quay, phim (âm bản và dương bản), in tráng, hậu kỳ, đến màn ảnh rạp chiếu… Khi hoàn tất nó sẽ cho ra một bản phim rộng nhất từng được thực hiện là 2.76: 1 – chiều rộng gần gấp ba lần chiều cao, tạo ra một tỷ lệ khung hình cực rộng – điều này cho phép quay những đại cảnh cực kỳ ngoạn mục. Để tăng thêm hiệu quả, Ben-Hur còn kèm theo âm thanh nổi 6 kênh.

Sam Zimbalist, một trong những nhà sản xuất phim thành công nhất từ kỷ nguyên phim câm, đảm nhận trọng trách sản xuất. Ngay lập tức ông mời người bạn thân 2 lần đoạt giải Oscar, William Wyler làm đạo diễn. Wyler trước đó 34 năm từng làm trợ lý đạo diễn cho phim câm Ben-Hur năm 1925. Có nhiều người đặt câu hỏi rằng liệu Wyler thích hợp với chiếc ghế đạo diễn đầy rủi ro này hay không, vì trước đó ông chưa từng thực hiện một phim nào có quy mô vĩ đại như vậy. Một trong những người nêu câu hỏi đó chính là… William Wyler! Vì Zimbalist muốn có được Wyler bằng mọi giá, ông đưa ra lời đề nghị gây choáng váng Hollywood: Một triệu USD! – Số tiền lớn nhất mà một đạo diễn nhận được vào thời điểm đó. “Tôi sẽ làm một phim thực sự thu hút khán giả bất kể họ theo tôn giáo nào”, Wyler hứa chắc như đinh đóng cột.

Một dự án có thể nói là vĩ đại nhất vào thời điểm ấy với khoản đầu tư kinh phí khổng lồ nhưng nhà sản xuất Zimbalist và đạo diễn Wyler lại quyết định thực hiện Ben-Hur tại phim trường lừng danh Cinecitta ở Ý để giảm chi phí. Với độ dài của phim ước lượng khoảng 4 giờ và hàng ngàn vai diễn lớn nhỏ, ngay từ giữa năm 1957, Hãng MGM phải mở văn phòng tuyển chọn diễn viên tại Mỹ, Anh và Ý. Hơn 50.000 ứng cử viên từ khắp mọi nơi đến dự tuyển để chọn ra vài ngàn người.

Do gần như toàn bộ diễn viên trong phim đều là mắt xanh, nên đạo diễn Wyler quyết định rằng, vai vị quan La Mã độc ác Messala – kẻ thù không đội trời chung của Ben-Hur – phải là mắt nâu để phân biệt rõ giữa chính và tà. Stephen Boyd, một diễn viên trẻ đang lên người Ireland, vượt qua nhiều ứng cử viên khác để được chọn vào vai này. Đây cũng là lần đầu tiên một phim của Hollywood tập trung một dàn diễn viên đa quốc gia: Stephen Boyd (Ireland), Haya Harareet (Do Thái), Jack Hawkins (Anh), Hugh Griffith (xứ Wales), Frank Thring (Úc), Marina Berti (Ý), Finlay Currie (Scotland)…

Khó nhất là việc chọn ai thủ vai chính Ben-Hur. Người đầu tiên mà hãng MGM muốn là Paul Newman, nhưng ông từ chối vì trước đó đã thất bại trong một phim sử thi khác về Kinh thánh. Sau đó hàng loạt cái tên được nhắc đến, có cả những ngôi sao lớn như Marlon Brando, Kirk Douglas, Burt Lancaster, Rock Hudson… Hãng MGM thực hiện một việc táo bạo mà lúc ấy chưa hãng phim nào làm: Tổ chức một cuộc thi tuyển vai chính trên khắp thế giới, bất cứ ai cũng có thể dự thi để đóng vai Ben-Hur. Miễn là họ phải nói được tiếng Anh và có một thân hình cường tráng khỏe mạnh. Nhưng thật ra đây chỉ là một chiêu tiếp thị để tạo sự tò mò và gây tiếng vang cho phim. Thực chất họ tìm được người thủ vai này thật hoàn hảo. Đó là Charlton Heston, cao đến 1m98, có thân hình vạm vỡ và một gương mặt được sinh ra chỉ để đóng những nhân vật thần thánh và vĩ nhân.

Năm 1957, sau 2 năm chuẩn bị, đoàn kỹ thuật viên hùng hậu gồm 125 người đến Ý để thực hiện một khối lượng công việc khổng lồ cùng với hàng trăm kỹ thuật viên thiện chiến nhất của phim trường Cinecitta. Toàn thể ngôi làng vùng núi Arcinazzo được cải tạo lại thành Nazareth. Còn cư dân của ngôi làng đó thì tham gia đóng phim, trở thành dân Nazareth. Chỉ riêng việc tái tạo lại thành phố Jerusalem chiếm tới 10 khu phố, bao gồm nhà cửa và những khu vực buôn bán sầm uất cho hàng ngàn người sinh hoạt. Bên cạnh đó là cổng Joppa uy nghi, cao hơn 22m, nơi quay cảnh quân đội La Mã ca khúc khải hoàn.

Để tất cả các bối cảnh đạt đến sự hoành tráng như yêu cầu, các nhà thiết kế nghĩ ra một cách vừa tiết kiệm chi phí, mà lại đạt hiệu quả cao nhất. Đó là vẽ thêm phông nền bối cảnh xung quanh, chứ không cần thiết phải xây dựng toàn bộ như thật. Thực tế chỉ có 40% đại cảnh là dàn dựng như thật, còn lại là ghép với những cảnh vẽ để tạo cảm giác chiều sâu và mức độ hoành tráng của bối cảnh. Như cảnh đoàn quân La Mã ca khúc khải hoàn trên đường phố Roma tráng lệ, thật ra chỉ có phần ở gần máy quay là thật, còn xung quanh là cảnh vẽ.

Khâu thiết kế trang phục mới thật sự phức tạp và tỉ mỉ. Các chuyên gia thiết kế hơn 8.000 mẫu và bản vẽ y phục, trong đó công phu và tốn kém nhất là vật liệu để thực hiện được đặt hàng từ khắp nơi trên thế giới: lụa Thái Lan dùng để may quần áo cho các nhân vật chính, tất cả giày dép làm ở Ý, Đức chế tạo vũ khí, đăng-ten các loại đến từ Pháp, Thụy Sĩ thực hiện quần áo có đính trang sức, và mất một năm ở Anh để thêu trang phục và đóng đồ da… Trên 100.000 bộ trang phục các loại và hơn một triệu đạo cụ được chứa đầy trong 3 tòa nhà cao tầng của phim trường Cinecitta. Hơn 100 thợ chuyên môn phải túc trực thường xuyên, để giữ cho chúng luôn ở trong tình trạng tốt.

Phim Ben-Hur được khán giả nhớ mãi với trường đoạn đua xe tứ mã kinh điển dài 11 phút, hoàn toàn được thực hiện bằng sức người. Hơn nửa thế kỷ qua, nó vẫn được tôn vinh là cảnh hành động ngoạn mục và vĩ đại nhất trong lịch sử điện ảnh.

BenHur_race 2

Trường đua chiến xa là bối cảnh đơn lẻ lớn nhất từng xây dựng vào thời điểm ấy. Hơn 40.000 tấn cát trắng được nhập từ Mexico để xây trường đua này. 18 cỗ xe tứ mã được chế tạo, một nửa được sử dụng cho phim. Xuất hiện trong suốt cuộc đua là 36 con ngựa, nhưng phải nhập tới 82 con từ Nam Tư. Tất cả đều được chọn lựa kỹ càng để phòng khi xảy ra tai nạn và để chúng được luân phiên nghỉ ngơi. Đặc biệt những con bạch mã của Ben-Hur đến từ Lipica, Slovenia – nơi khởi nguồn của giống ngựa “Lipizzaner” trắng như tuyết.

Trong suốt 10 tuần quay cảnh này, 15.000 diễn viên quần chúng được thuê để phủ đầy các khán đài. Tổng cộng chỉ riêng cảnh đua chiến xa tốn khoảng 4 triệu USD, tức gần ¼ tổng kinh phí sản xuất cả phim. Thời ấy, cứ mỗi giờ lại có một chiếc xe chở khách du lịch đến tham quan trường đua vĩ đại này.

Khi đạo diễn Wyler xem phiên bản dựng hoàn chỉnh của cảnh đua chiến xa, ông vô cùng thán phục những gì mà phó đạo diễn Andrew Marton và nhà biên đạo các pha mạo hiểm Yakima Canutt làm được. Wyler khẳng định rằng: “Đó là một trong những kỳ tích điện ảnh vĩ đại nhất” mà ông từng thấy! Tất cả những nhà viết sử điện ảnh của thế giới đều cho rằng: Chỉ riêng cảnh này cũng xứng đáng với giải Oscar! Nó có ảnh hưởng rất lớn tới nhiều thế hệ đạo diễn sau này.

Ben-Hur hoàn tất với độ dài 212 phút, tốn kém đến 15 triệu USD. Nhưng canh bạc mạo hiểm này có đoạn kết có hậu khi công chiếu với 90 triệu USD doanh thu.

Phim nhận 11 giải Oscar: Phim, Nam diễn viên chính, Nam diễn viên phụ, Đạo diễn, Quay phim, Chỉ đạo nghệ thuật, Trang phục, Âm thanh, Film Editing, Hiệu ứng đặc biệt, Âm nhạc.

Phim lẻ: Ben-Hur (2016) Điểm IMDb: 5.7

Phim bị chê bai, chịu lỗ lã nặng.

Biruma no tategoto (Cây đàn Miến Điện, Cây đàn hạc Miến Điện) – Takeyama Michio

Điểm đánh giá của Goodreads: 3.6 [4.0]

Đây là một câu chuyện cảm động, ghi những sinh hoạt của một đại đội binh sĩ Nhật Bản trong rừng nhiệt đới Miến Điện khi họ khám phá thấy rằng những thử thách trong chiến tranh còn cam go, gian khổ nhiều hơn là đương đầu với quân thù. Khí hậu không hợp, đất đai xa lạ, dân chúng khác biệt,tập quán đặc thù, cuộc vật lộn tục để chế ngự lòng nhớ quê hương và những cảm xúc do chiến tranh tạo nên đã biến một người bạn thân thiết thành một người xa lạ – tất cả đã kết hợp lại thành một cầu chuyện hấp dẫn, sinh động.

Phim lẻ Biruma no tategoto – The Burmese harp (1956)

Điểm IMDb: 8.1
Đạo diễn: Kon Ichikawa
Diễn viên: Rentarô Mikuni (Captain Inouye), Shôji Yasui (Mizushima), Jun Hamamura (Ito)

burmese-harp1

Phim chuyển thể thành công cái hồn của sách nguyên tác, gây cảm xúc sâu lắng qua những đoạn như lúc Mizushima chốn các xác chết, hoặc lúc các tù binh Nhật kêu gọi đến nhà sư bên ngoài… nhưng cũng xem là một tuyệt tác về nghệ thuật, đặc biệt là bài Home, sweet home qua giọng hòa ca và tiếng đàn hạc.

Phim nhận Giải đặc biệt San Giorgio tại LHP Venice.

Phim trên Internet có chất lượng quá kém; bạn nên đặt mua đĩa DVD hoặc Blu-Ray để xem trên TV 4K.

Bộ bộ kinh tâm – Tong Hua (Đồng Hoa)

Điểm Goodreads: 4.4

Trương Hiểu là nữ nhân viên văn phòng ở thế kỷ 21 do không may gặp tai nạn ô tô sau đó bị hôn mê bất tỉnh. Từ đó cô bị du hành ngược thời gian về thế kỷ 18 đời nhà Thanh, dưới thời vua Khang Hy giữa lúc các hoàng tử của ông đang tranh giành ngôi báu. Tại đây cô sống dưới thân phận là Mã Nhĩ Thái Nhược Hy, con gái của một quý tộc người Mãn Châu, em gái của Mã Nhĩ Thái Nhược Lan, vợ của Bát A Ca. Cô bị kẹt ở lại trong suốt 21 năm (1704-1725).

Do là một người từ tương lai trở về quá khứ nên cô hoàn toàn không giống những người con gái khác ở thời đại này và do vậy, cô đã làm cho trái tim của biết bao vị a ca rung động vì mình.

Phim bộ: Bộ bộ kinh tâm – Scarlet heart (2011)
Điểm IMDb: 8.1
Đạo diễn: Lâm Ngọc Phân, Lý Quốc Lập, Đặng Vĩ Ân, Ngô Cẩm Nguyên
Quốc gia: Trung Quốc
Số tập: 40 tập
Diễn viên: Lưu Tùng Nhân (Hoàng đế Khang Hy), Lưu Thi Thi (Mã Nhĩ Thái Nhược Hy/Trương Hiểu), Ngô Kỳ Long (Tứ A ca Dận Chân/Ân Chính), Trịnh Gia Dĩnh (Bát A ca Dận Tự), Lâm Canh Tân (Thập tứ A ca Dận Trinh/Dận Đề), Viên Hoằng (Thập tam A ca Dận Tường), Hàn Đống (Cửu A ca Dận Đường), Diệp Tổ Tân (Thập A ca Dận Hề), Trương Lôi (Thái tử Dận Nhưng), Lưu Tâm Du (Bát Trắc Phúc tấn/Nhược Lan)

Bo bo kinh tamTrương Hiểu là nữ nhân viên văn phòng ở thế kỷ 21 do không may gặp tai nạn ô tô sau đó bị hôn mê bất tỉnh. Từ đó cô bị du hành ngược thời gian về thế kỷ 18 đời nhà Thanh, dưới thời vua Khang Hy giữa lúc các hoàng tử của ông đang tranh giành ngôi báu. Tại đây cô sống dưới thân phận là Mã Nhĩ Thái Nhược Hy, con gái của một quý tộc người Mãn Châu, em gái của Mã Nhĩ Thái Nhược Lan, vợ của Bát A Ca. Cô bị kẹt ở lại trong suốt 21 năm (1704-1725).

Trong thời gian đó, cô bị cuốn vào chốn cung đình với những tranh đấu đầy phong vân biến ảo.

Phim thành công lớn, mở đầu cho những tác phẩm về sau bắt chước đề tài xuyên không.

Một số độc giả cho biết sách nguyên tác để lại nhiều cảm xúc cho họ, vì thế có lẽ bạn cũng nên xem cả sách.

Chí Phèo; Lão Hạc; Sống mòn – Nam Cao

Điểm Goodreads cho Chí Phèo: 4.2; cho Lão Hạc: không có (vì là truyện ngắn);
cho Sống mòn: 4.0

Cả ba tác phẩm đều được đưa vào giáo trình bậc trung học.

Phim lẻ: Làng Vũ Đại ngày ấy; Once upon a time in Vu Dai village (1982)
Điểm IMDb: 8.6 (ngang bằng với Seven Samurai, Star Wars: Episode IV – A New Hope, Se7en, The silence of the lambs…)
Đạo diễn: Phạm Văn Khoa
Diễn viên: Đức Lưu (Thị Nở), Bùi Cường (Chí Phèo), Hữu Mười (giáo Thứ), Kim Lân (Lão Hạc)

Phim là tổng hợp của 3 câu chuyện nổi tiếng về các nhân vật trong tác phẩm của Nam Cao: Chí Phèo, Lão HạcSống Mòn.

Phim được xếp vào hàng những tác phẩm kinh điển của điện ảnh Việt Nam thế kỷ 20. Cùng với phim Chị Dậu (1980) cũng được đạo diễn bởi NSND Phạm Văn Khoa thì Làng Vũ Đại ngày ấy được đánh giá là 2 trong số ít các tác phẩm điện ảnh Việt Nam đạt được thành công lớn về nhiều mặt khi khắc họa cuộc sống nông thôn cũng như nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội phong kiến nửa thuộc địa của Việt Nam trước Cách mạng Tháng tám (1945). Nói là số ít bởi phần lớn các phim được coi là xuất sắc nhất của điện ảnh cách mạng Việt Nam đều xoay quanh chủ đề về chiến tranh Việt Nam và người lính.

Phim Làng Vũ Đại ngày ấy dù là một tác phẩm điện ảnh chuyển thể từ ba tác phẩm văn học nổi tiếng, nhưng đạo diễn cho thấy cá tính sáng tạo và đột phá trong nghệ thuật dựng phim.

Đạo diễn để cho một trí thức nông thôn, giáo Thứ, đóng vai trò như chứng nhân lịch sử của ngôi làng đã sinh đẻ ra mình, để thấy hết những bi kịch xóm làng, gia đình diễn ra hàng ngày. Từ đó, phim giúp người xem cảm nhận đến tận cùng những nỗi đau giữa trần thế, những bi kịch cá nhân như Lão Hạc (nhà văn Kim Lân), sống trong quằn quại, cô độc và tuyệt vọng. Để ta thấy một Thị Nở và Chí Phèo với mối tình ngang trái; một giáo Thứ sống mòn sau lũy tre làng, và để thấy một Bá Kiến gian hùng, lộng hành ức hiếp dân lành.

Dù là sự hòa trộn nhưng khán giả không cảm thấy một sự mâu thuẫn hay khiên cưỡng nào. Bởi tính chủ đề xuyên suốt cả phim được đạo diễn Phạm Văn Khoa tôn trọng triệt để. Trong lịch sử nghệ thuật Điện ảnh Việt Nam, ông là đạo diễn đầu tiên tái hiện lại các đề tài trước cách mạng, những tác phẩm văn học nổi tiếng trong dòng văn học hiện thực phê phán 1930-1945. Giá trị nổi bật trong các tác phẩm của ông đem lại “tiếng khóc” cho người xem, sự cảm thông, lòng nhân ái và cả sự căm giận, buộc con người phải suy nghĩ, phải hành động để thay đổi.

Hầu hết các vai diễn trong phim cho đến ngày nay vẫn để lại những ấn tượng khó phai trong ký ức của nhiều thế hệ khán giả Việt Nam.

Làng Vũ Đại ngày ấy cũng cho thấy tính đột phá táo bạo của đạo diễn, Nghệ sĩ Nhân dân Phạm Văn Khoa khi ông dám thực hiện những “cảnh nóng” mà không mấy đạo diễn ở Việt Nam thực hiện ở thời điểm đầu những năm 1980 (trước Đổi Mới).

Rất tiếc, phim không được bảo quản tốt nên chất lượng hình ảnh rất kém.

Coffinman: The journal of a Buddhist mortician – Shinmon Aoki

Goodreads Rating: 3.7

Hồi ký thuật câu chuyện Shinmon Aoki, nhạc công violoncelle, vì bị khó khăn về tài chính nên phải làm việc trong một công ty dịch vụ tang lễ. Trong quyển tự truyện này, anh miêu tả sự chuyển biến trong nội tâm, từ mặc cảm thấp hèn đến nhận thực về sự yên bình đi theo cái chết.

Okuribito – Departures (2008)
IMDb Rating: 8.1
Director: Yôjirô Takita
Stars: Masahiro Motoki, Ryôko Hirosue, Tsutomu Yamazaki, Kazuko Yoshiyuki, Kimiko Yo, Takashi Sasano

Ngay tên phim Okuribito vừa có nghĩa “rời đi” lại vừa có nghĩa “khởi hành” chứa đựng nghĩa kép thú vị. Câu chuyện kể về một người lo hậu sự cho người chết này còn gợi nhớ đến những câu chuyện dung dị mà vĩ đại xứ hoa anh đào như Ikiru hay After Life.

Phim kể về Daigo Kobayashi, một nhạc công viôlôngxen trẻ tuổi. Daigo có đam mê từ nhỏ là được chơi đàn viôlôngxen, nhưng trớ trêu cho anh, chẳng bao lâu sau khi anh gia nhập một dàn nhạc giao hưởng, nhà hát ngừng hoạt động và anh rơi vào cảnh thất nghiệp. Sau biến cố đó, Daigo trở nên hoàn toàn lạc lối trước cuộc đời. Anh quyết định cùng vợ về quê hương sống trong ngôi nhà của người mẹ đã khuất, nơi anh phải đối mặt với những kỷ niệm về người cha đã bỏ rơi anh từ thuở nhỏ. Một lần tình cờ đọc mẩu quảng cáo trên báo, Daigo tìm đến một cơ sở làm dịch vụ liệm xác người chết.

Departures (1)Đây là một phim giản dị và cảm động. Giản dị bởi phim không có những tình tiết quá phức tạp, lắt léo, cũng không có cách thể hiện quá đặc biệt, khác thường. Cảm động vì phim mô tả cái chết và cái nhìn của con người về cái chết một cách gần gũi và chân thực. Những cảnh tang lễ trong phim hẳn sẽ khiến nhiều người xem phải rơi nước mắt trước những xúc cảm phức tạp của những gia đình có người thân mới qua đời. Mỗi gia đình có những tình cảnh, những vấn đề khác nhau, nên những lễ tang diễn ra không giống nhau. Có những tang lễ ồn ào, đau đớn, bi thiết, nhưng cũng có những tang lễ lặng lẽ, trầm buồn. Có tang lễ nặng nề, u ám, nhưng cũng có tang lễ nhẹ nhàng như một buổi tiễn biệt dành cho người đã khuất. Nguyên nhân những cái chết cũng khác nhau: có người chết vì già yếu, không người thân thích hoặc bị con cháu bỏ rơi, có người chết vì tự tử, có người vì bệnh tật mà chết, lại có người do tai nạn mà qua đời khi tuổi đời còn rất trẻ, để lại bao thương tiếc cho người thân. Những cái chết cũng như chính cuộc đời: đa dạng, phức tạp, đôi khi hoàn toàn bất ngờ và không thể dự đoán.

Departures cho thấy cái cách người Nhật sống trọn vẹn trong từng khoảnh khắc kể cả cái chết, là cách họ tự tại và an nhiên đối diện với cuộc đời vô thường luôn đổi thay, khó đoán định.

Đây là phim đầu tiên do Nhật Bản sản xuất nhận Giải Oscar cho Phim ngoại ngữ hay nhất.

Cold Mountain – Charles Frazier

Goodreads Rating: 3.8

Vừa là một truyện tình vừa là một cuộc phiêu lưu từ cuộc Nội chiến trở về quên nhà, tiểu thuyết Cold Mountain dựa trên lịch sử địa phương và những câu chuyện gia đình được truyền từ ông sơ (cha ông cố) của tác giả. Người lính miền Nam Inman xa rời cảnh bắn giết để đi về với người yêu ở quê nhà, Ada, băng qua những quang cảnh tang thương do cuộc nội chiến để lại. Trong khi đó, Ada đang cố gắng duy trì trang trại của người cha với sự trợ giúp của một kẻ không nhà nhưng gan dạ tên Ruby.

Phim lẻ: Cold Mountain (2003)
Đạo diễn: Anthony Minghella
Diễn viên: Jude Law (Inman), Nicole Kidman (Ada), Renée Zellweger (Ruby)
IMDb: 7.2

Cold Mountain là một thiên trường ca kiểu cổ điển, được tám đề cử Quả Cầu Vàng (thắng 1) và bảy đề cử Oscar (thắng 1). Phim là câu chuyện về một đôi nam nữ trông ngóng nhau giữa một nước Mỹ hoang tàn vì nội chiến. Phim kể về cuộc trường chinh của Inman, một người đào ngũ chán chiến tranh cố tìm đường về nhà gặp người anh yêu. Dựa trên tiểu thuyết best-seller của Charles Frazier, phim nêu bật sự tàn nhẫn của chiến trường.

Cold Mountain chia thành hai đoạn, một là Inman trên chiến trường và trên đường về nhà, phần khác là cô gái Ada ở hậu phương. Với cuộc tình giữa thời nội chiến, phim gợi nhắc người ta về Cuốn theo chiều gió. Nhưng về nhiều mặt, Anthony Minghella khiến cho Cold Mountain còn sâu sắc hơn tác phẩm kinh điển năm 1939 bằng tài khai thác các quan hệ tình cảm trong phim. Quan hệ giữa Ada và Inman thể hiện nhiều qua các lời kể gián tiếp trong phim, hơn là qua thời gian họ xuất hiện cùng lúc trên màn ảnh. Đa phần thời gian của phim tập trung vào hành trình tìm kiếm của Inman nhằm quay về với Ada.

Cold Mountain thành công nhờ một kịch bản hay chuyển thể từ một tác phẩm hay – tác phẩm là một thiên hùng ca về chiến tranh, về cách mà chiến tranh bóp méo cuộc sống con người. Nhưng không phải tất cả đều đen tối vì ở tận cùng của nỗi kinh hoàng vẫn còn có một câu chuyện nói về lòng dũng cảm của con người giữa hoang tàn đổ nát. Đó là câu chuyện về một đôi tình nhân vượt qua thử thách để giữ gìn phẩm cách, vượt qua bao hành trình khắc nghiệt bằng sức mạnh từ nỗi khao khát được bên nhau…

Cold Mountain – Bản ballad trữ tình

Đây là một tác phẩm mang chất văn học đậm đặc, là bức tranh phong cảnh tĩnh lặng. Cold Mountain đề cập đến nhiều vấn đề: tình yêu, chiến tranh, yếu tố hài hước, và cả những trường đoạn tạo cảm giác gay cấn, hồi hộp. Thành công của đạo diễn Minghella trong phim này là, với con mắt tinh tế và sự nhạy cảm nhà nghề, ông tìm ra được những diễn viên phù hợp. Jude Law đã vào một số vai chính, nhưng bộ phim này mới chứng kiến bước đột phá của anh, hóa thân thành người lính bị thương trong trận đánh mở màn đầy khốc liệt, tự mình lê về nhà với người con gái anh yêu. Qua diễn xuất và vẻ đẹp tuyệt vời của Kidman, người xem hiểu được tại sao, trong những giờ phút đau đớn đến tuyệt vọng, một người lính bị thương nặng đến thế vẫn quyết tâm sống sót trở về. Kidman thực sự làm bừng sáng màn ảnh, cô cùng Jude Law thổi bùng câu chuyện tình yêu và làm sống động cả một thiên sử thi hùng tráng.

Cũng giống như tiểu thuyết, bộ phim cố ý tạo khoảng cách cho hai nhân vật chính. Inman xa cách Ada trong những chuyến đi, gặp gỡ với một bà quả phụ cô độc (Natalie Portman đóng) hay một gã thuyết giáo dâm đãng (Philip Seymour Hoffman). Trong khi đó Ada bận rộn với công việc trang trại cùng Ruby. Ai ai cũng mang một nét gì đó bí hiểm và khó hiểu. Trong miền núi lạnh, với không khí chiến tranh, sự bí hiểm như càng tăng lên, và người xem như bị cuốn vào một thế giới khác.

Dances with wolves (Khiêu vũ với bầy sói) – Michael Blake

Điểm Goodreads: 4.2

Đại tá John Dunbar phiêu bạt đến một bộ lạc người da đỏ và được bộ lạc cưu mang. Cuộc sống êm đềm diễn ra giữa thiên nhiên hoang dã và những con người hồn nhiên, đặc biệt tình yêu nảy nở giữa anh và một người con gái da trắng được bộ lạc này nuôi dưỡng từ nhỏ.

Năm 1836, khi chiến tranh còn đang giai đoạn nóng bỏng, đại tá John Dunbar vừa thoát chết sau một cuộc giao tranh với một bên chân bị thương nặng. Các bác sĩ ở bệnh viện Union Field tại Tennessee không thể cắt bỏ nó, đau đớn đến cùng cực tưởng như không thể chịu đựng được nữa, Dunbar tuyệt vọng và suýt nữa tự tử.

Đột nhiên trong lúc tuyệt vọng và lang thang ở biên giới phía tây, Dunbar bắt gặp một con sói tên là Two-Socks và bộ lạc người da đỏ Sioux. Anh được họ cưu mang, và đặt tên cho anh là “Dances With Wolves”. Thời gian đầu thực sự khó hòa nhập với những người da đỏ xa lạ. Anh phải quan sát học tập theo lối sống và cách xử sự của họ, kể cả ngôn ngữ của người da đỏ.

Phim lẻ: Dances with wolves (1990)
Điểm IMDb: 8.0
Đạo diễn: Kevin Costner
Diễn viên: Kevin Costner, Mary McDonnell

Tiểu thuyết của Michael Blake tuy hay nhưng không nổi tiếng lắm; riêng phim chuyển thể thì tuyệt vời, được đề cử 12 giải Oscar và nhận 7 giải: Phim, Đạo diễn, Kịch bản, Quay phim, Âm thanh, Biên tập, Âm nhạc.

Đây là phim về miền viễn Tây hoang dã đầu tiên nhận được giải Oscar phim hay nhất kể từ năm 1931 (phim Cimarron).

Dances with wolves 2Ngay từ cái tựa, Dances with wolves có thể khiến khán giả liên tưởng đến một câu chuyện lãng mạn ở miền Tây hoang dã. Tình yêu giữa John Dunbar và cô gái Stands With A Fist được xây dựng một cách tuyệt vời. Những bi kịch đằng sau mỗi nhân vật đều tạo nên các mối liên kết họ với nhau. Tuy nhiên, những gì mà phim đem đến cho khán giả còn nhiều hơn thế. Khán giả có được một cái nhìn chân thực về miền Tây nước Mỹ thuở sơ khai. Đặc biệt, Dances with wolves còn lột tả chi tiết tính cách của người thổ dân da đỏ, điều vốn thường xuyên bị đặt ngoài lề trong các phim Mỹ.

Có một câu chuyện đầy hấp dẫn nhưng chính ê-kíp diễn viên tài năng của Dances with wolves làm phim càng trở nên đáng xem. Nhiều người đánh giá rằng vai diễn John Dunbar trong phim chính là một trong những cột mốc sáng chói nhất trong sự nghiệp diễn xuất của Kevin Costner. Nam diễn viên có những điều chỉnh hết sức hài hòa với quá trình tiến hóa của nhân vật trong suốt phim. Điều này cũng một phần là nhờ Dances with wolves thực hiện quay phim theo thứ tự câu chuyện nên các diễn viên dễ dàng thể hiện sự thay đổi của nhân vật hơn.

Nữ diễn viên Mary McDonnel cũng để lại một dấu ấn đáng kể. Nhân vật cô gái da trắng lớn lên trong bộ lạc gia đỏ Stands With A Fist của cô phải sống giữa hai thế giới khác biệt và Mary McDonnel thể hiện xuất sắc điều này. Bên cạnh đó, nam diễn viên Graham Greene cũng tạo nên một dấu ấn với vai diễn ông già da đỏ Sioux thông thái và hay tìm hiểu.

Nhưng không chỉ có ba diễn viên mà diễn xuất của họ từ phim này được thừa nhận bằng các đề cử giải Oscar, những diễn viên phụ cũng đóng các vai trò quan trọng trong việc hấp dẫn khán giả. Có thể kể đến như Robert Pastorelli với nhân vật người giao liên Timmons khiến nhiều khán giả phải yêu mến.

Đối với thể loại phim như Dances with wolves, yếu tố hình ảnh là một trong những điều then chốt tạo nên thành công của phim. Nhà quay phim Dean Semler không để người xem phải thất vọng. Ông nắm bắt và truyền tải đến khán giả những hình ảnh hoành tráng và đẹp nao lòng về miền Tây hoang dã nước Mỹ thế kỷ XIX. Những cảnh hành động và các tình huống lãng mạn của phim tận dụng tối đa vẻ đẹp thiên nhiên của miền Tây nước Mỹ.

Bổ sung vào những hình ảnh tuyệt đẹp của Dean Semler là tài năng dựng phim của Neil Travis, người cũng được trao giải Oscar cho công việc của mình. Dù phim có độ dài đến 3 giờ nhưng Neil Travis với kỹ thuật dựng phim khéo léo khiến khán giả không hề cảm thấy sốt ruột khi xem. Để thực hiện cảnh quay với đàn bò rừng đang chạy, đoàn phim phải mất cả một ngày chỉ để quay được một lần. Lý do là vì bò rừng mỗi lần chạy phải mất khoảng 10 dặm chúng mới dừng lại được và phải mất cả ngày để gom chúng lại

Đóng góp vào một phần cho sự thành công của Dances with wolves là những bản nhạc phim do John Barry sáng tác. Nhiều chuyên gia điện ảnh nhận định rằng đây là một trong những phim về miền viễn Tây có nhạc phim hay nhất mọi thời đại.

Sự mạnh mẽ và cảm xúc trong nhạc phim kết hợp rất hài hòa và làm nổi bật những điểm nhấn. Nhạc phim Dances with wolves đem về cho John Barry giải Oscar thứ năm trong sự nghiệp của nhà soạn nhạc vĩ đại này.

Bên cạnh những giải Oscar giành được, Dances with wolves còn nhận được đề cử cho hạng mục Thiết kế trang phục xuất sắc nhất và Thiết kế bối cảnh xuất sắc nhất. Có thể nói là mọi góc cạnh cấu thành nên phim đều được thực hiện hoàn hảo bởi một ê-kíp xuất sắc. Chính vì thế mà phim nhận được sự tán dương từ cả giới chuyên môn lẫn khán giả đại chúng.

Sự thành công của Dances with wolves còn tăng lên khi phim được chọn vào danh mục lưu trữ quốc gia của Thư viện Quốc hội Mỹ.

Bạn không cần đọc sách, chỉ xem phim này là đủ.

Eine zeit zu leben und eine zu sterben
(Một thời để yêu và một thời để chết)
– Erich Maria Remarque

Điểm Goodreads: 4.4

Nhân vật chính là Ernet Graber, từ mặt trận Nga được nghỉ phép trở về quê hương, Graber đã chờ đợi hai năm mới có dịp may bất ngờ này. Suốt trên đường về, anh chỉ thấy cảnh tàn phá thê lương như ở mặt trận cộng thêm với nhiều mối lo mới, anh không tìm thấy mái nhà của mình trong đống gạch vụn, không tin tức của cha mẹ, Graber không biết họ còn sống, hay chết, hay mất tích. Trong hoàn cảnh như thế anh tiếp xúc với bất cứ người dân nào trong thành phố quê hương của anh, Graber cũng chỉ nhận thấy sự sợ hãi, oán hờn và dối trá dưới những hình thức khác nhau. Thế rồi Graber tình cờ gặp cô bạn cũ Elisabeth Kruse, con gái của một trí thức phản kháng. Họ yêu nhau, họ nói tiếng yêu một lần trong đời mãnh liệt nhất, làm rung động người đọc nhất. Tình yêu của đôi bạn được mô tả là tình yêu của những đứa trẻ vì chiến tranh bị “bỏ rơi và mồ côi”.

Tiểu thuyết này nằm trong số sách bị Đức Quốc xã tịch thu đem đi đốt, vì bị gán cho nội dung phản chiến.

A time to love and a time to die (1958)
IMDb: 7.7
Đạo diễn: Douglas Sirk
Diễn viên: John Gavin, Liselotte Pulver, Jock Mahoney, Don DeFore, Keenan Wynn, Erich Maria Remarque, Dieter Borsche

Sau khi tôi đọc xong sách nguyên tác, một cảm giác man mác khó tả còn vương vấn trong tim tôi khá lâu. Cũng cùng cảm giác như thế sau khi tôi xem phim này.

Đây là tình yêu của hai con người bị lưu lạc trong bom đạn. Họ làm đám cưới trong căn phòng mà nhân viên của tòa thị chính ngồi dưới một hàng giây thừng trơn và thừng có nút được móc lên tường, trang trí cho tấm ảnh Hitler và một cây thập ngoặc với con phượng hoàng Đức.

Sirk_ATtLaaTtD2Tình yêu trong phim không hề thiếu sự ngọt ngào, nồng nhiệt của đôi lứa, nhưng nó bàng bạc một nỗi buồn, một nỗi sợ của con người không biết thời cuộc sẽ về đâu, nhưng nó vẫn đẹp như tình yêu vốn là như thế. Erich không mang sex vào cuộc tình của họ, không nói một chút gì về cảnh nóng trong toàn bộ câu chuyện tình yêu, nhưng chúng ta vẫn thấy được, nhận ra được giây phút mặn nồng mà cuộc sống lứa đôi đem lại.

Emergence: Labeled autistic
Temple Grandin & Margaret M. Scariano

Điểm Goodreads: 4.1

Đây là câu chuyện có thật, vừa gây xúc động vừa tạo nguồn cảm hứng một cách khác thường cho người đọc. Chuyện kể về Temple Grandin, khi còn nhỏ mắc bệnh tự kỷ, bắt buộc phải rời trường học “bình thường” để đến học ở trường dành cho trẻ em tự kỷ. Dần dà bà Temple Grandin lấy bằng Tiến sĩ, được phong Giáo sư, và làm tác giả của 1/3 cơ sở chăn dắt gia súc. Đó là nhờ bà suy nghĩ, cảm nhận và kinh qua cuộc đời theo cách mà người bình thường không thể hiểu được.

Phim lẻ: Temple Grandin (TV Movie 2010)
Điểm IMDb: 8.2
Đạo diễn: Mick Jackson
Diễn viên: Claire Danes, Julia Ormond, David Strathairn, Catherine O’Hara, Stephanie Faracy, Barry Tubb, Melissa Farman, Jenna Hughes, Michael Crabtree, Charles Baker, David Born, Clark Perry

Temple Grandin  mắc chứng tự kỷ từ thời trẻ, trải qua điều trị kịp thời và với ý chí vô cùng mạnh mẽ, trở thành một trong những câu chuyện thành công nhất nước Mỹ. Phim do HBO sản xuất, nói về những chẩn đoán sớm của Temple; sự tăng trưởng và phát triển bất thường của cô trong thời gian đi học; sự hỗ trợ kiên trì của mẹ, dì và giáo viên khoa học; và sự nhạy cảm thiên bẩm nổi trội của cô và hiểu biết về hành vi của loài vật. Không nản lòng trước những hạn chế về giáo dục, xã hội và chuyên môn, Temple biến tài năng độc nhất của mình thành một công cụ cách mạng hóa ngành công nghiệp chăn nuôi và đặt nền móng cho sự nghiệp thành công của cô trong vai trò tác giả, nhà văn và người tiên phong ủng hộ giáo dục trẻ tự kỷ và bị rối loạn tự kỷ.

Empire of the Sun (Đế quốc Mặt Trời) – J. G. Ballard

Điểm Goodreads: 4.0

Truyện kể về những ngày tháng bươn chãi để tồn tại của cậu bé Jim Graham thất lạc cha mẹ, sống trong trại tập trung của quân Nhật tại Thượng Hải trong thế chiến thứ 2.

Cuốn tiểu thuyết ra đời 40 năm sau khi sự kiện xảy ra, nhưng tác giả giải thích: “phải mất 20 năm để quên Thượng Hải và 20 năm nhớ về nó.” – AFP

Nhà văn J.G. Ballard (1930-2009) viết trong tự truyện Miracles of life, cho biết: “Một vài sự kiện mà tôi mô tả là tưởng tượng, nhưng Empire of the Sun là cuốn tiểu thuyết được viết dựa trên những trải nghiệm thực sự, những gì do chính tôi trải qua hoặc những trại viên khác kể cho tôi.”

Không dấu tích tưởng niệm, trại tập trung ở Thượng Hải trước đây trở nên nổi tiếng do cuốn tiểu thuyết của J.G. Ballard, nơi quân đội Nhật giam giữ hơn 1800 người nước ngoài trong Chiến tranh Thế giới II, nay là một trường học ưu tú do chính phủ điều hành nằm ở ngoại ô phía nam Thượng Hải. Học sinh Trung Quốc trường này không hề hay biết các tù nhân đã từng ngủ trong các dãy nhà lớp học màu xám của chúng bây giờ.

Phim lẻ: Empire of the Sun (1987)
Điểm IMDb: 7.8
Diễn viên: Christian Bale, John Malkovich, Miranda Richardson, Nigel Havers, Joe Pantoliano, Leslie Phillips
Đạo diễn: Steven Spielberg

Empire of the Sun 2

Nhân vật chính chỉ là một cậu bé nhưng phim thì tuyệt vời cho mọi lứa tuổi.

Tài năng diễn xuất của Christian Bale nhanh chóng phát triển từ nhỏ và trở nên nổi tiếng khi tham gia đóng vai chính. Từ phim này, điện ảnh thế giới biết đến một “nhóc” Christian Bale có năng khiếu qua tài đạo diễn bậc thầy của Steven Spielberg. Christian Bale năm đó tròn 13 tuổi, vào vai một cậu bé Anh sống ở đất Thượng Hải bị lạc và đi tìm bố mẹ trong trại tỵ nạn của Nhật Bản thời Thế chiến thứ 2. Vai diễn cực kỳ thành công và ấn tượng đến mức Hội đồng phê bình phim Quốc gia của Mỹ đặt riêng một giải thưởng Diễn xuất của một thiếu niên để trao cho Christian Bale.

Forrest Gump (Forrest Gump) – Winston Groom

Điểm Goodreads: 4.1

Nhân vật Forrest Gump được tác giả xây dựng như một người “tự kỷ bác học”, có chỉ số IQ (chỉ số thông minh) chỉ có 75 nhưng đi khắp nơi và gặp đủ loại người. Cuộc phiêu lưu của Forrest Gump suốt ba thập niên bao trùm lịch sử sau thế chiến II đã vẽ nên chân dung một nước Mỹ: Gump đã gặp 2 tổng thống Mỹ, lên tàu vũ trụ, đóng phim ở Hollywood, đánh bóng bàn ở Trung Quốc, tham chiến ở Việt Nam mà không hiểu mình chiến đấu vì lẽ gì.

Gump là một chàng trai ngốc dễ thương, sẵn sàng cho người khác mà không mong đợi được đền đáp. Đó cũng là giá trị nhân văn nổi bật được chia sẻ nhất quán ở cả tác phẩm văn học và điện ảnh và khiến người đọc cũng như người xem mãi hâm mộ nhân vật này.

Trước khi được chuyển thể, cuốn sách đã được bán 30.000 bản, và khi phim Forrest Gump giành giải Oscar cho Phim hay nhất, đã có 1,7 triệu bản sách được bán trên khắp thế giới.

Phim lẻ: Forrest Gump (1994)
Điểm IMDb: 8.7
Đạo diễn: Robert Zemeckis
Diễn viên: Tom Hanks, Robin Wright Penn, Gary Sinise, Mykelti Williamson

Sự khác biệt ở hình tượng Forrest Gump giữa truyện và phim dường như là nhà văn chủ ý xây dựng một nhân vật phản anh hùng, trong khi các nhà làm phim Hollywood thực hiện theo hướng ngược lại: người hùng kiểu mới có kết cục thành công mang màu sắc Giấc mơ Mỹ.

Nội dung của phim trải dài xuyên suốt một thời kỳ lịch sử của nước Mỹ. Người xem trải qua nhiều cảm xúc khi xem phim: từ cảm thông, bất ngờ, xúc động đến hi vọng rồi lại thất vọng. Cuộc đời của Forrest là mảnh ghép của rất nhiều người Mỹ trong thập niên 60-70 của thế kỉ trước. Khán giả thực sự xúc động mạnh trước tình mẫu tử của mẹ con Forrest niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống mà bà truyền cho con trai. Chúng ta cũng không khỏi động lòng trước tình yêu giản dị và chân thành mà Forrest giành cho Jenny với câu nói bất hủ: “Anh không phải là một người thông minh nhưng anh biết tình yêu là gì”.

Trong phim có những đoạn mà Forrest gặp những nhân vật lịch sử như Tổng thống Kennedy và Nixon, John Lennon. Nhà sản xuất sử dụng các đoạn phim tài liệu và cắt ghép đưa hình của Tom Hanks vào đồng thời xử lý môi của Kennedy để lời thoại thật khớp. Ngoài ra các đoạn Forrest cõng Bubba vượt qua mưa đạn hay Forrest thi đấu bóng bàn với tay vợt Trung Quốc, và đặc biệt là xử lý đôi chân của trung úy Dan, giúp anh bơi trong nước y như một người bị cụt chân thật. Những kỹ xảo này giúp cho phim đoạt giải Oscar về Hiệu ứng đặc biệt.

Chi phí sản xuất chỉ 55 triệu USD nhưng phim thu về đến 677 triệu USD, xếp thứ tư trong các phim có doanh thu lớn nhất mọi thời đại cho đến thời điểm đó.

Forrest Gump còn giành được đến 6 giải Oscar cho các hạng mục Phim, Đạo diễn, Nam diễn viên chính, Biên kịch, Dựng phim, Hiệu ứng đặc biệt. Bộ phim này cũng mang đến lần thứ 2 liên tiếp nam diễn viên Tom Hanks đoạt giải Oscar.

Một điểm xuất sắc của bộ phim này là diễn xuất tuyệt vời của Tom Hanks. Là một diễn viên điển trai nhưng Tom Hanks “thu mình” vừa vặn cho một vai diễn thiểu năng như Forrest Gump. Nhưng hoàn toàn không phải sự ngốc nghếch khiến người khác coi thường. Forrest Gump của Tom Hanks luôn rực rỡ ánh sáng, ngay cả lúc ngượng nghịu phát biểu những câu ngu xuẩn trên truyền hình. Đóng các vai diễn thiểu năng nhiều diễn viên khác đã làm, nhưng tỏa sáng với vai diễn thiểu năng, có lẽ chỉ có Tom Hanks.

Năm 2011, Thư viện Quốc hội Mỹ chọn phim Forrest Gump vào khu bảo tồn của Cơ quan Lưu trữ Phim ảnh Quốc gia vì “có ý nghĩa về mặt văn hóa, lịch sử và mỹ học.”

From emperor to citizen: The autobiography of Aisin-Gioro Pu Yi
Pu Yi

Điểm Goodreads: 3.7

Vào thập niên 1960, nới sự cổ vũ của Mao Trạch Đông và sau đó là Thủ tướng Chu Ân Lai, cũng được Chính phủ công khai tán thành, Phổ Nghi viết tự truyện Nửa cuộc đời trước đây của tôi (我的前半生; bản dịch tiếng Anh có tên From Emperor to citizen) cùng với Lý Văn Đạt, một biên tập viên của Cục Xuất bản Nhân dân Bắc Kinh.

Đây là cuốn tự truyện của Phổ Nghi, vị hoàng đế thứ 12 và là hoàng đế cuối cùng của triều đại Mãn Thanh nói riêng và của chế độ quân chủ trong lịch sử Trung Quốc nói chung. Ông lên ngôi lúc 2 tuổi, thoái vị năm 1912 khi Cách mạng Tân Hợi bùng nổ và được Phát xít Nhật đưa lên làm hoàng đế bù nhìn của Đại Mãn Châu Đế quốc ở Đông Bắc Trung Hoa năm 1934. Năm 1945, ông bị Quân đội Xô viết bắt. Từ năm 1949 đến 1959, ông bị Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quản thúc, giam giữ. Tháng 12 năm 1959, ông được tha và sống ở Bắc Kinh như một thường dân cho đến khi qua đời.

Phim lẻ: The last emperor (1984)
Điểm IMDb: 7.8
Đạo diễn: Bernardo Bertolucci
Diễn viên: John Lone (Pu Yi – adult), Joan Chen (Wan Jung), Peter O’toole (Reginald ‘R. J.’ Johnston), Victor Wong (Chen Pao Shen), Ryuichi Sakamoto (Amakasu), Ric Young (Interrogator), Vivian Wu (Wen Hsiu), Cary-Hiroyuki Tagawa (Chang), Richard Vuu (Pu Yi – 3 years), Ruocheng Ying (the governor), Dennis Dun (Big Li), Maggie Han (Eastern Jewel), Jade Go (Ar Mo), Fumihiko Ikeda (Yoshioka), Tsou Tijger (Pu Yi – 8 years)

Có lẽ nếu không có phim hoành tráng này thì ít ai biết đến cuốn tiểu sử tự thuật của Phổ Nghi. Phim miêu tả toàn bộ cuộc đời Phổ Nghi, từ lúc lên ngôi khi còn rất nhỏ cho tới lúc bị giam giữ và phóng thích bởi chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, sau đó sống những năm cuối đời tại đây. Đây là phim đầu tiên cho phép thực hiện tại Cố Cung, Bắc Kinh, bởi chính quyền Trung Quốc.

Phim được đề cử 9 giải Oscar và đoạt 4 giải, bao gồm giải Phim và Đạo diễn.

Gone with the wind (Cuốn theo chiều gió) – Margaret Mitchell

Điểm Goodreads: 4.3

Lấy bối cảnh từ cuộc nội chiến cực kỳ khốc liệt giữa Bắc và Nam Mỹ, Cuốn theo chiều gió có cốt truyện rõ ràng, tối ưu, dễ hiểu, đã khắc họa một cách tài tình tâm trạng, tính cách và thân phận của nhiều tầng lớp người trong chiến tranh và thời hậu chiến. Nhân vật chính của tiểu thuyết là cô gái Scarlett O’hara cùng với chàng trai Rhett Butler trở thành cặp nhân vật điển hình, thuộc loại thành công nhất trong văn học Hoa Kỳ.

Phim lẻ: Gone with the wind (1939)
Điểm IMDb: 8.2
Đạo diễn: Victor Fleming
Diễn viên: Clark Gable (Butler), Fred Crane (Brent Tarleton), Olivia de Havilland (Melanie Hamilton), Leslie Howard (Ashley Wilkes), Evelyn Keynes (Suelle), O’Hara (Vivien Leigh), Hattie McDaniel Butterfly McQueen (Prissy), Thomas Mitchell (Gerald O’Hara), Carroll Nye (Frank Kennedy), Barbara O’Neil (Ellen O’Hara), Oscar Polk (Pork), George Reeves (Stuart Tarleton)

Chắc chắn đây là phim chuyển thể tiểu thuyết của Margaret Mitchell cực kỳ thành công mà về sau không ai dám làm lại.

Ra mắt năm 1939, Gone with the wind vẫn chứng tỏ sức sống lâu bền trong lòng khán giả khi dẫn đầu danh sách 100 phim thành công nhất mọi thời đại về doanh thu tại Mỹ. Đây là kết quả từ cuộc thăm dò của nhật báo điện ảnh Screen Digest. Phim đoạt 9 giải Oscar vừa được bình chọn là phim có nhiều khán giả nhất mọi thời đại trong lịch sử chiếu bóng Anh Quốc. Kể từ khi được phát hành năm 1939, Gone with the wind mang lại 5,4 tỉ đô la (gấp nhiều lần so với con số 1,84 tỉ đô la doanh thu phòng vé mà Titanic kiếm được, tính đến thời điểm này).

Vivien Leigh vượt qua hơn 1400 diễn viên, trong đó có nhiều tên tuổi lừng danh như Bette Davis và Katharine Hepburn để giành được vai Scarlett O’Hara. Vai diễn này giúp Vivien Leigh, ở thời điểm đó gần như vô danh tại Mỹ, trở thành một trong những huyền thoại điện ảnh của thời đại hoàng kim Hollywood.

Gone with the wind 3Vivien Leigh diễn như nhập đồng. Cô hóa thân trọn vẹn vào nhân vật đến từng chi tiết. Khán giả càng chăm chú theo dõi diễn xuất của cô, càng choáng váng khi thấy sự hoàn hảo đáng kinh ngạc mà Vivien Leigh thể hiện. Từng cái nhíu mày, từng cái dẩu môi mỗi khi không vừa ý, đến nụ cười tính toán mỗi khi cô định quyến rũ ai đó… đều thuyết phục khán giả rằng Vivien Leigh chính là Scarlett. Diễn xuất chân thực của Vivien Leigh kéo khán giả sống với từng phút của phim.

Với nụ cười nửa miệng mê hoặc, Clark Gable giống như một Rhett Butler từ trang sách bước ra. Khán giả và các nhà phê bình đều dễ dàng đồng tình với ý nghĩ Clark Gable sinh ra là để dành cho vai diễn này. Từ gương mặt, giọng nói đến phong thái của ông đều toát ra sự lịch lãm, hào hoa giống như nhân vật trong tiểu thuyết của Margaret Mitchell.

Gone with the Wind có hệ thống nhân vật sống động, đặc trưng. Trái ngược với Scarlett ích kỷ, kiêu ngạo là Melanie hiền từ, nhân hậu. Melanie cũng can đảm và kiên cường nhưng đó là kiểu can đảm khác với Scarlett. Cô gái ấy bình thường rất yếu đuối và mong manh nhưng lại trở nên rất mạnh mẽ mỗi khi cần bảo vệ những người yêu thương. Olivia De Havilland nhập vai Melanie một cách thuyết phục, khiến vai diễn trở nên chân thực và sống động hơn.

Leslie Howard cũng thể hiện thành công một quý tộc thất thế, lạc thời, bị động trước thời cuộc. Với một diễn viên non tay hơn, vai diễn Ashley sẽ rất dễ trở nên ngớ ngẩn và yếu đuối – điều may mắn không xảy ra nhờ diễn xuất của Howard.

Hattie McDaniel trở thành diễn viên da màu đầu tiên đoạt giải Oscar Nữ diễn viên phụ cho vai bà vú trung thành. Sự cứng rắn, lối ăn to nói lớn và cách cười thoải mái tự nhiên của bà rất dễ lấy được cảm tình của khán giả.

Làm nên sự thành công của Gone with the Wind không thể không nhắc tới “tổng công trình sư” David O. Selznick, giám đốc sản xuất của phim. Với tổng cộng 4 đạo diễn, hàng tá biên kịch và nhiều nhà quay phim khác nhau, Selznick chính là chất keo dính, tạo nên một Gone with the Wind hoàn chỉnh. Phim chính là sản phẩm tâm huyết nhất, là đứa con tinh thần của Selznick.

Gone with the Wind là một tượng đài sừng sững của Hollywood nhưng không phải là không có nhược điểm. Ngoài việc ủng hộ chế độ nô lệ và cái nhìn thiếu khách quan với người da đen – bắt nguồn từ tác phẩm gốc của Margaret Mitchell, phim chia làm hai phần không tương xứng nhau. Phần đầu của phim tràn đầy cảm hứng với âm hưởng sử thi, số phận cá nhân cuốn trong vòng xoáy của lịch sử. Phần này chứa những khoảnh khắc kinh điển nhất của điện ảnh như cảnh Atlanta thất thủ ngập trong biển lửa, hay cảnh Scarlett bước đi giữa hàng nghìn người lính bị thương, đứng ngồi chờ chết giữa đường. Tính cách của Scarlett cũng phát triển hợp lý từ một cô tiểu thư đỏng đảnh thành một phụ nữ cứng rắn và quyết đoán.

Phần hai, diễn xuất của các diễn viên vẫn thuyết phục như vậy nhưng câu chuyện mất đi sự nhiệm màu của phần trước khi chỉ tập trung vào cuộc sống cá nhân của nhân vật. Sự thức tỉnh và thay đổi tâm lý của Scarlett cũng không được diễn tả hợp lý và thuyết phục như phần đầu.

Dẫu vậy, không thể phủ nhận sự thành công và sức ảnh hưởng của Gone with the Wind. Một triệu người kéo đến Atlanta cho buổi chiếu ra mắt của phim tại rạp Loew’s Grand vào ngày 15/12/1939. Ước tính có hơn 300.000 người xếp hàng để chờ đón đoàn xe đưa dàn diễn viên đến sân bay. Sự kiện đó lớn đến nỗi Tổng thống Mỹ Jimmy Carter sau này nhớ lại là “sự kiện lớn nhất từng xảy ra ở miền Nam trong cuộc đời tôi”.

Luôn nằm trong Top 10 phim hay nhất mọi thời đại do Viện phim Mỹ bầu chọn, Gone with the Wind chứng tỏ được sức sống lâu bền vượt thời gian. Gần 80 năm trôi qua kể từ lần phát hành đầu tiên, Gone with the Wind vẫn có chỗ đứng vững chắc trong lòng người hâm mộ chứ không bị “cuốn theo chiều gió”.

Kết luận: bạn phải xem phim này và không cần phải đọc cuốn tiểu thuyết!

Harry Potter and the sorcerer’s stone
(Harry Potter và hòn đá phù thủy)
– J. K. Rowling

Điểm Goodreads: 4.4

Bộ truyện dài 7 tập “Harry Potter” là tác phẩm đáng tự hào nhất, nổi tiếng nhất đồng thời cũng là tác phẩm mang lại danh tiếng cho sự nghiệp văn chương của nữ tác giả người Anh J. K. Rowling.

Nội dung câu chuyện viễn tưởng từng gây sốt trên nhiều thị trường sách này đề cập về cuộc chiến của cậu bé phù thủy Harry Potter một mình chống lại một phù thủy hắc ám Chúa tể Voldemort, người đã giết cha mẹ cậu cũng như toàn bộ phù thủy chống lại hắn để thực hiện tham vọng làm chủ thế giới phù thủy và con người.

Harry Potter and the sorcerer’s stone (2002): tập 1 trong bộ phim về Harry Potter
Điểm IMDb: 7.4
Đạo diễn: Chris Columbus
Diễn viên: Daniel Radcliffe, Rupert Grint, Emma Watson

Những người mê đọc tập truyện hẳn cũng muốn xem phim chuyển thể. Tuy phim được dàn dựng công phu, các màn phù thủy xem mãn nhãn, nhưng mỗi tập đều khiến cho người nào đã đọc qua sách đều chưa hài lòng 100%: phim không thể hiện hết các tình tiết lôi cuốn. Đối với sách khác thì có thể cắt bớt tình tiết khi làm phim, nhưng sách Harry Potter thì không được: một tập sách tràn ngập bao nhiêu diễn tiến sôi nổi không thể được trình bày trong 2 giờ xem phim.

Vì thế, có ý kiến cho rằng xem phim rồi thì cũng nên đọc sách để thưởng thức trọn vẹn, và đọc sách rồi thì cũng nên xem phim cho biết hình ảnh!

Nếu bạn không thích thể loại phép thuật và phù thủy, chỉ cần xem tập 1 này, rồi nếu có thời giờ chỉ cần xem sách tập đầu.

Nếu là dân nghiền Harry Potter thì dĩ nhiên không bỏ lỡ tập nào và phim nào cả.

Hart’s war – John Katzenbach

Điểm Goodreads: 4.0

Thiếu úy Tommy Hart, phi công lái chiếc B-25 bị bắn rơi vào năm 1942, mang nỗi ám ảnh tội lỗi vì là người duy nhất trong phi hành đoàn được sống sót. Bây giờ, anh là tù binh của quân Đức ở Bavaria.

Cuộc sống trong trại tù bị xáo trộn khi một tù nhân mới được đưa đến: trung úy phi công da đen Lincoln Scott, người lập tức trở thành nạn nhân của nạn phân biệt chủng tộc. Khi một bạn tù da trắng bị hạ sát, mọi vật chứng đều hướng về lý lẽ kết tội Scott. Và Hart, sinh viên năm thứ 2 ngành luật, được chỉ định là người bào chữa cho Scott trong phiên tòa quân sự do Đại tá William McNamara làm chánh án.

Hart’s war (2002)
IMDb rating: 6.3 [7.0]
Director: Gregory Hoblit
Writers: John Katzenbach (novel), Billy Ray (screenplay)
Stars: Bruce Willis (Col. William A. McNamara), Colin Farrell (Lt. Thomas W. Hart), Terrence Howard (Lt. Lincoln A. Scott), Cole Hauser (Staff Sgt. Vic W. Bedford), Marcel Iures (Col. Werner Visser)

Tôi nghĩ những người chấm điểm thấp cho phim là thiếu công tâm, có lẽ vì họ háo hức muốn xem câu chuyện về chiến tranh. Đây là phim chiến tranh, nhưng vượt qua phạm trù của chiến tranh. Thay vì những hành động anh hùng khi chiến đấu, khán giả được xem hành vi đáng phỉ nhổ của tù binh da trắng Mỹ đối với bạn tù da đen Mỹ. Nhiều người có thể không biết rằng vì nạn kỳ thị chủng tộc, ngay cả sĩ quan da đen trong quân đội Mỹ bị ngược đãi bởi hạ sĩ quan da trắng – thậm chí trong một đội quân đang chiến đấu. Vì thế, đây là phim cần khán giả nghe thay vì nhìn, và rút tỉa điều thấm thía gì đó. Những lời khai trước phiên tòa thể hiện muôn mặt trong cuộc sống – nếu bạn chịu khó nghe. Ví dụ như, lời khai của trung úy Lincoln Scott thuộc quân đội Mỹ, về những sự ngược đãi mà anh phải hứng chịu chỉ vì anh là người da đen, sự ngược đãi còn tệ hại hơn so với tù binh Đức được quân Mỹ quản thúc. Hãy ghi nhớ từ sau cùng của anh trong lời khai về những sự ngược đãi: “khủng khiếp!”

Tôi nghĩ phim đáng được điểm IMDb 7.0 vì giá trị nhân văn.

Hậu cung Chân Hoàn truyện – Lưu Liễm Tử

Điểm Goodreads: 3.9

Hậu cung Chân Hoàn truyện xoay quanh những đấu đá của các phi tần nơi hậu cung. Chân Hoàn là một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn nên được Hoàng thượng nhất mực yêu mến. Cũng vì thế, cô trở thành cái gai trong mắt Hoàng hậu. Tuy nhiên, bằng sự thông minh của mình, Chân Hoàn vượt qua mọi trò hãm hại của Hoàng hậu và dần khẳng định quyền lực của mình chốn hậu cung. Nếu không có tình yêu, sủng hạnh của đế vương cũng chẳng bền hơn giấy mỏng là bao. Nhưng tình yêu của bậc đế vương là thứ hiếm hoi nhất, thiếu thốn nhất trong hậu cung rộng lớn.

Văn phong chuyển đổi liên tục giữa hành động và tự sự trong tâm trí, vì thế đó là thách thức đối với nhà làm phim chuyển thể.

Phim bộ: Hậu cung Chân Hoàn truyện – Empresses in the Palace (2012 TV series)
IMDb: 8.2
Diễn viên: Tôn Lệ (Chân Hoàn), Thái Thiếu Phân (Hoàng hậu Lạt Na Lạp Nghi Tu), Trần Kiến Bân (Hoàng đế Ung Chính), Tưởng Hân (Niên Thế Lan), Lý Đông Học (Thân vương Doãn Lễ), Lan Hy (Thẩm My Trang), Đào Hân Nhiên (An Lăng Dung), Lưu Nham (Thư Thái phi), Lam Doanh Oánh (Hoán Bích, Nữu Hỗ Lộc Ngọc Ẩn), Dương Kì (Mạnh Tĩnh Nhàn), Từ Lộ (Chân Ngọc Nghiêu), Lưu Tuyết Hoa (Thái hậu Ô Nhã Thành Bích)
76 tập

Được chuyển thể từ tiểu thuyết ngôn tình cùng tên của nhà văn trẻ Lưu Liễm Tử, đây là bộ phim cung đình ăn khách nhất trên màn ảnh Đại lục năm 2012 và được đánh giá là tác phẩm cổ trang kinh điển của Trung Quốc trong nhiều năm trở lại đây. Bộ phim tạo nên cơn sốt tương tự như Tây du ký (1986) hay Hoàn Châu cách cách (1997). Phim có mặt trong danh sách những bộ phim được khán giả đón xem lại hàng năm.

Chan Hoan_movie 3

Ngoài yếu tố thu hút của trang phục đẹp, cách tạo dựng hình ảnh các cung khác nhau, phim có dàn diễn viên đồng đều, ai cũng diễn tròn vai. Vai nổi bật dĩ nhiên là Chân Hoàn. Tôn Lệ thể hiện vai Chân Hoàn thông minh, hiền lành nhưng do bị mưu hại chốn thâm cung hiểm ác buộc nàng phải trở nên quyết đoán, tàn nhẫn. Ở giai đoạn cuối phim không còn là cô thiếu nữ hồn nhiên năm nào, tất cả đều do hoàn cảnh đưa đẩy và bản năng sinh tồn trong hậu cung. Tôn Lệ thể hiện xuất sắc những cung bậc cảm xúc từ thiện rồi ác dần của Chân Hoàn. Không chỉ thành công trong cách biểu hiện những tính cách, tâm trạng khác nhau qua nét mặt, ánh mắt, cô còn khiến người xem phải thán phục bởi cả những chi tiết nhỏ như dáng đi, cử chỉ, cách nói chuyện cũng có sự chuyển đổi phù hợp.

Riêng trong phim này, Tôn Lệ nhận nhiều giải như: Nữ diễn viên chính xuất sắc tại Lễ trao giải Cầu Vồng Á Châu, Lễ trao giải Minh tinh Thịnh điển, Lễ trao giải của Hiệp hội các đạo diễn Trung Hoa lần thứ 1, Lễ trao giải phim Truyền hình Bắc Kinh, Liên hoan phim Điện ảnh Quốc tế Macao, và Nữ diễn viên có cống hiến nổi bật tại Lễ trao giải 20 năm phim truyền hình Trung Quốc…

Nếu bạn chỉ muốn xem một bộ phim cổ trang thì nên xem bộ phim này. Nếu có thêm thời giờ thì đọc truyện dài của Lưu Liễm Tử. Đơn giản là vì tuy phim rất hay, nhưng sách nguyên tác lại có nhiều tự sự về nội tâm mà phim không thể lột tả hết. Nếu không có thời giờ thì bạn có thể xem cho đỡ ghiền bộ rút ngắn 10 tập dành cho thị trường Mỹ. Chỉ có điều vì quá ngắn nên bộ phim này không thể truyền tải hết nội dung, ví dụ như không có đoạn tuyển tú nữ, phần dẫn dắt cho những sự việc về sau.

Hóng lóu mèng (Hồng lâu mộng) – Tào Tuyết Cần

Điểm Goodreads: 4.1

Tác phẩm ra đời vào khoảng giữa thế kỉ 18, đời nhà Thanh. Với hơn 100 triệu bản được xuất bản, tiểu thuyết này trở thành một trong những sách bán chạy nhất mọi thời đại.

Hồng lâu mộng xoay quanh câu chuyện tình duyên trắc trở giữa hai anh em con cô con cậu Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc, từ đó mô tả cuộc sống nhiều mặt của một đại gia đình quý tộc đời Thanh từ lúc cực thịnh cho đến lúc suy vi trong vòng tám năm.

Tiểu thuyết này đã được dịch ra 20 thứ tiếng phổ biến trên thế giới như Anh, Pháp, Nga, Đức, tiếng Ý, Hi Lạp, Nhật, Triều Tiên, Việt, v.v.

Phim bộ: Hồng lâu mộng – A dream in red mansions (1987)
Điểm IMDb: 8.8
Đạo diễn: Vương Phù Lâm
Diễn viên: Âu Dương Phấn Cường (Giả Bảo Ngọc), Trần Hiểu Húc (Lâm Đại Ngọc), Trương Lợi (Tiết Bảo Thoa), Đặng Tiệp (Vương Hy Phượng)
36 tập thuyết minh

Hồng lâu mộng bản 1987 tạo nên một kỳ tích trong làng phim ảnh. Kịch bản bộ phim do nhiều nhà hoạt động văn nghệ nổi tiếng đảm nhiệm cố vấn. Khâu tuyển chọn diễn viên diễn ra trên quy mô toàn quốc; chỉ riêng vai diễn Lâm Đại Ngọc thu hút hơn ba vạn người tham gia dự tuyển. Đoàn làm phim tiến hành xây dựng khu Đại Quan Viên ở phía tây-nam thành phố Bắc Kinh làm phim trường chính, lấy bối cảnh từ nhiều danh thắng. Các diễn viên đều được huấn luyện về Hồng học cũng như nghệ thuật thi, ca, nhạc, họa bởi các chuyên gia tên tuổi.

Bộ phim có tỷ lệ người xem phá vỡ kỷ lục thể loại phim truyền hình mọi thời đại lúc bấy giờ, trở thành tác phẩm truyền hình kinh điển của điện ảnh Trung Quốc mà khó có phiên bản nào có thể qua mặt.

Bộ phim quy tụ hơn 213 nhân vật nữ từ cao sang quyền quý tới các tiểu thư khuê các và các tầng lớp hạ lưu. Với dàn diễn viên “khủng”, Hồng lâu mộng (1987) trở thành bộ phim có số lượng người tham gia đông nhất từ trước tới giờ.

Red Mansion 3

Bộ phim rất đáng xem, nếu khán giả chịu khó theo dõi hình ảnh có chất lượng thấp vào thời chưa có công nghệ HD. Cũng vào thời ở Việt Nam chưa thực hiện lồng tiếng, bạn phải chấp nhận thuyết minh, nhưng sẽ hài lòng với âm giọng của Thu Hiền.

Phim bộ: Tân hồng lâu mộng – A dream in red mansions (2010) Điểm IMDb: 4.8

Bộ phim kém hẳn so với phiên bản 1987. Chỉ có điểm vớt vát là hình ảnh HD, và có bản lồng tiếng Việt ngữ.

Hương rừng Cà Mau – Sơn Nam

Điểm Goodreads: 4.3 (cho tổng tập, 2013)

Tổng tập Hương rừng Cà Mau in lại từ 3 tập sách đã xuất bản, giới thiệu 64 truyện ngắn với hơn 900 trang sách, kể những câu chuyện về làng quê, về nông thôn, nhất là vùng quê Tây Nam Bộ. Đến nay, trải qua bao nhiên năm tháng, các câu truyện trong Hương rừng Cà Mau vẫn là những câu chuyện hấp dẫn đối với bạn đọc, đặc biệt là đối với bạn đọc không có điều kiện gần gũi quê hương, phải tha phương cầu thực hay đi làm ăn nơi xứ người lạ lẫm.

Phim lẻ: Mùa len trâu – Buffalo boy (2004)
Điểm IMDb: 7.1
Đạo diễn: Nguyễn Võ Nghiêm Minh
Diễn viên: Kra Zan Sram, Lê Thế Lữ, Nguyễn Hữu Thành, Nguyễn Thị Kiều Trinh

Phim lấy bối cảnh vùng nông thôn nghèo khổ, nơi người dân quanh năm gắn liền với con trâu. Kìm, một cậu bé từ nhỏ theo cha đi len trâu từ làng này sang làng nọ để kiếm cỏ. Ngày qua ngày cậu bé tên Kìm lớn hơn, ra dáng một cậu thanh niên cường tráng…

Tại LHP Locarno (Thụy Sĩ) phim đoạt Giải đặc biệt của ban giám khảo trẻ.

Tại LHP Chicago (LHP lâu đời nhất ở Bắc Mỹ và quan trọng nhất tại Mỹ về phim thế giới), phim nhận giải đạo diễn phim xuất sắc nhất với nhận xét của ban giám khảo: “Với một cách kể chuyện hoàn hảo, đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh của Mùa len trâu thực hiện một phim đầu tay ngoạn mục”.

Tại LHP Amiens (Pháp), Mùa len trâu nhận Giải thưởng Lớn (Grand prix).

Tại LHP Amazonas (Brazil), phim đoạt giải đặc biệt hạng nhất của BGK quốc tế gồm nhiều đạo diễn, diễn viên nổi tiếng và các nhà phát hành phương Tây.

Phim cũng được mời dự nhiều LHP quốc tế khác như Toronto (Canada), Busan (Hàn Quốc), Namur (Bỉ), Rotterdam (Hà Lan), Bangkok (Thái Lan)…

Inside Hitler’s bunker – Joachim Fest

Điểm Goodreads: 3.9

Tên đầy đủ của quyển sách là Inside Hitler’s bunker: The last days of the Third Reich, thuật lại những tuần lễ cuối cùng của Hitler, trong hệ thống hầm sâu dưới Thủ đô Berlin.

Phim lẻ: Der Untergang – Downfall (2004)
Điểm IMDb: 8.2
Đạo diễn: Oliver Hirschbiegel
Diễn viên: Bruno Ganz (Adolf Hitler), Alexandra Maria Lara (Traudl Junge), Corinna Harfouch (Magda Goebbels), Ulrich Matthes (Joseph Goebbels), Juliane Köhler (Eva Braun), Heino Ferch (Albert Speer), Ulrich Noethen (Heinrich Himmler), Rolf Kanies (General Hans Krebs)

Phim tái hiện những ngày cuối cùng của Adolf Hitler, dựa trên quyển sách của sử gia Joachim Fest, cùng với hồi ký của Albert Speer và hồi ký của Traudl Junge, thư ký của Adolf Hitler. Có lẽ vì tổng hợp nhiều nguồn nguyên tác nên khán giả có thể nhận ra dăm ba điểm khác biệt giữa phim và sách Inside Hitler’s bunker.

Phim nhận được đề cử Giải Oscar về phim nước ngoài hay nhất năm 2005, và thắng giải phim ảnh của đài BBC. Trái tim của thành công ấy chính là màn nhập vai xuất sắc, từ hình thể cho tới diễn xuất, của diễn viên Bruno Ganz khi ông hóa thân thành Lãnh tụ của Đức Quốc xã trong quá khứ.

Không chỉ nghiêm túc theo sát lịch sử, Downfall còn thành công trong việc mang đến một hình ảnh đa dạng về Hitler. Không chỉ là kẻ độc tài mang đầy tội ác, bên trong con người đàn ông này còn có sự sợ hãi, tuyệt vọng và rệu rã. Diễn xuất tuyệt vời của Bruno Ganz thể hiện được tất cả những điều đó. Vai diễn của ông được đánh giá là hình tượng Hitler kinh điển trên màn ảnh.

Phim rất đáng xem, nếu bạn thích đề tài lịch sử.

Jane Eyre – Charlotte Bronte

Điểm Goodreads: 4.3

Tác phẩm nói về cuộc đời của một người con gái nghèo tỉnh lẻ, kiên cường vật lộn với số phận phũ phàng để bảo vệ phẩm giá và tự khẳng định vị trí xã hội của mình bằng cuộc sống lao động lương thiện.

Với văn phong trữ tình, kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa nhân văn, hiện thực lãng mạn, bút pháp tinh tế điêu luyện, tác giả tạo cho tiểu thuyết một sức sống mạnh mẽ, sức cuốn hút thi vị và một vẻ đẹp thơ mộng.

Đã có tới 18 phim điện ảnh và hàng chục phim truyền hình chuyển thể tiểu thuyết này; hai phiên bản dưới đây được xem là hay nhất.

Phim bộ: Jane Eyre (2006)
Điểm IMDb: 8.4
Diễn viên: Ruth Wilson (Jane Eyre), Toby Stephens (Rochester), Lorraine Ashbourne (Mrs. Fairfax)

Phim của hãng BBC gồm 4 tập, dài tổng cộng 3 giờ 50 phút, như thế là vừa.

Hầu như lúc nào cũng vậy: cùng một nguyên tác thì phim bộ chiếu TV được chấm điểm cao hơn phim lẻ chiếu rạp, và ở đây không phải là ngoại lệ.

Phim lẻ: Jane Eyre (2011)

Điểm IMDb: 7.6
Đạo diễn: Cary Fukunaga
Diễn viên: Mia Wasikowska (Jane Eyre), Michael Fassbender (Rochester), Jamie Bell (St John Rivers)

Phim bản này, cũng do BBC sản xuất, khá trung thành với tiểu thuyết nguyên tác khi thể hiện đầy đủ, dù giản lược, những quãng thời gian và biến cố trong cuộc đời của Jane Eyre, từ khó khăn tới đau khổ và hạnh phúc.

Và cũng giống như trong nguyên tác, hình ảnh Jane Eyre kiên cường để lại ấn tượng sâu sắc cho khán giả về một cô gái nhỏ bé nhưng cá tính, có nghị lực sắt đá và khát vọng sống mãnh liệt. Nhiều nhà phê bình cho rằng vai của Mia Wasikowska là sự thể hiện nhân vật Jane Eyre hay nhất từ trước đến nay, với sự biểu lộ tuyệt vời tâm hồn dễ bị tổn thương cũng như sự thông thái của Jane.

Mia Wasikowska in Jane Eyre_movie 2
Mia Wasikowska trong vai Jane Eyre

Ngoài diễn xuất tuyệt vời của Mia Wasikowska (trong vai Jane Eyre) và Michael Fassbender (vai Edward, ông chủ lâu đài đem lòng yêu cô gia sư), phiên bản 2011 để lại ấn tượng về sự giản dị, chậm rãi và lãng mạn. Nhịp điệu phim rất chậm, với những đoạn đối thoại kiểu cách nhưng cá tính, thông minh. Ngoài vẻ đẹp của tính cách nhân vật, phim còn lôi cuốn khán giả nhờ những cảnh quay thiên nhiên tuyệt đẹp và thi vị của làng quê nước Anh.

Jaws – Peter Benchley

Điểm Goodreads: 4.0

Quyển sách thuật câu chuyện về một con cá mập trắng hoành hoành ven bờ một thị trấn du lịch nhỏ, khiến cho viên cảnh sát trưởng cùng với một chủ tàu và một nhà hải dương học phải ra khơi để săn lùng con cá sát thủ. Tác giả Peter Benchley viết nên quyển sách dựa vào những gì ông được biết về Frank Mundus (1925-2008), người chuyên lái tàu đi săn lùng cá mập (nhưng về sau lại cổ vũ cho việc bảo tồn cá mập). Quyển sách được xuất bản đầu năm 1974, và năm sau bán được cả triệu bản.

Đây là câu chuyện về cuộc chiến giữa cảnh sát trưởng Brody, nhà hải dương học Matt Hooper với con “quỷ biển” – cá mập khổng lồ ăn thịt người

Phim lẻ: Jaws (1975)
Điểm IMDb: 8.2
Đạo diễn: Steven Spielberg
Diễn viên: Roy Scheider (Martin Brody), Robert Shaw (Quint), Richard Dreyfuss (Matt Hooper), Lorraine Gary (Ellen Brody), Murray Hamilton (Thị trưởng Larry Vaughn), tác giả Peter Benchley được trao một vai phụ (người phỏng vấn)

Đây được xem như phim bom tấn đầu tiên của Steven Spielberg khi ông mới 29 tuổi.

Độc giả chỉ thấy hấp dẫn nhẹ nhàng khi đọc sách nguyên tác, nhưng khán giả xem phim chuyển thể mới có cảm xúc mãnh liệt. Vào thời phim chưa được phổ biến trên TV, Internet và VCR, khán giả phải vào rạp mà xem phim Jaws. Nhờ đó mà khán giả có thể thưởng thức trọn vẹn cảm xúc do màn ảnh rộng mang lại giữa bầu không khí mê say: nền nhạc rùng rợn và ám ảnh như hăm dọa biến cố lớn diễn ra bất kỳ lúc nào, và mỗi lần con cá mập khổng lồ từ dưới biển nhô lên mặt nước, há miệng rộng phơi bày hai hàng răng lởm chởm làm khán giả giật thót mình, nhiều người kêu rú thất thanh rồi cảm thấy khoái! Sẽ không có cảm xúc như thế nếu xem trên màn hình TV.

Những phim Jaws kế tiếp, không còn do Steven Spielberg làm đạo diễn, không được IMDb chấm điểm cao.

Jurassic Park (Công viên kỷ Jura ) – Michael Crichton

Điểm Goodreads: 4.0

Tác giả Michael Crichton (1942–2008) tốt nghiệp bác sĩ y khoa từ đại học danh tiếng Havard nhưng ông không hành nghề bác sĩ, mà theo đuổi nghiệp viết văn, chủ yếu thiên về khoa học giả tưởng. Nhờ kiến thức khoa học và tính cẩn thận khi tìm tòi tài liệu sâu rộng cộng thêm trí tưởng tượng phong phú, ông viết những tiểu thuyết có sức thuyết phục về mặt khả thi và có sức lôi cuốn về mặt phiêu lưu giả tưởng. Tổng cộng khoảng 200 triệu quyển sách của ông đã được bán trên toàn thế giới.

Một số sách của ông được chuyển thể qua phim điện ảnh, đạt những mức độ thành công nhất định, như Congo (Goodreads: 3.6), The Andromeda strain (Goodreads: 3.9), The great train robbery (Goodreads: 3.9).

Chỉ đến khi ông viết Jurassic Park, sách mới được chuyển thể thành công rực rỡ qua tài đạo diễn bậc thầy của Steven Spielberg.

Phim lẻ: Jurassic Park (1993)
Điểm IMDb: 8.0
Đạo diễn: Steven Spielberg
Diễn viên: Sam Neill (Dr. Alan Grant), Jeff Goldblum (Dr. Ian Malcolm), Laura Dern (Dr. Ellie Sattler), Richard Attenborough (John Hammond), Joseph Mazzello (Tim Murphy), Samuel L. Jackson (Ray Arnold), Bd Wong (Henry Wu), Wayne Knight (Dennis Nedry)

Trên một hòn đảo bí mật, công việc nhân giống lại khủng long đang được hoàn thành bởi DNA còn lại trên những con muỗi cổ xưa. Trước khi mở công viên của mình, ông Hammond mời một nhóm khoa học đến để tham quan và giúp đỡ ông. Nhưng trong một đêm mưa bão, hệ thống bảo vệ bị sụp đổ, những con thú khổng lồ cổ xưa thoát ra ngoài…

The lost world – Michael Crichton

Đây là quyển sách tiếp theo Jurassic Park, không được đánh giá cao bằng quyển đầu, có lẽ vì độc giả không còn thấy háo hức với chủ đề?

Phim lẻ: The lost world: Jurassic Park (1997) IMDb: 6.5

Phim vẫn do Steven Spielberg làm đạo diễn, nhưng kém nhiều. Có lẽ cùng lý do như sách nguyên tác.

Kane and Abel (Hai số phận) – Jeffrey Archer

Điểm Goodreads: 4.3

Cuốn sách là một câu chuyện kể về hai người có số phận khác nhau. Họ không có điểm gì giống nhau cả ngoại trừ việc sinh ra vào cùng một thời điểm (18/04/1906) và có một lòng quyết tâm để đạt được thành công trong cuộc sống. William Lowell Kane là người mạnh mẽ và giàu có, trong khi đó Abel Rosnovski (tên ban đầu là Wladek Koskiewicz) là người gốc Ba Lan phải đấu tranh từ lúc sinh ra và lớn lên cùng với những người nghèo khổ, cuối cùng di cư đến Hoa Kỳ. Cuộc đời của hai con người này trải qua biết bao thăng trầm, biến cố để cuối cùng nhận ra sự tồn tại của nhau.

Phim bộ: Kane and Able (1985)
Điểm IMDb: 7.9
Đạo diễn: Buzz Kulik
Diễn viên: Peter Strauss (Abel Rosnovski), Sam Neill (William Lowell Kane), Ron Silver  (Thaddeus Cohen), David Dukes (David Osborne), Fred Gwynne (Davis LeRoy), Thomas Byrd (Richard Kane), Alberta Watson (Zofia Rosnovski), Reed Birney (Matthew Lester), Vyto Ruginis (George Nowak), Jill Eikenberry (Susan Lester), Richard Anderson (Alan Lloyd), Kate McNeil (Florentyna Rosnovski)

Bộ phim này được xem là hay nhất mọi thời đại cho đến thời điểm 1985, và hiện nay được các nhà sưu tập săn lùng một cách khó khăn. (Phim được tải lên YouTube nhưng chất lượng hình ảnh kém.) Dàn diễn viên xuất sắc đồng đều, hình ảnh đẹp, âm nhạc hay.

Chỉ có khuyết điểm là 3 tập thì chưa đủ chuyển tải hết những chi tiết hay của sách nguyên tác.

Lady Chatterley’s lover (Người tình của phu nhân Chatterley) 
D.H. Lawrence

Điểm Goodreads: 3.5

Tiểu thuyết khai thác mối quan hệ tay ba giữa một người phụ nữ xinh đẹp và hai người đàn ông. Phu nhân Chatterley luôn sống trong những xúc cảm bộn bề giữa trách nhiệm của một người vợ đầy bản năng và tình cảm dạt dào, với một bên là người chồng quý tộc tàn tật không còn khả năng tình dục, và bên kia là một người tình cường tráng, thô kệch nhưng không kém quyến rũ.

Tiểu thuyết có ba phiên bản:

* Phiên bản thứ nhất: Lady Chatterley’s lover, được xuất bản lần đầu vào năm 1928 ở Ý, năm 1929 ở Pháp và Úc, xoay quanh cuộc tình giữa Constance Chatterley và Oliver Mellors, có Điểm Goodreads là 3,5.

* Phiên bản thứ hai: John Thomas and Lady Jane, được xuất bản năm 1928, có Điểm Goodreads là 4,2. Nhưng cũng phiên bản này bằng Pháp văn dưới tựa đề Lady Chatterley et l’homme des bois chỉ được Goodreads cho điểm 3,5. Điểm số khác biệt hiển nhiên là vì thành phần độc giả của 2 phiên bản rất khác nhau. Theo nhiều phương diện, phiên bản này khác nhiều so với phiên bản thứ nhất và thứ ba: văn phong giản dị hơn, đi vào chủ đề trực tiếp hơn (hai người yêu nhau đối thoại với nhau ít hơn, chủ yếu là hành động). Cốt truyện tập trung hơn vào mối quan hệ giữa Constance và Parkin. Vì có tựa đề khác biệt nên người muốn mua sách tìm theo tựa đề hai phiên bản kia nhiều hơn. Phim được chuyển thể là phim bộ Lady Chatterley (1993) và phim lẻ Lady Chatterley (2006).

* Phiên bản thứ ba: tựa đề như phiên bản đầu: Lady Chatterley’s lover, có cách viết dông dài, được xuất bản vào tháng 3/1928, vài tháng trước khi tác giả qua đời, do ông tự bỏ tiền túi.

Không cần bận tâm đến phim nào chuyển thể phiên bản nguyên tắc nào, bởi vì nhà biên kịch phim có thể pha trộn những chi tiết của các phiên bản sách nhau.

Hai phim chuyển thể dưới đây đáng quan tâm. Phim nào cũng thế: không thể diễn tả hết những cảm xúc nội tâm, trong khi các cảnh sex bắt buộc phải có độ trần trụi nhất định, tuy cần thiết nhưng càng khiến cho khán giả dễ bị phân tâm, không thấy rõ chiều sâu của tâm hồn các nhân vật. Còn các phiên bản phim 1955, 1981, 2015 không được đánh giá cao. Riêng phiên bản 2015 bị phê bình là gần với phim khiêu dâm trong khi thiếu ngôn ngữ tình dục trong nguyên tác.

Phim bộ: Lady Chatterley’s lover (1993)
Điểm IMDb: 7.0
Đạo diễn: Ken Russell
Diễn viên: Joely Richardson (Lady Connie Chatterley), Sean Bean (Mellors), James Wilby (Clifford Chatterley), Shirley Anne Field, Hetty Baynes

Phim bộ 4 tập, dài tổng cộng 3 giờ 25 phút, có đủ thời lượng để chuyển thể hầu như toàn bộ các lời đối thoại. Phim có chất lượng hình ảnh rất tốt. Phim xoay quan cuộc tình giữa Phu nhân Constance Chatterley và người quản lý trang trại tên Mellors.

Phim lẻ: Lady Chatterley’s lover (2006) Điểm IMDb: 6.8

Được chuyển thể từ phiên bản thứ ba của tiểu thuyết nguyên tác, phim thắng lớn tại Giải César (phiên bản Oscar của Pháp): được đề cử trong 9 hạng mục và nhận 5 giải: Phim, Nữ diễn viên chính, Biên kịch, Quay phim, Trang phục.

Le tour du monde en 80 jours (Vòng quanh thế giới 80 ngày)
Jules Verne

Điểm Goodreads: 3.8

Tiểu thuyết phiêu lưu cổ điển này được xuất bản lần đầu tiên năm 1873.

Câu chuyện bắt đầu ở London vào năm 1872. Phileas Fogg là một người đàn ông giàu có, cô độc, chưa lập gia đình. Nguồn gốc của tài sản của ông ta không ai biết và ông sống khá khiêm tốn. Ông sa thải người tùy tùng trước đây, James Forster, vì đem đến nước cạo râu lạnh hơn 2 độ so với thường lệ. Ông thuê người tùy tùng mới tên là Passepartout, một người Pháp khoảng 30 tuổi.

Sau đó cùng trong ngày tại Câu lạc bộ Cải cách, ông tham gia vào một cuộc tranh cãi về một bài báo trên tờ nhật báo The Daily Telegraph, nói rằng với việc mở ra một đoạn đường sắt ở Ấn Độ mới, bây giờ người ta có thể đi vòng quanh thế giới trong 80 ngày.

Fogg chắc chắn rằng với đầu óc tính toán siêu phàm của mình, ông có thể làm được điều đó. Ông chấp nhận một cá cược giá trị 20.000 bảng Anh với các thành viên trong câu lạc bộ, mà ông sẽ nhận được nếu ông đi vòng quanh thế giới trong 80 ngày.

Phim lẻ: Around the world in eighty days (1956)
Điểm IMDb: 6.8
Đạo diễn: Michael Anderson
Diễn viên: David Niven (Phileas Fogg), Cantinflas (Passepartout), Finlay Currie (Andrew Stuart), Robert Morley (Ralph – Bank of England Governor), Fernandel (French coachman), Charles Boyer (Monsieur Gasse – Thomas Cook Paris clerk), Shirley MacLaine (Princess Aouda), Charles Coburn (Steamship Company Hong Kong clerk), Marlene Dietrich (Barbary Coast saloon owner), Frank Sinatra (Barbary Coast saloon pianist)

Phim dựa theo tiểu thuyết của Jules Verne. Đây là bộ phim vui nhộn, nổi tiếng nhờ sự xuất hiện của hàng loạt ngôi sao như David Niven, Shirley MacLaine, Marlene Dietrich, Frank Sinatra, Cesar Romero, Charles Coburn, Fernandel… Dù đây giống phim giải trí hơn là một tác phẩm nghệ thuật, vẫn cần phải nể phục tham vọng của đạo diễn Mike Todd. Với 33 trợ lý đạo diễn, ông tự bay tới Pakistan, Ấn Độ, Trung Quốc và Thái Lan để gặp các vị vua cũng như chính quyền, để có thể tìm được những vị trí quay phim tốt nhất. Việc mời rất nhiều ngôi sao Hollywood cũng không phải chuyện dễ dàng. Todd bỏ ra nhiều tháng để liên hệ với các diễn viên nổi tiếng, và có thể nói bộ phim được bắt đầu từ ý tưởng về những vai diễn dành cho họ.

Phim rất đáng xem cho cả gia đình.

Le Comte de Monte-Cristo (Bá tước Monte-Cristo) – Alexandre Dumas

Điểm Goodreads: 4.5

Phim lẻ: The Count of Monte Cristo (2002)
Điểm IMDb: 7.8
Đạo diễn: Kevin Reynolds
Diễn viên: Jim Caviezel, Guy Pearce, Richard Harris, Dagmara Dominczyk, Michael Wincott, Luis Guzmán

Để chuyển thể 1.000 trang sách nguyên tác thành phim dài 2 giờ thì xem ra phim này quá thành công: diễn xuất tuyệt vời, kịch bản hay, một số đoạn dí dỏm. Richard Harris có đất diễn tốt. Nếu chưa xem sách nguyên tác thì bạn sẽ thấy phim này rất đáng xem.

Phim bộ: Le Comte de Monte-Cristo (1998)
Điểm IMDb: 8.0
4 tập, dài tổng cộng 6 giờ 40 phút
Đạo diễn: Josée Dayan
Diễn viên: Gérard Depardieu (Abbé Busoni), Ornella Muti ( Mercedes), Jean Rochefort (Fernand De Morcerf), Pierre Arditi (Villefort), Sergio Rubini (Bertuccio), Florence Darel (Camille De La Richardais), Christopher Thompson (Maximilien Morrel)

Được xem là phim hay nhất trong số các phim chuyển thể Bá tước Monte-Cristo từ năm 1934. Diễn viên kỳ cựu Gérard Depardieu diễn xuất tuyệt vời, được khán giả ưa thích.

Một số khán giả xem phim thấy hay nhưng vẫn thấy chưa đủ. Những người đã xem 1.000 trang sách nguyên tác thấy tiếc chỉ được xem 4 tập phim, nghĩ rằng có thêm tập nào thì cũng hay như 4 tập đầu. Thực tế có thể không phải như vậy: phim dài thêm có thể trở thành dài lê thê!

Legends of the Fall (Huyền thoại mùa thu)  – Jim Harrison

Điểm Goodreads: 4.1

Tác phẩm bất hủ này là một trường thiên rất xúc động, có khả năng gợi những cảm thương sâu sắc nhất của độc giả. Từ vẻ đẹp thô ráp, hoang vắng của Montana đến các chiến trường đẫm máu ở Pháp, câu chuyện của Harrison kể về các chàng trai chiến đấu cho công lý trong một thế giới đã trở nên điên rồ. Trong tập tiểu thuyết nổi tiếng gồm 3 truyện Huyền thoại mùa thu, Báo thù, Người từ bỏ tên tuổi này, Jim Harrison viết bằng một tài hoa vô song và tình yêu cuộc sống mãnh liệt.

The Guardian nhận định Huyền thoại mùa thu chinh phục độc giả bằng câu chuyện xúc động và lối văn mộc mạc. Tác phẩm truyền cho độc giả niềm say mê bất tận với cuộc đời dù ở hoàn cảnh khó khăn đến đâu.

Phim lẻ: Legends of the fall (1994)
IMDb: 7.5
Đạo diễn: Edward Zwick
Diễn viên: Brad Pitt (Tristan Ludlow), Anthony Hopkins (Đại tá Ludlow), Julia Ormond (Susannah), Aidan Quinn (Alfred Ludlow), Henry Thomas (Samuel Ludlow)

Ba ngôi sao gạo cội không làm phụ lòng khán giả: Brad Pitt, Anthony Hopkins và Julia Ormond. Phim đoạt giải Oscar về Quay phim.

Legends of the Fall bắt đầu bằng cảnh One Stab, người chiến binh da đỏ dũng mãnh thuở nào giờ đã là một ông lão già nua, ngồi kể chuyện bên ánh lửa bập bùng. Những nếp nhăn khắc khổ trên khuôn mặt ông biểu hiện một cuộc đời nhiều biến động, khắc họa một tính cách đã sống đủ lâu, trải qua đủ chuyện, để giờ đây có thể nhìn thấu suốt mọi vật. Giọng kể trầm sâu trong cổ họng hòa cùng ánh lửa trong đêm và khuôn mặt minh triết của người già tạo một bầu không khí hoàn hảo của những huyền thoại, truyền thuyết cổ xưa.

Phim tiếp tục duy trì hiệu ứng huyền thoại sử thi ấy bằng cách đặt câu chuyện vào bối cảnh thiên nhiên hùng vĩ của vùng Montana xa xôi. Dưới tài nghệ tuyệt vời của nhà quay phim John Toll, tác phẩm mở ra những đồng cỏ mênh mông, những đàn gia súc lớn, những rặng núi xanh tươi trập trùng… Cảnh thiên nhiên tuyệt vời như lời gợi mở về một câu chuyện cũng rực rỡ và mạnh mẽ không kém.

Legends of the fall là một dòng chảy miên man của các giọng kể khác nhau. Nhiều giọng người cất lên – đàn ông, đàn bà, người già, người trẻ, những kẻ còn sống, những kẻ đã chết. Điều này tạo cho phim một không khí thân mật riêng tư giữa những tiếng thủ thỉ, thì thầm về số phận của một con người mà tất cả từng yêu – Tristan Ludlow.

Legends-of-the-fallVới vai diễn Tristan Ludlow lãng tử và phong trần, Brad Pitt làm thổn thức bao trái tim thiếu nữ. Mái tóc bất trị luôn rối tung, ánh mắt xanh thăm thẳm, nụ cười ngạo nghễ luôn thường trực trên môi, dáng cưỡi ngựa ngang tàng, tất cả ở Brad Pitt tạo nên một hình mẫu hoàn hảo của sự nổi loạn và sự mạnh mẽ đầy nam tính mà phái yếu vẫn thường chờ đợi ở một người đàn ông. Thật dễ hiểu là tại sao phụ nữ trẻ lại đặc biệt thích phim này đến thế.

Một nhân vật khác cũng được phụ nữ tìm thấy sự đồng cảm là nàng Susannah của Julia Ormond, xinh đẹp như thiên thần với mái tóc bồng bềnh thường để xõa sau lưng, giọng nói nhỏ nhẹ như tiếng thì thầm. Cùng với Brad Pitt, cô tạo một mối tình đẹp để lại nhiều cảm xúc trong lòng khán giả.

Mặc cho giới phê bình khó tính cho rằng Legends of the Fall là một phim quá đà, quá lạm dụng nhạc, hình ảnh quá đẹp kiểu nhiếp ảnh, câu chuyện quá phức tạp, ít thuyết phục, nhưng khán giả vẫn mê đắm với một cốt chuyện khác thường giữa bối cảnh khác thường.

Les misérables (Những người khốn khổ) – Victor Hugo

Điểm Goodreads: 4.2

Câu chuyện về xã hội nước Pháp trong khoảng hơn 20 năm đầu thế kỷ 19 kể từ thời điểm Napoléon I lên ngôi và vài thập niên sau đó. Nhân vật chính của tiểu thuyết là Jean Valjean, một cựu tù khổ sai tìm cách chuộc lại những lỗi lầm gây ra thời trai trẻ. Bộ tiểu thuyết không chỉ nói tới bản chất của cái tốt, cái xấu, của luật pháp, mà tác phẩm còn là cuốn bách khoa thư đồ sộ về lịch sử, kiến trúc của Paris, nền chính trị, triết lý, luật pháp, công lý, tín ngưỡng của nước Pháp nửa đầu thế kỷ 19.

Phim lẻ: Les misérables (2012)

Điểm IMDb: 7.9
Đạo diễn: Tom Hooper
Diễn viên: Hugh Jackman, Russell Crowe, Anne Hathaway, Amanda Seyfried, Sacha Baron Cohen, Helena Bonham Carter, Eddie Redmayne, Aaron Tveit, Samantha Barks, Daniel Huttlestone, Cavin Cornwall, Josef Altin, Dave Hawley, Adam Jones, John Barr

Đây là phim nhạc kịch, sử thi, lãng mạn của nước Pháp, dựa trên tiểu thuyết cùng tên cùng với vở nhạc kịch cùng tên của hai nhạc sĩ Alain Boublil và Claude -Michel Schönberg. Đây là phim nhạc kịch đột phá nhất trong lịch sử điện ảnh vì có thể lột tả được hết những giá trị kinh điển trong bức tranh xã hội Pháp đầy rắc rối lúc bấy giờ.

Phim nhận 81 giải thưởng các loại, trong đó có 3 Giải Oscar: Nữ diễn viên phụ, Hóa trang, và Âm thanh; Giải Golden Globe cho Phim hài hoặc nhạc kịch xuất sắc nhất.

Tạp chí Time ca ngợi: “đây là một bộ phim nhạc kịch kiểu mới”, vì toàn bộ dàn diễn viên được yêu cầu phải hát trực tiếp trong quá trình quay, micro giấu trong trang phục và phần đệm của dàn nhạc lên tới 70 người chỉ được thêm vào bộ phim sau khi đã quay xong.

Phim lẻ: Les misérables (1958)
Điểm IMDb: 7.6
Đạo diễn: Jean-Paul Le Chanois
Diễn viên: Jean Gabin (Jean Valjean / Champmathieu), Bernard Blier (Javert, cha và con), René Fleur (Đức Hồng y), Julienne Paroli (Madame Magloire, Fernand Ledoux (Monseigneur Myriel)

Người không thich xem phim nhạc kịch có thể xem phim này, do Pháp sản xuất. Cần kiên nhẫn: phim dài 3 giờ 30 phút.

Life of Pi (Cuộc đời của Pi) – Yann Martel

Điểm Goodreads: 3.9

Cuộc đời của Pi là một câu chuyện có thật, mang lại cho người đọc những cái nhìn sâu sắc về nhiều khía cạnh trong đời sống: về tình yêu và niềm tin vào tôn giáo, về sức chịu đựng mạnh mẽ của con người trong những hoàn cảnh éo le…

Quả thật đây không phải là một tác phẩm xoàng nếu không muốn nói là khá xuất sắc. Đọc nó xong rất nhiều điều còn lắng đọng lại, gợi lên trong lòng chúng ta những suy nghĩ sâu xa, chiêm nghiệm về những giá trị nào là vĩnh hằng trong cuộc sống, về tình yêu và niềm tin với tôn giáo, về sức mạnh của con người – những sinh vật tưởng chừng như yếu đuối trong cuộc chiến không khoan nhượng với đại dương bao la…

Đằng sau ánh hào quang của sự thành công vang dội ẩn chứa những câu chuyện về cuộc đời rất đáng học hỏi: Đừng bao giờ bỏ cuộc.

Life of Pi là một câu chuyện của tính kiên trì, không bao giờ bỏ cuộc thậm chí trong những điều kiện khắc nghiệt nhất.

Năm 2002, cuốn sách giúp tác giả giành được giải Man Booker. Năm 2003, văn bản tiếng Anh, Life of Pi, được chọn cho giải Canada Reads và văn bản tiếng Pháp, L’Histoire de Pi, được chọn cho giải Le combat des livres; cả hai giải là của CBC Radio.

Phim lẻ: Life of Pi (2013)
Điểm IMDb: 8.0
Đạo diễn: Ang Lee (Lý An)
Diễn viên: Suraj Sharma, Irrfan Khan, Adil Hussain

Những fan ruột của cuốn tiểu thuyết phần nào hụt hẫng khi xem phim bởi chiều sâu triết lý và những suy ngẫm về tôn giáo, niềm tin, bản ngã, sự sinh tồn… bị tiết chế đi nhiều trong phim. Bù lại, những cảnh quay lung linh, kỳ vĩ về biển cả, trời mây, về chuyến phiêu lưu siêu thực của một chàng trai Ấn Độ đem tới cho khán giả sự choáng ngợp mà sách không tạo ra được.

Life-of-Pi-IMAGE 2

Đạo diễn Lý An, nhà làm phim Đài Loan từng gây tiếng vang với những tác phẩm điện ảnh như Ngọa hổ tàng long, Brokeback Mountain, Lust and caution, The Ice Storm, tiếp tục tạo nên một tuyệt tác mới. Qua ngôn ngữ của điện ảnh và công nghệ 3D kỳ thú, Lý An kể lại thành công câu chuyện đầy huyền hoặc, tưởng như chỉ có thể được phác họa bằng nghệ thuật miêu tả và khả năng khơi gợi của ngôn từ.

Phim thắng 4 giải Oscar: Đạo diễn, Quay phim, Âm nhạc, và Hiệu ứng hình ảnh, 1 giải Golden Globe và 1 giải BAFTA.

Lộc Đỉnh Ký – Jin Yong (Kim Dung)

Điểm Goodreads: 4.3

Tác phẩm Lộc Đỉnh Ký xoay quanh Vi Tiểu Bảo, nhiều thủ đoạn gian manh, mù chữ, không có tài cán gì, lại không có võ công và lười tập võ ngay khi có cơ hội, chỉ có mồm miệng lanh lợi và óc suy nghĩ nhanh nhẹn, thêm nghĩa khí với bạn bè. Thông qua hàng loạt cuộc phiêu lưu mạo hiểm, rủi ro, gã thiếu niên họ Vi làm cuộc hành trình từ thành Dương Châu ở miền Nam đến tận Bắc Kinh. Tại đó, gã đội lốt làm một thái giám. Do những cơ duyên lạ kỳ, gã tình cờ gặp gỡ hoàng đế trẻ tuổi Khang Hy và cả hai trở thành một đôi bạn thân thiết. Từ chuyện này qua chuyện khác, nhờ cơ mưu và lanh trí mà Vi Tiểu Bảo giúp Khang Hy trừ khử cố mệnh đại thần hống hách Ngao Bái, trở thành Thanh Mộc đường chủ (1 trong 10 đường chủ, chỉ đứng dưới Tổng đà chủ) trong tổ chức Thiên Địa Hội mưu đồ phản Thanh phục Minh, Bạch Long sứ (1 trong 5 sứ, chỉ đứng dưới Giáo chủ) của Thần Long Giáo, giúp Công chúa Sofia làm chính biến để nắm chức Nhiếp chính.

Cũng nhờ mồm mép giảo hoạt, cơ mưu và lanh trí mà Vi Tiểu Bảo nhiều lần thoát chết, đồng thời lập nhiều công trạng, lĩnh chức Ngự tiền Thị vệ Phó Tổng quản, Phó Ðô thống rồi Đô thống Kiêu kỵ Doanh chính Hoàng kỳ (1 trong 8 Đô thống, chỉ đứng sự sai khiến của hoàng đế), được cử làm Khâm Sai đại diện cho Hoàng đế đi Vân Nam, nhận chức Đại tướng quân thống lĩnh thủy lục tam quân đi đánh nước Nga, lại nhờ mồm mép và mưu mẹo mà lừa Nga vội vã ký hòa ước mang thắng lợi cho Trung Hoa rất nhiều. Vẫn thường được Khang Hi xem là phúc thần, Vi Tiểu Bảo dần dà leo lên tước nhất đẳng công, chỉ dưới tước vương. Qua vô số chiến công đó, gã còn kiếm được của cải khổng lồ bằng cách ăn chặn của công và nhận hối lộ.

Tuy nhiên, vì vừa là đường chủ của Thiên Địa Hội lại vừa là một đại thần của triều đình, Tiểu Bảo vô cùng khó xử: không muốn hại Khang Hy nói là “vì nghĩa khí” và không muốn tiêu diệt Thiên Địa Hội cũng nói là “vì nghĩa khí”. Trong khi Khang Hy không chấp nhận Vi Tiểu Bảo đứng một chân bên này và một chân bên kia, và có lúc Thiên Địa Hội muốn tôn Vi Tiểu Bảo làm hoàng đế nếu y chịu ám sát Khang Hy!

Tác phẩm Lộc Đỉnh Ký xoay quanh Vi Tiểu Bảo, nhiều thủ đoạn gian manh, vô học thức, có mồm miệng lanh lợi và óc suy nghĩ nhanh nhẹn, nhưng có nghĩa khí với bạn bè. Thông qua hàng loạt cuộc phiêu lưu mạo hiểm, rủi ro, gã thiếu niên họ Vi làm cuộc hành trình từ thành Dương Châu ở miền Nam đến tận Bắc Kinh. Tại đó, gã đội lốt làm một thái giám. Do những cơ duyên lạ kỳ, gã tình cờ gặp gỡ hoàng đế trẻ tuổi Khang Hy và cả hai trở thành một đôi bạn thân thiết. Bằng may mắn tuyệt vời và trí thông minh cùng những chiến lược nham hiểm, lén lút, gã đạt được rất nhiều thành tựu quá sức tưởng tượng. Đồng thời, Vi Tiểu Bảo trở thành một trong mười hương chủ của Thiên Địa Hội, tổ chức ngầm phản Thanh khôi phục nhà Minh. Anh ta còn trở thành Bạch Long sứ của Thần Long giáo, một trong năm chức vụ cao, chỉ đứng dưới giáo chủ. Qua những công cán phục vụ Khang Ky, Vi Tiểu Bảo được phong Tử tước rồi lên Bá tước và Công tước kiêm đại tướng quân. Qua vô số chiến công đó, gã còn kiếm được của cải khổng lồ bằng ăn chặn của công, đút lót, hối lộ…

Trong số các truyện võ hiệp của Kim Dung, ông cho biết mình ưng ý truyện này nhất, thế nên người viết chỉ giới thiệu sách và phim chuyển thể của Lộc đỉnh ký. Những phim bộ chuyển thể cho các truyện khác của Kim Dung mà tôi thấy đáng xem nhất là:

Anh hùng xạ điêu (2003): dàn diễn viên đồng đều, Hoàng Dung do Châu Tấn thể hiện gây ấn tượng nhất trong các phiên bản, ngoại cảnh hùng vĩ (nhất là cảnh trên đại mạc), âm nhạc hay, những màn võ như chân thật, không có kỹ xảo thành lố bịch như trong các phim chuyển thể Kim Dung trong các thập kỷ 2000 và 2010.

Tran Ngoc Lien tieu-long-nuThần điêu đại hiệp (1983): Trần Ngọc Liên trong hình tượng Tiểu Long Nữ trở thành kinh điển mà không diễn viên nào trước và sau vượt qua được: nét đẹp thâm trầm, tư thái nhàn nhã, biểu cảm ít khi lộ vui buồn vì nhân vật sống quá lâu cô độc trong cổ mộ, đúng theo tinh thần cúa sách nguyên tác. Vai Dương Quá của Lưu Đức Hoa cũng trở thành kinh điển, vai Chu Bá Thông hài nhất chứ không lố bịch, vai Hoàng Dung cũng tạo ấn tượng tốt, còn âm nhạc tuyệt vời mang lại nhiều cảm xúc. Trong các phiên bản khác, hình tượng của Lưu Diệc Phì thì trông quá nhí, không tỏ rõ vai trò sư phụ của Dương Quá, còn Lý Nhược Đồng thì trông giống tiểu thư khuê các hơn là con người có phần ngờ nghệch vì sống xa cách với xã hội.

Cô gái Đồ Long (1986): dàn diễn viên đồng đều, âm nhạc hay, Lương Triều Vỹ thể hiện Trương Vô Kỵ thành công nhất, các vai Trương Vô Kỵ, Chu Chỉ Nhược, Trương Tam Phong, Diệt Tuyệt Sư Thái và Chu Chỉ Nhược trở thành kinh điển mà các phiên bản về sau không thể sánh bằng, riêng tạo hình và cung cách của Kim Hoa Bà Bà thì vô đối. Chỉ tiếc chất lượng hình ảnh kém vào thời chưa có công nghiệp HD.

Ỷ Thiên Đồ Long Ký (2003): chất lượng đồng đều, cũng đáng xem.

Phim bộ:  Tân lộc đỉnh ký – Royal tramp (2008-2009)
Điểm IMDb: 6.3 [6.7]
Đạo diễn: Vu Mẫn
Số tập: 50 tập
Diễn viên: Huỳnh Hiểu Minh (Vi Tiểu Bảo), Chung Hán Lương (Khang Hy), Vương Cương (Sách Ngạch Đồ), Từ Cẩm Giang (Ngao Bái), Hà Trác Ngôn (Song Nhi), Thư Sướng (Kiến Ninh công chúa), Ninh Tĩnh (Trần Viên Viên), Ứng Thể Nhi (A Kha), Lưu Tư (Phương Di), Lưu Vân (Mộc Kiếm Bình), Hồ Khả (Tô Thuyên), Tiểu Lý Phi (Tăng Nhu)

Bộ phim được đánh giá cao nhờ sự đổi mới so với các phiên bản cũ. Dàn diễn viên tròn vai đồng đều, trang phục khá “tân thời” và bắt mắt hơn nhiều. Bộ phim không những có kịch bản cuốn hút mà cách dàn dựng rất công phu, nhiều khung cảnh hoành tráng, phố phường sống động như thật.

Nói chung, phiên bản này có chất lượng đồng đều nhất so với các phiên bản trước đó.

Memoirs of a geisha – Arthur Golden

Điểm Goodreads: 4.1

Geisha không đơn thuần là gái làng chơi. Thế giới geisha rất thần bí và những người muốn trở thành geisha phải trải qua một quá trình đào tạo nghiêm ngặt với rất nhiều bộ môn như vũ đạo, đàn hát, kể chuyện, pha trà, giao tiếp, ứng xử… Phần lớn các cô gái bị bán về đây từ nhỏ và bị tước mất tự do.

Vào năm 1929 ở Nhật, trong một làng chài xác xơ, có một gia đình quá nghèo, người vợ đau yếu sắp chết, người chồng phải bán hai đứa con. Cô em lên 9, mỹ miều, được nhận vào một trú viện (nơi ăn ở của ả đào). Cô chị lên 15, bị đưa vào chốn lầu xanh.

Để được huấn luyện trở thành geisha, nghĩa là được cho đi học trường dạy nghề ca, múa, hát, đàn, trà đạo, kiến thức, ăn nói… Chiyo phải hầu hạ geisha đàn chị Hatsumomo và sau một năm, phải được cô này chứng nhận là … lao động tốt, hạnh kiểm tốt. Nhưng xui cho Chiyo, Hatsumomo bản tánh độc ác, đố kỵ, thấy Chiyo có thể trở thành đối thủ tương lai nên lúc nào cũng kiếm chuyện hành hạ, bêu xấu. Chưa có dịp minh oan thì Chiyo bị bắt trong lúc trốn đi với người chị. Cô bé bị bà chủ trú viện đưa xuống hàng tôi tớ muôn năm. Dù bị đày đọa, Chiyo vẫn lớn lên, càng xinh đẹp, nhờ vận may mà đời đi lên, đổi tên thành Sayuri…

Đây chỉ là một câu chuyện tình thương tâm, gây cấn nhưng về phương diện văn học nghệ thuật thì truyện đáng được xem là một tác phẩm có giá trị văn học.

Phim lẻ: Memoirs of a geisha (2005)
Điểm IMDb: 7.3
Đạo diễn: D.J. Caruso, Rob Marshall
Diễn viên: Chương Tử Di (Sayuri), Củng Lợi (Hatsumomo), Dương Tử Quỳnh (Mameha)

Phim có trái khoáy ở chỗ đạo diễn là người Mỹ, ba diễn viên là người Hoa, để thể hiện một câu chuyện Nhật Bản!

Tuy bị phản đối vì không chọn diễn viên Nhật Bản cho vai nữ chính, đạo diễn vẫn quyết giữ chính kiến của mình. Ông nói: “Tôi muốn hư cấu bộ phim của mình thật nhiều, sao cho khác hẳn một bộ phim tài liệu đơn thuần. Vì vậy, tôi sẵn sàng phá vỡ các quy tắc”. Trong khi sách nguyên tác không phải là tác phẩm hư cấu.

Rob Marshall cũng thoát ly thực tế khi chọn Chương Tử Di, một diễn viên Trung Quốc, vào vai Sayuri, một kỹ nữ (nhân vật hư cấu) nổi tiếng nhất thập kỷ 1930. Ông còn chọn Dương Tử Quỳnh, ngôi sao của điện ảnh Malaysia, vào vai tiền bối của Sayuri.

Marshall nhận được nhiều thắc mắc và chê bai khi không chọn diễn viên Nhật vào vai geisha Sayuri. Ông giải thích: “Tôi tìm người có thể thể hiện được sống động bản chất của nhân vật, một người phụ nữ độ tuổi từ 15 đến 40, một diễn viên có hạng, đồng thời là một vũ công tài năng. Chương Tử Di là người phụ nữ duy nhất đáp ứng được những yêu cầu này. Nhiều tài tử nổi tiếng thế giới cũng đồng quan điểm với tôi”.

Không loại trừ lý do là tránh cho phim ế ẩm nếu dùng diễn viên Nhật mà thế giới ít ai biết đến. Tổng cộng, 3 siêu sao Hoa ngữ đã thủ diễn trong gần 70 phim, nên sự xuất hiện của họ giúp lôi kéo khán giả..

Nhưng nói chung, phim đạt mức độ thành công cao. Phim được đề cử 22 giải và nhận được 11 giải. Phim vào chung kết Giải Oscar ở 6 hạng mục và thắng 3: Quay phim, Chỉ đạo nghệ thuật và Âm nhạc.

Midnight Cowboy – James Leo Herlihy

Điểm Goodreads: 3.9

Tiểu thuyết được xuất bản năm 1965, kể về nỗi đau xé ruột của con người trong cuộc sống nơi đường phố New York hào nhoáng, một câu chuyện nhọc nhằn của những con người đáng thương, vật lộn với kế sinh nhai bằng những nghề nghiệp chẳng ra gì.

Joe Buck là anh chàng cao bồi Texas ngây thơ, cả tin, đi Thành phố New York để mong đổi đời. Nhưng anh lại gặp phải Ratso Rizzo, một con người lôi thôi về mọi mặt.

Midnight cowboy (1969)
IMDb: 7.9
Đạo diễn: John Schlesinger
Diễn viên: Dustin Hoffman, Jon Voight, Sylvia Miles

Thường xuyên có mặt trong top những phim hay nhất mọi thời đại, Midnight cowboy kể về câu chuyện của anh chàng ngây ngô Joe Buck đến từ miền quê Texas muốn lên thành phố New York hoa lệ để tìm vận may. Trong lúc vật lộn với những ảo tưởng bị tan vỡ, chàng trai quê mùa này tìm thấy người bạn duy nhất của mình tại giữa nơi thành phố xa hoa mà kiêu hãnh, một anh bạn cù bơ cù bất sống bằng nghề lừa đảo, trộm vặt và bệnh tật liên miên “Ratso” Rizzo. Cả hai cùng nhau trải qua những tháng ngày nhục nhằn, lầm lỗi, hết hy vọng lại thất vọng, để rồi rốt cuộc nhận ra chỉ có tình bạn chân thành là điều tốt lành duy nhất mà họ đang có.

Midnight-cowboy-1969

Đôi bạn Joe và Rizzo giữa Thành phố New York

Midnight cowboy khiến cho bất cứ ai xem qua cũng không thể nào quên là hoàn toàn nhờ vào diễn xuất sáng tạo của Jon Voight và đặc biệt là Dustin Hoffman. Anh mang đến cho nhân vật Rizzo sự hài hước và chiều sâu nhân tính. Ảo tưởng từ đầu đến cuối phim của Rizzo là làm sao đến được Florida chỉ để được gọi đúng tên mình chứ không phải “Chuột cống”. Còn chàng cao bồi Joe Buck thì lúc nào cũng ảo tưởng về vẻ bề ngoài và luôn muốn chứng minh mình là… giống tốt. Jon Voight nhập vai xuất sắc đến mức một nhà phê bình viết bài khen ngợi rằng, không biết John Schlesinger tìm ở đâu ra một anh chàng cao bồi nhà quê mà diễn hay đến thế! Kể từ phim này, Jon Voight trở thành một diễn viên đầy triển vọng của điện ảnh Mỹ. Còn Dustin Hoffman chính thức bước chân vào hàng ngũ những ngôi sao tài năng có thể đóng bất cứ loại vai gì!

Năm 1994, bộ phim được tái phát hành nhân kỷ niệm 25 năm ra mắt. Khán giả và các nhà phê bình vẫn tán dương những giá trị nghệ thuật của nó: “Phát hành lần thứ hai vẫn thành công vang dội, bộ phim vẫn đứng vững với những thử thách của thời gian” – Sickel & Ebert. “Mỗi hành động, mỗi cảnh trong phim vẫn mới mẻ như nó mới được công chiếu lần đầu tiên” – Premier.

One flew over the cuckoo’s nest (Bay trên tổ chim cúc cu) – Ken Kesey

Điểm Goodreads: 4.5

Quyển sách này chạm tới những câu hỏi phức tạp nhất về tự do và khuôn khổ, cá nhân và hệ thống, bình thường và bất thường, sự tỉnh táo và điên loạn… Một best-seller, một kiệt tác văn chương có mặt trong danh sách những cuốn sách vĩ đại nhất thế kỷ XX.

Cốt truyện chỉ gói gọn trong một bệnh viện tâm thần, nhưng đó chính xác là một xã hội thu nhỏ, nơi tất cả quyền lực nằm trong tay nữ Điều dưỡng trưởng. Đó là nơi nơi bản năng giới tính của con người bị kìm hãm đến khô kiệt, nơi mỗi cá nhân bị điều khiển và giám sát bằng những cơ chế lạnh lẽo đến vô tri và nơi ý niệm về người bình thường – người không bình thường không được phân định rõ ràng.

Những bệnh nhân tâm thần đều phải tuân theo những nguyên tắc và quy định của Điều dưỡng trưởng Ratched, một cựu y tá quân đội, người điều hành tổ hợp của mình một cách trơn tru và chính xác như một cỗ máy. Mọi chuyện bắt đầu xáo trộn khi nhân vật chính của thiên tiểu thuyết – Randke McMurphy – xuất hiện. Anh ta là một tay nghiện cờ bạc, đặc biệt có hứng thú với phụ nữ và những quân bài.

Phim: One flew over the cuckoo’s nest (1975)
Điểm IMDb: 8.8
Đạo diễn: Milos Forman
Diễn viên: Jack Nicholson (Randle Patrick McMurphy), Louise Fletcher (Điều dưỡng trưởng Ratched), Will Sampson (“Chief” Bromden), Brad Dourif (Billy Bibbit), Michael Berryman, Scatman Crothers, Mwako Cumbuka, Danny DeVito, William Duell

Năm 1962, cuốn tiểu thuyết One flew over the cuckoos nest của nhà văn trẻ Ken Kesey trình làng và làm dậy sóng văn đàn Mỹ. Câu chuyện nhanh chóng trở thành hiện tượng thu hút sự chú ý của cả xã hội trong đó có các nhà làm phim. Người đầu tiên may mắn mua được bản quyền chuyển thể cuốn sách là ngôi sao điện ảnh Kirk Douglas, rồi ông này nhượng lại bản quyền cuốn sách cho người con trai Michael Douglas làm phim.

Cuckoos_nest_hed

Nhưng mọi chuyện không như dự tính. One flew over the cuckoos nest khi được trao vào tay Michael Douglas và nhà sản xuất phim độc lập Saul Zaentz lại mang một số phận khác. Với mức kinh phí thấp, Michael và những cộng sự của mình không có nhiều cơ hội cộng tác với những đạo diễn, diễn viên tài danh. Đó là lý do khi những cái tên như Milos Forman, Louise Fletcher được xướng lên trên thảm đỏ Oscar, khán giả không khỏi ngỡ ngàng.

Oscar Grand Slam (hay còn gọi là Big Five) là danh từ dùng để tôn vinh bộ phim nào đoạt được 5 giải Oscar quan trọng nhất: Phim hay nhất, Đạo diễn, Nam chính, Nữ chính và Kịch bản. Trong lịch sử hơn 80 năm của giải Oscar, chỉ có 3 phim đoạt được danh hiệu này. Đó là: It happened one night (1934), One flew over the cuckoo’s nest (1975) và The silence of the lambs (1991).

Một phim được sản xuất vào năm 1975 nhưng vẫn hấp dẫn khi xem lại nhiều thập niên sau. Ý nghĩa và thông điệp của nó thì có lẽ hàng trăm năm sau vẫn còn nguyên giá trị. Phim lọt vào Top 15 Điểm IMDb và Top 20 của 100 phim xuất sắc nhất nước Mỹ.

Trong tất cả danh sách bầu chọn những phim hay nhất mọi thời đại của điện ảnh Mỹ, One flew over the cuckoos nest luôn luôn là cái tên không thể thiếu. One flew over the cuckoos nest còn lập được một kỷ lục vô tiền khoáng hậu, đó là tại một số rạp ở Thụy Điển, bộ phim đã trụ vững liên tục suốt… 12 năm (1975 – 1987).

Phim lập được kỷ lục đáng nể lúc bấy giờ với doanh thu khổng lồ 109 triệu USD tại thị trường Mỹ. Trong khi đó, ít ai ngờ rằng tổng kinh phí làm phim chỉ vỏn vẹn 4,4 triệu USD.

Out of Africa – Isak Dinesen & Karen Blixen

Điểm Goodreads: 4.0

Đây là sách tự thuật của nữ bá tước Karen Blixen, người Đan Mạch, lấy bút danh là Isak Dinesen. Năm 1913, Karen đến Kenya để cưới Bror Blixen – một người bạn cũ ở Đan Mạch. Tuy nhiên đây là một đám cưới vụ lợi: Bror có tước hiệu, còn Karen có số tiền cần thiết để có thể lập một trang trại bò sữa. Cuộc hôn nhân sớm tan vỡ và Karen rơi vào vòng tay người thợ săn người Anh có tâm hồn phóng khoáng Denys Finch… Khi những giấc mơ đã cạn kiệt, bà trở về Đan Mạch viết sách dưới bút danh Isak Dinesen. Sau nhiều năm, những ký ức và nỗi đau của Karen được thể hiện trong tác phẩm biến Out of Africa, một trong những cuốn sách hay nhất viết về châu Phi.

Phim lẻ: Out of Africa (1985)
Điểm IMDb: 7.2
Đạo diễn: Sydney Pollack
Diễn viên: Meryl Streep (Karen), Robert Redford (Denys), Klaus Maria Brandauer (Bá tước Bror Blixen), Michael Kitchen (Berkeley), Malick Bowens (Farah), Joseph Thiaka (Kamante), Stephen Kinyanjui (Kinanjui)

Bộ phim dài đến 160 phút nhưng rất ít nhân vật, vì thế chọn diễn viên là điều quan trọng hàng đầu. Sau khi đã thử tất cả các diễn viên người Anh, Sydney hiểu rằng chỉ có Robert Redford là hợp với vai này nhất. Tuy nhiên nhiều nhà phê bình qá khắt khe cho rằng anh diễn mang đậm phong cách Mỹ hơn là một vai diễn người Anh.

Diễn xuất của Meryl Streep là quá tuyệt, không cần phải bàn cãi. Diễn viên người Đức Klaus Maria Brandauer, thủ vai Bá tước Bror Blixen, là lựa chọn số một đến mức có những thời điểm Klaus vì quá bận đã tính từ chối, làm Sydney phải lo sốt vó vì theo ông, không thể tìm được một ai khác có thể thay thế Klaus.

Nhạc phim tạo nên một đỉnh cao của Out of Africa. Không ai xem phim này có thể quên được giai điệu da diết do nhà soạn nhạc lừng danh John Barry viết. Nhạc nền của phim này tạo cho người xem cảm nhận vẻ đẹp của thảo nguyên bao la hiện lên trước mắt mình. Đạo diễn Sidney Pollack muốn nhạc phim phải thể hiện được tinh thần của nhân vật. John Barry viết cả chục giai điệu nhằm thể hiện tình cảm yêu thương da diết cho phù hợp với phim, và người kiểm duyệt có tiếng nói trọng lượng đầu tiên là… vợ ông. Chỉ đến khi nào bà gật đầu thì ông mới cảm thấy mình đã thành công. Sau khi bộ phim công chiếu, giai điệu tuyệt vời trong phim giúp mang lại cho nhà soạn nhạc John Barry hầu như tất cả những danh hiệu và giải thưởng cao quý nhất của thế giới trong lĩnh vực âm nhạc. Riêng bản cổ điển Clarinet concerto in A major K622 Adagio của Mozart được đưa vào phim rất hay và phù hợp.

Để tìm kiếm những phong cảnh có thể phản ánh được vẻ đẹp bình dị đầy chất thơ trong câu chuyện, đạo diễn Sydney Pollack cùng với nhà thiết kế Stephen Grimes và những nhà cố vấn khác đã gần như phải “lục tung” đất nước Kenya để tìm những bối cảnh thích hợp cho phim.

Out of Africa 5

Tư liệu sử dụng chủ yếu từ những bức hình xưa cũ và dựa theo một vài bản vẽ thiết kế gốc còn lưu lại trong các viện bảo tàng, nhà thiết kế Grimes và các cộng sự xây dựng một bản sao chính xác về thuở ban đầu của thủ đô Nairobi thời kỳ khai phá và mở rộng diện tích đất chăn nuôi trồng trọt. Trong đó phải kể đến những khách sạn, tòa nhà ngân hàng, những tòa nhà chính phủ đủ kiểu dáng, chợ Ấn Độ, khu họp chợ trời, văn phòng bác sĩ, nhà thờ, cửa hàng thương mại và bản sao của nhà ga xe lửa đúng như kích thước thật.

Ấn tượng lớn nhất khi xem phim là những khung hình tạo cho khán giả cảm giác choáng ngợp trước thiên nhiên châu Phi hùng vĩ. Đây là một bộ phim nặng về cảm xúc, vì thế kịch bản rất khó quay, rất khó thể hiện bằng ngôn ngữ hình ảnh. Nhà quay phim David Watkin sử dụng rất nhiều góc máy từ trên cao, phần lớn quay ngoại cảnh với ánh sáng tự nhiên, một ít nội cảnh cũng là ánh sáng thật.

Phim nhận 7 giải Oscar: Phim, Đạo diễn, Biên kịch, Quay phim, Chỉ đạo nghệ thuật, Âm thanh, Âm nhạc.

Với kinh phí sản xuất khoảng 31 triệu USD, phim đạt doanh thu toàn cầu là 258,2 triệu USD. Đây là một con số ngoài sức tưởng tượng, bởi trên thế giới không có nhiều bộ phim tình cảm đạt được điều tương tự. Sau khi bộ phim được trình chiếu, khách du lịch bắt đầu ồ ạt tới vùng đất nghèo khó này, họ cảm thấy mình cần phải nhanh chóng khám phá một châu Phi hoang sơ trước khi nó được hiện đại hóa.

Papillon (Người tù khổ sai) – Henri Charrière

Goodreads rating: 4.2

Cuốn sách này ra đời làm chấn động Paris. Thắng lợi vượt xa dự tính của tác giả, riêng ở Pháp đã phát hành hơn một triệu bản (1969). Chỉ vài năm sau, Papillon được dịch ở 25 nước.

Bị xử án đày khổ sai chung thân vì tội giết người căn cứ vào lời khai của một nhân chứng mà tác giả cho rằng đã được cảnh sát mớm cung, Charrière quyết chí chuẩn bị vượt ngục ngay từ đầu. Anh quyết sống và thoát ra khỏi trại khổ sai để trả thù. Quyết tâm ấy làm cho anh có đủ sức mạnh chịu đựng mọi thử thách. Không có một mối nguy hiểm nào làm cho anh lùi bước, không có một phen thất bại ê chề nào làm cho anh nhụt chí. Nếu kể cả những mưu toan vượt ngục bị vỡ lở ngay từ khi đang chuẩn bị, Charrière, biệt hiệu Bươm Bướm, tổ chức cả thảy chín lần vượt ngục trước khi thành công và được nhận cư trú ở Venezuela như một công dân chính thức.

Tính chính xác của câu chuyện bị nghi ngờ, nhưng ông luôn cho rằng, chỉ trừ vài sai sót nhỏ do trí nhớ, tất cả đều là sự thực.

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu hiện đại tin rằng Charrière đã lấy phần lớn tư liệu cho cuốn sách từ các bạn tù khác, và coi câu chuyện này mang nhiều tính tưởng tượng hơn là một cuốn hồi ký chân thực. Năm 2005, một cụ già ở Paris khi ấy đã 104 tuổi, Charles Brunier, tuyên bố rằng mình là Papillon đích thực. Các nhà phê bình hiện đại có xu hướng đồng ý rằng câu chuyện của Charrière có các sự kiện xảy ra với những người khác, và rằng Brunier quả thực ở tù cùng thời gian đó.

Dù sao đi nữa, đây là một quyển sách lôi cuốn và rất đáng đọc.

Papillon (1973)
IMDb: 8.0
Đạo diễn: Franklin J. Schaffner
Diễn viên: Steve McQueen, Dustin Hoffman, Victor Jory, Don Gordon, Anthony Zerbe, Robert Deman, Woodrow Parfrey

Phim Papillon dựa theo tác phẩm cùng tên của nhà văn Henri Charrière, biệt hiệu là Papillon (Bươm Bướm), và chính ông đảm nhiệm vai trò cố vấn.

Bị xử án đày khổ sai chung thân mà tác giả cho là oan ức, Charrière (Steve McQueen) quyết chí chuẩn bị vượt ngục ngay từ đầu. Anh quyết sống và thoát ra khỏi trại khổ sai để trả thù. Quyết tâm ấy làm cho anh có đủ sức mạnh chịu đựng mọi thử thách. Không có một mối nguy hiểm nào làm cho anh lùi bước, không có một phen thất bại ê chề nào làm cho anh nhụt chí. Nếu kể cả những mưu toan vượt ngục bị vỡ lở ngay từ khi đang chuẩn bị, Charriere tổ chức cả thảy chín lần vượt ngục…

Prayers for Bobby: A mother’s coming to terms with the suicide of her gay son – Leroy Aarons

Điểm Goodreads: 4.3

Bobby Griffith mang chứng đồng tính luyến ái và bà mẹ anh, một con chiên ngoan đạo, luôn nghĩ đó là tội lỗi, bắt buộc anh phải từ bỏ chứng đó và không muốn thông cảm với đứa con. Không thể làm được gì khác, anh tự tử. Quyển Prayers for Bobby, được đề cử cho Giải Văn học Lambda, là câu chuyện kể lại những diễn tiến dẫn quyết định thê thảm đó. Đó cũng là câu chuyện của bà mẹ, người ban đầu luôn cầu nguyện cho đứa con chóng được “chữa lành”, rồi đau khổ vì việc anh quyên sinh, và cuối cùng trở thành người tranh đấu cho quyền của những người đồng tính.

Prayers for Bobby (2009 TV movie)
IMDb: 8.2
Đạo diễn: Russell Mulcahy
Diễn viên: Sigourney Weaver, Henry Czerny, Ryan Kelley

Prayer forCậu con trai thu hết can đảm để thú nhận với mẹ cậu rằng mình là người đồng tính. Bà mẹ như rơi xuống hố sâu địa ngục, tìm mọi cách để chữa trị cho cậu. Nhưng những gì bà làm được là sự áp đặt mù quáng…

Dựa trên câu chuyện có thật từng xảy ra với số phận nghiệt ngã của chàng trai đồng tính Bobby, đạo diễn Russell Mulcahy cho ra đời một tác phẩm điện ảnh thực sự lay động con tim khán giả ngay cả khi bạn là người luôn phản đối những người đồng tính. Sự xung đột ý thức hệ, thiếu sẻ chia, kém hiểu biết và gánh nặng tôn giáo thực sự trở nên quá tải đối với chính Bobby và cả người mẹ đầy yêu thương của anh.

Phim không chỉ liên quan đến vấn đề đồng tính. Đây còn là phim về cộng đồng, gia đình, tình bạn, sự hiểu biết và cảm thông.

Pride and prejudice (Kiêu hãnh và định kiến) – Jane Austen

Điểm Goodreads: 4.3

Đây là truyện được yêu thích nhất trong số các tác phẩm của Jane Austen. Truyện kể về cuộc đối đầu giữa cô Elizabeth Bennet, con gái của một gia đình trung lưu, và anh Fitzwilliam Darcy, một chủ đất giầu có. Mặc dù họ để tâm tìm hiểu lẫn nhau, tác giả đảo ngược ý niệm thông thường về “thuở ban đầu”: tính kiêu hãnh về giai cấp và tài sản của mình cùng định kiến về vị thế thấp kém của gia đình Elizabeth khiến cho cho anh Darcy lúc đầu muốn tránh xa cô. Cùng lúc, cô Elizabeth cũng kiêu hãnh vì lòng tự trọng của mình và có định kiến với cung cách trưởng giả của Darcy, trở thành một người con gái không giống như những người con gái khác chung quanh anh Darcy.

Với tố chất nhậy bén, dí dỏm và cứng cỏi, Elizabeth được xem là một trong những nhân vật lôi cuốn nhất trong nền văn học Anh quốc..

Tiểu thuyết Pride and prejudice của Jane Austen có đặc điểm là 1/3 đầu đọc khô khan khiến nhiều độc giả  bỏ cuộc, 1/3 kế tiếp lôi cuốn hơn, và 1/3 cuối thì quả là xuất sắc. Những ai không muốn đủ kiên nhẫn để đọc hết quyển sách thì nên tìm xem một hoặc cả hai phim dưới đây.

Phim bộ: Pride and prejudice (1995)
IMDb: 9.0
Diễn viên: Colin Firth, Jennifer Ehle, Susannah Harker
P&P 3

Bộ phim có 6 tập, dài tổng cộng 5 giờ 27 phút. Điều lạ lùng là các tập được điểm IMDb riêng rẽ từ 8,1 đến 8,5, nhưng điểm IMDb cho toàn bộ phim lại lên đến 9,0.

Riêng người viết (cũng là dịch giả cuốn tiểu thuyết) nhận thấy vai Elizabet được Jennifer Ehle thể hiện quá đạo mạo, thậm chí có phần lớn tuổi, trong khi Elizabeth là cô gái 20 tuổi, có miệng lưỡi nhanh nhạy và sắc bén, thể hiện tính cách láu lỉnh thì đúng hơn.

Phim lẻ: Pride and prejudice (2005)
Điểm IMDb: 7.8
Đạo diễn: Joe Wright
Diễn viên: Keira Knightley, Matthew Macfadyen, Brenda Blethyn

Khán giả có thể rất thích phim này, riêng người viết chê phim ở điểm quan trọng: Elizabeth do Keira Knightley thủ vai quá hùng hổ, đến mức xấc xược đanh đá, nhất là khi anh Darcy tỏ tình với cô. Nhân vật Elizabeth có tính cứng cỏi, lời lẽ sắc bén, nhưng không đanh đá.

Shakespeare’s Romeo and Juliet
Michael Rosen (truyện), Jane Ray (minh họa)

Điểm Goodreads: 4.1

Xuất thân từ hai dòng họ thù địch nhau, đôi trai gái Romeo và Juliet yêu nhau say đắm và nguyện sẽ mãi bên nhau…

Nguyên tác của Shakespear chỉ có điểm Goodreads 3.7. Truyện được kể lại bằng văn phong giản dị nhưng hào hứng, kèm thêm minh họa, giúp độc giả cảm thấy hấp dẫn và sảng khoái hơn.

Phim lẻ: Romeo and Juliet (1968)
Điểm IMDb: 7.6
Đạo diễn: Franco Zeffirelli
Diễn viên: Leonard Whiting, Olivia Hussey, John McEnery, Milo O’Shea, Pat Heywood, Robert Stephens, Michael York, Bruce Robinson

Đây có lẽ là phiên bản điện ảnh nổi tiếng nhất của câu chuyện tình mà đại thi hào Shakespeare tạo nên. Cho dù có những phiên bản trước kia bắt đầu từ 1936 và sau này cho đến 2017, phiên bản 1968 vẫn là kinh điển.

Vẻ đẹp cũng như diễn xuất của cặp tài tử Olivia Hussey và Leonard Whiting tạo ra nhiều cung bậc cảm xúc. Phiên bản năm 1968 còn nổi tiếng với bản tình ca bất hủ A time for us làm rung động lòng người mỗi khi ngân vang.

Phim nhận hai giải Oscar: Quay phim và Trang phục.

Schlinder’s ark; Schlinder’s list (tạm dịch: Danh sách của Schindler) – Thomas Keneally

Điểm Goodreads: 4.3

Thomas Keneally (1935- ) viết nên quyển sách nhận Giải Booker nhờ nỗ lực của Poldek Pfefferberg (1913-2001), người sống sót qua cuộc diệt chủng.

Vào tháng 10 năm 1980, nhà văn người Úc Thomas Keneally ghé vào cửa hàng bán đồ da ở Los Angeles sau khi dự một liên hoan phim trình chiếu một phim chuyển thể từ một quyển sách của ông. Khi người chủ cửa hàng, tên là Poldek Pfefferberg, biết được Keneally là nhà văn, ông kể cho vị khách nghe “một câu chuyện có tính nhân văn cao nhất giữa người đối với người.” Đó là câu chuyện về chính hai vợ chồng chủ cửa hàng và hàng nghìn người Do Thái khác được chủ nhân một nhà máy của Đức quốc xã tại Ba Lan (đang bị Đức quốc xã chiếm đóng) cứu thoát khỏi họa diệt chủng trong Thế chiến 2.

Rồi Pfefferberg cho Keneally xem những tài liệu về vụ việc của chủ nhân nhà máy, Oskar Schindler (1908-1974). Keneally lấy làm quan tâm, thế là Pfefferberg dẫn nhà văn đi Ba Lan để xem những hiện trường liên quan đến câu chuyện về Oskar Schindler. Trong Thế chiến 2 ông này rất giàu, đáng lẽ có thể đi Mỹ và bỏ tiền ra mua bất động sản cao cấp rồi thụ hưởng cảnh giàu sang. Thay vào đó, ông chi trả hầu như toàn bộ gia tài của mình để liều mình hối lộ cứu hàng nghìn người thoát khỏi Quốc xã. Bởi vì Pfefferberg xem Keneally như là Noah cứu thế giới khỏi họa đại hồng thủy, Keneally đặt tựa đề quyển sách là Schlinder’s ark (ark là chiếc tàu của Noah, sau này tựa sách đổi thành Schlinder’s list). Trong sách Keneally cũng viết cảm tạ Pfefferberg, cho biết chính nhờ ông này mà quyển sách ra đời.

Cũng chính nhờ Pfefferberg mà phim chuyển thể ra đời.

Phim lẻ: Schindler’s list (1993)
Điểm IMDb: 8.9
Đạo diễn: Steven Spielberg
Diễn viên: Norbert Weisser (Albert Hujar), Friedrich Von Thun (Rolf Czurda), Ben Kingsley (Itzhak Stern), Ralph Fiennes (Amon Goeth), Mark Ivanir (Marcel Goldberg), Caroline Goodall (Emilie Schindler), Liam Neeson (Oskar Schindler)

Có vẻ như một khi nhà đạo diễn bậc thầy Steven Spielberg chuyển thể danh tác nào thành phim thì phim đó trở thành kinh điển. Phim Schindler’s list cũng thế. Nhưng phải đợi một thời gian trong khi Steven Spielberg nghĩ mình chưa đủ khả năng để đạo diễn phim về đề tài diệt chủng. Cuối cùng, khi quyết định làm phim, ông đi Ba Lan để hỏi han những người có liên quan đển vụ việc Schindler’và quan sát những hiện trường sẽ đưa vào phim. Pfefferberg được mời làm cố vấn cho việc thực hiện phim Schindler’s list. Còn Steven Spielberg từ chối nhận tiền thù lao (xem đó là tiền xương máu) khi làm phim Schindler’s list.

Steven Spielberg quyết định làm phim trắng đen, cho rằng đây là điều phù hợp bởi ông nghiên cứu việc diệt chủng qua lời kể trong trạng thái u ám của người có liên quan và qua phim tài liệu chỉ toàn trắng đen.

Chỉ duy nhất một một chi tiết có màu, đó là bé gái đoản mệnh mặc áo màu đỏ giữa khung cảnh còn lại vẫn đen trắng, gây ám ảnh cho người xem. Người thủ vai cô bé là Oliwia Dabrowska, lúc đó 3 tuổi. Bé không biết mình đóng phim gì, và Spielberg dặn rằng bé không được xem phim cho tới khi bé 18 tuổi, vì phim có nhiều cảnh ghê rợn. Nhưng đến năm 11 tuổi, bé phá lời hứa với Spielberg, và bị chấn thương tâm lý sau khi xem những cảnh giết chóc dã man của phim.

Be gai mau do 3

Nhưng bây giờ Oliwia đã lớn, cô xem lại Schindler’s list lần nữa và phát hiện rằng phim… rất hay. Cô gửi lời xin lỗi cho Spielberg trên báo, nói rằng mình tự hào vì đã góp mặt trong một tác phẩm vĩ đại.

Schindler’s list nhận tổng cộng 131 đề cử, và được trao 82 giải. Ngoài các giải Quả cầu vàng, BAFTA và Grammy dành cho Phim xuất sắc, Schindler’s list  còn nhận 7 giải Oscar: Phim, Đạo diễn, Biên kịch, Quay phim, Chỉ đạo Nghệ thuật, Dàn dựng, Âm nhạc. Viện Điện ảnh Mỹ xếp Schindler’s list ở vị trí thứ 9 trong danh sách những phim hay nhất mọi thời đại.

Sense and sensibility (Lý trí và tình cảm) – Jane Austen

Điểm Goodreads: 4.1

Truyện quay quanh hai chị em Elinor và Marianne. Cô chị Elinor có nhiều lý trí, cẩn trọng, biết cách tự kiềm chế vui buồn; và cô em Marianne hành xử theo cách vô cùng lãng mạn, buông thả vào những tình cảm đến mức khinh suất. Làm thế nào mỗi cô thiếu nữ ứng phó với bất hạnh của mình về tình cảm và rút tỉa được những bài học cho mình tạo nên mấu chốt cho câu chuyện. Ảnh hưởng của cha mẹ đối với con cái (hoặc quá nuông chiều hoặc quá khe khắt) trong giai đoạn này ở Anh quốc cũng được trình bầy khá rõ nét.

Phim lẻ: Sense and sensibility (1995)
Điểm IMDb: 7.7 [8.3]
Đạo diễn: Ang Lee (Lý An)
Diễn viên: Emma Thompson (Elinor Dashwood), Kate Winslet (Marianne Dashwood), James Fleet (John Dashwood), Tom Wilkinson (Mr. Dashwood), Harriet Walter (Fanny Dashwood), Gemma Jones (Mrs. Dashwood), Hugh Grant (Edward Ferrars), Alan Rickman (Colonel Brandon), Robert Hardy (Sir John Middleton), Greg Wise (John Willoughby), Elizabeth Spriggs (Mrs. Jennings), Ian Brimble (Thomas)

Điều lạ lùng là một đạo diễn gốc Hoa làm phim chuyển thể văn học cổ điển Anh quốc, và chuyển thể thành công! Lý An thật sự làm khán giả kinh ngạc vì phim của ông thể hiện đúng chất Jane Austen trong khung cảnh nước Anh thế kỷ 18.

Phim được nữ diễn viên Emma Thompson viết kịch bản, có nội dung theo sát sách nguyên tác, và thủ vai Elinor rất đạt.

Với dàn diễn viên đều làm tròn vai, tuổi tác hợp với nhân vật trong phim, ngoại cảnh đẹp, tình tiết sâu sắc, đây là phiên bản chuyển thể rất hay, có lẽ là phim chuyển thể tiểu thuyết của Jane Austen hay nhất.

Phim bộ: Sense and sensibility (2008)
Điểm IMDb: 8.1
Đạo diễn: John Alexander
Diễn viên: Dominic Cooper (Willoughby), Charity Wakefield (Marianne Dashwood), Hattie Morahan (Elinor Dashwood), Janet McTeer (Mrs. Dashwood), Lucy Boynton (Margaret Dashwood), David Morrissey (Colonel Brandon), Linda Bassett s Jennings), Mark Williams (Sir John Middleton), Claire Skinner (Fanny Dashwood), Rosanna Lavelle (Lady Middleton), Dan Stevens  (Edward Ferrars), Mark Gatiss (John Dashwood), Daisy Haggard (Miss Steele), Anna Madeley (Lucy Steele), Leo Bill (Robert Ferrars), Tim McMullan (Mr Palmer), Tabitha Wady (Charlotte Palmer)
3 tập, dài tổng cộng 2 giờ 54 phút.

Nhiều người thoạt đầu nghĩ rằng khó có đạo diễn nào làm giỏi hơn Lý An, nhưng khi xem phiên bản này họ mới thấy đây thật sự là một chuyển thể hay. Phim bộ này chỉ dài hơn phim của Lý An 40 phút, vừa dài đủ để dàn diễn viên có thêm đất diễn, biểu lộ nhiều cảm xúc nội tâm hơn, nhưng không quá dài kẻo khán giả thấy khó thưởng thức.

Dù phiên bản này được IMDb chấm điểm cao hơn nhưng người viết vẫn thích phiên bản 1995 hơn. Bạn nên xem cả hai phiên bản để có kết luận cho riêng mình.

Tam Quốc diễn nghĩa – La Quán Trung

Điểm Goodreads: 4.6

Tác phẩm quá nổi tiếng nên không cần giới thiệu với người Việt.

Phim bộ: Tam Quốc diễn nghĩa – The romance of three kingdoms (1994)
Điểm IMDb: 8.6
Tổng đạo diễn: Vương Phù Lâm
Đạo diễn từng phần: Trần Hảo Phóng, Thái Hiểu Tình, Trương Trung Nhất, Tôn Quang Minh, Trương Thiệu Lâm
Diễn viên: Tôn Ngạn Quân (Lưu Bị), Lục Thụ Minh (Quan Vũ), Lý Tĩnh Phi (Trương Phi), Bảo Quốc An (Tào Tháo) Ngô Hiểu Đông (Tôn Quyền), Đường Quốc Cường (Gia Cát Lượng), Bộc Tồn Hân (Tôn Sách), Hồng Vũ Trụ (Chu Du),  Trần Hồng (Điêu Thuyền), Lý Pha (Đổng Trác), Trương Quang Bắc (Lã Bố), Đường Chấn Hoàn (Tư Mã Ý), Tào Lực (Lỗ Túc), Hồng Vũ Trụ (Viên Thiệu), Trương Sơn (Triệu Vân)

Cho dù đã xem bộ sách nguyên tác bao nhiêu lần, bạn vẫn nên xem phim chuyển thể, từ đó mới cảm nhận hết những nét hào hùng và bi thương của cốt truyện. Lấy ví dụ, cảnh tang lễ của Chu Du làm xao động lòng người mà nếu không xem phim ta không thể mường tượng ra, bởi vì sách nguyên tác không có một chữ miêu tả khung cảnh này.

Tam Quoc 2

Phiên bản chỉn chu theo sát nguyên tác, với giọng thuyết minh của Thu Hiền. Tạo hình và diễn xuất của các nhân vật đều đạt yêu cầu, nhưng khán giả phải chấp nhận chất lượng hình ảnh kém trước khi có HD.

Một khuyết điểm không đáng có là các màn chiến đấu trông rất hời hợt, như cảnh Triệu Tử Long xông xáo giữa hàng ngũ quân Tào trông quá kém: câu chuyện về trận chiến của hàng vạn quân xem giống như chỉ có vài trăm quân, hoặc cảnh chiến đấu giữa Trương Phi và Mã Siêu trông quá thô thiển trong khi đó là trận đấu khốc liệt giữa hai mãnh tướng. Đáng lẽ phải có thêm diễn viên quần chúng và thêm một ít huấn luyện về võ thuật cho diễn viên thì các cảnh chiến trường mới thể hiện anh hùng tính của cốt truyện.

Phim bộ: Tam Quốc diễn nghĩa (2010)
Điểm IMDb: 8.2
Tổng đạo diễn: Cao Hi Hi
Diễn viên:
Đông Hán
Đổng Trác: Lữ Hiểu Hòa, Lã Bố: Hà Nhuận Đông, Điêu Thuyền: Trần Hảo, Trần Cung: Tôn Hồng Đào, Viên Thiệu: Hứa Văn Quảng, Viên Thuật: Diêm Bái, Vương Doãn: Trịnh Thiên Dung
Tào Ngụy
Tào Tháo: Trần Kiến Bân, Tư Mã Ý: Nghê Đại Hồng, Tào Thực: Lý Kế Xuân, Tào Phi: Vu Tân, Hạ Hầu Uyên: Lý Kì Long, Tuân Úc: Lý Kiến Tân, Từ Thứ: Diêu Cương, Dương Tu: Kim Nghị
Thục Hán
Lưu Bị: Vu Hòa Vĩ, Quan Vũ: Vu Vinh Quang, Trương Phi: Khang Khải, Gia Cát Lượng: Lục Nghị, Triệu Vân: Nhiếp Viễn, Mã Siêu: Trần Dịch Lâm, Ngụy Diên: Vương Tân Quân, Bàng Thống: Đỗ Húc Đông, Lưu Thiền: Vương Hạc Minh
Đông Ngô
Tôn Quyền: Trương Bác, Chu Du: Huỳnh Duy Đức, Tôn Sách: Sa Dật, Lã Mông: Thường Thành, Lục Tốn: Phùng Thiệu Phong, Lỗ Túc: Hoắc Thanh, Tôn Kiên: Phạm Vũ Lâm, Trình Phổ: Chung Minh Hòa

Khác với kịch bản cũ hoàn toàn trung thành với nguyên tác, kịch bản lần này có nhiều thay đổi. Nội dung bắt đầu từ lúc Đổng Trác đã thiết lập quyền lực ở triều đình, và có thêm nhiều cảnh về các vai phụ nữ và quá dài dòng về Tư Mã Ý. Ngoài việc giữ lại những sự kiện quen thuộc trong Tam Quốc diễn nghĩa, Chu Tô Tiến còn bổ sung thêm nhiều sự kiện, chi tiết và tư liệu lấy từ các sách lịch sử như Hậu Hán thư, Tam Quốc chí, Hoa Dương Quốc chí

Trong kịch bản của mình, Chu Tô Tiến cũng bỏ đi quan niệm đạo đức coi Thục Hán là chính thống như trong nguyên tác, ông nói: “Ba bên trong Tam Quốc đều là anh hùng, chúng tôi viết kịch bản, chuyện về ai hay thì người đó là nhân vật chính.”

Không tránh khỏi sự so sánh giữa hai phiên bản chuyển thể 1994 và 2010. Ông hài hước so sánh: “Bộ Tam Quốc diễn nghĩa 16 năm trước giống như mối tình đầu của mọi người, dù có là ‘cô gái xấu xí’ thì cũng đã nghĩa nặng tình sâu, huống gì người ta lại không xấu. Chúng tôi làm lại Tam Quốc là chạm đến mối tình đầu ấy, chẳng khác nào kẻ đến sau, dù tốt đẹp thế nào cũng vẫn có cảm giác không bằng người đến trước. Những điều ấy, chúng tôi đều đã phải chuẩn bị tâm lý từ trước.”

Do đầu tư một dàn diễn viên trẻ đẹp, phiên bản lần này được mệnh danh là “bản thanh xuân”. Đạo diễn Cao Hy Hy giải thích: “Trong nguyên tác, tuổi đời của Tào Tháo, Gia Cát Lượng, Tôn Quyền… đều còn rất trẻ, chúng tôi dàn dựng như vậy là đúng với lịch sử. Còn bản cũ do theo những motiv hình tượng trong kịch truyền thống nên thực ra lại không đúng với nguyên tác.”

Trong bản mới, thiết kế mỹ thuật, phục trang, hành động… được chăm chút tỉ mỉ, đặc biệt là những cảnh chiến tranh được dàn dựng hết sức công phu. Thậm chí, ngựa dùng trong các cảnh quay cũng đặc tuyển từ những chú ngựa đua Hongkong cao lớn oai phong. Tuy nhiên, khác với Xích bích, bộ phim không lạm dụng những cảnh quay và chiêu thức võ công mang đậm màu sắc võ hiệp, mà đặc tả thực chiến.

Có một điểm trừ là nhà làm phim cố ý tạo tông màu chủ đạo xuyên suốt từ đen đến xám, nhưng có phản ức ngược là tạo ra khung cảnh u ám thay vì chất kiêu hùng của cốt truyện.

Tắt đèn – Ngô Tất Tố

Điểm Goodreads: 3.9

Tắt đèn là một trong những tác phẩm văn học tiêu biểu nhất của nhà văn Ngô Tất Tố (tiểu thuyết, in trên báo Việt nữ năm 1937). Đây là một tác phẩm văn học hiện thực phê phán với nội dung nói về cuộc sống khốn khổ của tầng lớp nông dân Việt Nam đầu thế kỉ XX dưới ách đô hộ của thực dân Pháp. nhân vật chính là chị Dậu, một phụ nữ nông dân nghèo, vừa xinh đẹp, chu đáo, tháo vát, đảm đang, yêu thương chồng con hết mực, vừa là người phụ nữ dũng cảm bất khuất muốn đấu tranh vì công lý.

Tác phẩm được đưa vào giáo trình bậc trung học.

Phim lẻ: Chị Dậu (1981)
Điểm IMDb: 7.7
Đạo diễn: Phạm Văn Khoa
Diễn viên: Lê Vân (chị Dậu), Anh Thái (anh Dậu), nhà văn Nguyễn Tuân (Chánh tổng), nhà văn Kim Lân (Lý Cựu), Mai Châu (Bà Nghị Quế), Trịnh Thịnh (quan huyện)

Chị Dậu là một phim nổi tiếng, thuộc hàng những tác phẩm kinh điển của điện ảnh Việt Nam thế kỷ XX. Chị DậuLàng Vũ Đại ngày ấy được đánh giá là 2 trong số ít các tác phẩm điện ảnh Việt Nam đạt được thành công lớn về nhiều mặt khi khắc họa cuộc sống nông thôn cũng như số phận nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội phong kiến nửa thuộc địa Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám (1945).

Phim tái hiện chân thực cuộc sống nông thôn cũng như số phận nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội phong kiến nửa thuộc địa Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.

Phim được trao Huy chương Vàng tại Liên hoan phim Nantes (Pháp). Phim cũng tạo được sự chú ý trên thị trường quốc tế, khi được chọn là tác phẩm tranh giải chính thức tại Liên hoan phim Ba lục địa tại thành phố Nantes, Pháp năm 1981.

Rất tiếc, phim không được bảo quản tốt nên chất lượng hình ảnh rất kém.

Tevye the Dairyman and the Railroad Stories – Sholem Aleichem

Điểm Goodreads: 4.2

Nếu không có phim chuyển thể dưới đây thì ít người bên ngoài nước Do Thái biết đến nguyên tác này. Tác giả được xem là “Mark Twain của Do Thái”, có tên thật là Sholem Rabinovich (1859–1916), viết về một ông nông dân tên Tvye, nuôi bò sữa, người bộc trực, thích trích dẫn Kinh Thánh.

Câu chuyện xoay quanh Tvye được đưa lên sân khấu rồi được thể hiện trong phim dưới đây.

Phim lẻ: Fiddler on the roof (1971)
Điểm IMDb: 8.0
Đạo diễn: Norman Jewison
Kịch bản: Sholem Aleichem, Arnold Perl
Diễn viên: Topol, Norma Crane, Leonard Frey, Molly Picon, Paul Mann, Rosalind Harris, Michele Marsh

Fiddler-richmanPhim dựa trên vở nhạc kịch sân khấu nổi tiếng, chuyển thể từ truyện cùng tên của Sholem Aleichem. Fiddler on the roof xoay quanh người đàn ông với ba cô con gái và ba chàng rể. Phim mang đậm văn hóa và màu sắc của vùng Nam Tư. Nhạc phim do Jerry Bock đảm nhiệm mang lại cho khán giả một cơn gió lạ. Do đó, Fiddler on the roof với nội dung và nhạc phim ấn tượng trở thành 1 trong 20 phim ca nhạc hay nhất trong vòng 50 năm sau phim này.

Phim tập trung vào gia đình của Tevye, một gia đình người Do Thái sống ở thị trấn Anatevka, trong Đế chế Nga, vào năm 1905. Anatevka được chia thành hai phần: một phần nhỏ người Do Thái Chính thống; và phần lớn hơn Nga Chính thống giáo.

Phim rất đáng xem cho cả gia đình.

The boy in the striped pajamas – John Boyne

Điểm Goodreads: 4.1

Đây là tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn người Ái Nhĩ Lan John Boyne, được xuất bản năm 2008.

Truyện xoay quanh Bruno, một cậu bé 8 tuổi lớn lên trong Thế chiến 2 và sống ở Berlin cùng với bố, mẹ và chị gái. Bố cậu là một sĩ quan cao cấp, sau khi được thăng chức thì cả gia đình phải chuyển đến một vùng quê với nhiệm vụ mới. Trong những ngày buồn chán vì xa Berlin, Bruno gặp một cậu bé khác, và tình bạn giữa hai trẻ khởi sinh.

The boy in the striped pajamas (2008)
IMDb Rating: 8.0
Director: Mark Herman
Writers: John Boyne (novel), Mark Herman (screenplay)
Stars: Asa Butterfield, David Thewlis, Rupert Friend

Một phim nhẹ nhàng nhưng không kém phần sâu sắc. Phim kể về chiến tranh nhưng lại không hề có máu và nước mắt; kể về sự tàn bạo giữa người với người nhưng ít tính hận thù mà nhiều chua cay. Phim tưởng chừng đáng yêu, hồn nhiên, dành cho con nít lại có thể khiến bạn day dứt. Phim không phải là một kiệt tác hay một tác phẩm đoạt giải điện ảnh quan trọng, nhưng tình bạn giữa Bruno và Shmuel để lại một cảm giác kỳ lạ trong lòng người xem. Diễn xuất của hai diễn viên nhí cùng ánh mắt trong veo và nụ cười ngây thơ trong phim là những chi tiết đáng nhớ khi nhắc tới bộ phim có sức ám ảnh mãnh liệt này.

Boy

Không chỉ là góc nhìn về câu chuyện cảm động của hai cậu bé, mà còn chứa đựng nhiều ý nghĩa về nhân sinh quan.

The bridges of Madison County (Những cây cầu ở quận Madison) – Robert James Waller

Goodreads Rating: 3.6

Những cây cầu ở quận Madison là thể loại truyện đan hồi giữa quá khứ và hiện tại. Giữa những thứ đã mất đi và những kỷ niệm còn đọng lại. Phóng viên ảnh của tạp chí National Georgraphic đã quá quen với cuộc sống độc thân và tự do tác nghiệp trong nhiều năm bất ngờ gặp một phụ nữ Italy giản dị đã có gia đình trong một lần đi làm phóng sự ảnh về “Những cây cầu ở quận Madison”. Tình yêu hồi sinh nhưng Francesca phải đứng trước sự lựa chọn nghiệt ngã giữa tình yêu và bổn phận với gia đình.

Robert lái xe hướng về phía quận Madison. Người ở trạm xăng Texaco cho biết, ở đây có tất cả 7 cây cầu có mái che mà ông muốn tìm. Robert dễ dàng tìm thấy sáu cây cầu và chọn góc độ để chụp, nhưng cây cầu cuối cùng tên là Roseman thì ông tìm không thấy. Bất chợt ông thấy một hộp thư có dòng chữ “Richard Johnson, RR2” và bắt gặp một người đàn bà đang ngồi trên hiên một ngôi nhà. Người đàn bà giản dị ngay lập tức làm cho ông có cảm tình ấy tên là Francesca.

Francesca là người phụ nữ Italy đã có chồng là Richard, họ kết hôn năm bà 25 tuổi khi đang dạy ở một trường nữ tư thục, còn ông lúc này đang tại ngũ. Quận Madison trở thành nơi cư ngụ vĩnh viễn của bà từ đó. Francesca bằng lòng với cuộc sống an phận thủ thường, với người chồng bình dị và hai đứa con – Michael và Carolyn.

Lúc này bà ở nhà một mình vì chồng và các con đi dự hội chợ tại Illinoir trong 4 ngày. Sự xuất hiện của Robert làm gợn sóng cuộc sống vốn phẳng lặng đã bao nhiêu năm của Francesca. Ông thức dậy trong bà những xúc cảm yêu thương mãnh liệt. Bà giúp ông tìm cây cầu Roseman và tiếp đãi ông một cách ân cần. Tình cảm đến âm thầm mà ào ạt trong hai trái tim tưởng như đã ngủ quên. Francesca bỗng chốc trở thành cô gái trẻ trung e thẹn và thích làm dáng. Robert mạnh mẽ, tràn đầy sức sống. Thời gian ngắn ngủi bên nhau làm cho họ có những đồng cảm về tâm hồn và những cảm xúc không cưỡng lại được.

Phim lẻ: The bridges of Madison County (1995)
IMDb: 7.6
Đạo diễn: Clint Eastwood
Diễn viên: Clint Eastwood (Robert Kincaid), Meryl Streep (Francesca), Annie Corley (Carolyn Johnson), Victor Slezak (Michael Johnson), Jim Haynie (Richard Johnson)

Phim đoạt giải César cho hạng mục Phim hay nhất.

Được đánh giá là tác phẩm chuyển thể xuất sắc, phim làm sống lại lần nữa tình yêu đời thường nhưng chân thành và cảm động của một cuộc gặp gỡ muộn màng trong đời.

Năm 1992, cuốn tiểu thuyết The bridges of Madison County (Những cây cầu ở quận Madison) của tác giả Robert James Waller ra đời và trở thành hiện tượng xuất bản tại Mỹ. Chỉ ba năm sau đó, phim chuyển thể từ tiểu thuyết này xuất hiện trên màn ảnh rộng và tiếp tục thu hút sự chú ý của hàng triệu khán giả.

Phim lấy bối cảnh những năm 1960 tại miền nông thôn Iowa của nước Mỹ. Francesca đang sống bình yên bên gia đình nhỏ, chăm sóc căn bếp xinh xắn của mình và ngắm nhìn những đứa con lớn lên. Robert Kincaid là một nhiếp ảnh gia theo chủ nghĩa xê dịch, đang thực hiện bộ sưu tập các bức ảnh chụp những chiếc cầu. Họ gặp nhau vào một ngày mùa hè tháng tám. Robert dừng xe trước cổng nhà Francesca để hỏi đường đến cây cầu có mái che nổi tiếng thuộc quận Madison.

Nếu có phim nào cần nhiều tinh tế hơn cả để chuyển tải tinh thần của cuốn tiểu thuyết cô đọng như The bridges of Madison County thì không nghi ngờ gì đó chính là phim của Clint Eastwood. 198 trang cuốn tiểu thuyết được chuyển thể thành 135 phút trên phim không thừa, không thiếu một tình tiết nào.

Meryl Streep làm nên linh hồn của phim với diễn xuất tinh tế, chuẩn xác và giàu cảm xúc. Trong tạo hình đơn giản với mái tóc búi gọn phía sau, những bộ váy màu nhạt cũ kỹ và ánh mắt bao dung, hồn hậu, Meryl hóa thân hoàn chỉnh vào vai Francesca – người phụ nữ tận tụy, yêu thương của gia đình.

The bridges of Madison County được đánh giá là một trong những phim tình cảm hay nhất mọi thời đại.

The Elephant Man and Other Reminiscences — Frederick Treves

Điểm Goodreads: 3.9

Phim lẻ: The Elephant Man (1980)
Điểm IMDb: 8.3
Đạo diễn: David Lynch
Diễn viên: Anthony Hopkins, John Hurt, Anne Bancroft, John Gielgud, Wendy Hiller, Freddie Jones, Michael Elphick

Bạn nhất định phải xem phim có tính nhân văn cao này.

John Merrick là một người đàn ông có khuôn mặt bị biến dạng hoàn toàn và một cơ thể tàn tật. Anh bị “ông chủ” xem như một quái vật kì dị và mang ra triển lãm làm trò tiêu khiển cho khán giả hiếu kỳ để kiếm sống. Một lần tình cờ xem biểu diễn những người dị dạng ở Luôn Đôn, bác sĩ Frederick nhìn thấy và chứng kiến sự đối xử tàn tệ của lão Bytes, người quản lý. Ông bác sĩ quyết định đưa John về chữa trị. Câu chuyện diễn tiến tiếp theo mang lại cho người xem đầy xúc cảm, từ tình yêu thương đậm giá trị nhân văn của con người…

The Elephant Man 2
John Merrick và bác sĩ Frederick

Phim được đề cử 8 danh hiệu Oscar và giải BAFTA cho Phim và Nam diễn viên chính (Anthony Hopkins).

Khoảnh khắc mà John Merrick kêu lên: “Tôi không phải là động vật! Tôi là một con người! Tôi là một người đàn ông!” được độc giả của tạp chí Entertainment Weekly bình chọn là một trong những khoảnh khắc bi thương nhất trong lịch sử điện ảnh.

Phim thắng 10 giải và 13 đề cử, kể cả 8 đề cử cho Giải Oscar: bao gồm cả giải cho hạng mục Phim Xuất sắc nhất.

Christopher Tucker, bàn tay tài hoa đằng sau bộ phim phải tự mình tạo khuôn và đắp bột cho diễn viên John Hurt, người thủ vai Người Voi. Vì được hoàn toàn làm bằng những nguyên liệu và công cụ thô sơ nên quá trình hóa trang thành nhân vật John Merrick bị biến dạng tốn rất nhiều thời gian và công sức của cả diễn viên lẫn chuyên viên trang điểm.

Tạo phẩm của Tucker trong bộ phim khiến người ta phải băn khoăn về cái nghề hóa trang trong công nghiệp điện ảnh: nó được quan tâm một cách đúng mức chưa? Người ta khi đó chỉ biết rằng bộ phim thành công được do công lớn của nghệ thuật tạo hình hóa trang nhưng lại chẳng có một giải thưởng hay sự tôn vinh nào được ghi nhận. Nhận thức được sự thiếu sót đó, một lá thư được gửi tới Viện Hàn lâm Điện ảnh, bày tỏ sự mong muốn có một hạng mục giải Oscar dành cho nghệ sĩ hóa trang.

Năm 1982, hạng mục này mới lần đầu xuất hiện. Mặc dù Christopher Tucker không được nhận tượng vàng, nhưng chính những nỗ lực và sự cống hiến của ông lại khiến cả một giải thưởng điện ảnh lớn nhất thế giới phải thay đổi.

The fault in our stars – John Green

Điểm Goodreads: 4.3

Câu chuyện được kể bằng lời của một cô gái 16 tuổi, Hazel Grace Lancaster, mắc chứng bệnh ung thư và bị cha mẹ bắt phải tham dự một nhóm giúp đỡ. Đây là nơi cô gặp và đem lòng yêu chàng trai Augustus Waters 17 tuổi, một vận động viên bóng rổ trong quá khứ và phải đoạn chi để chữa bệnh. Tựa đề của cuốn sách được đặt theo phân cảnh 2, màn 1 vở Julius Caesar của nhà soạn kịch Shakespeare. Trong phân cảnh này, ngài quý tộc Cassius nói với Brutus: “The fault, dear Brutus, is not in our stars, / But in ourselves, that we are underlings.”

Có đề tài là tình yêu trong cơn bạo bệnh nhưng tiểu thuyết The fault in our stars từng gây sốt bởi sự nhẹ nhàng, hài hước và tính lạc quan trong câu chuyện.

Phim lẻ: The fault in our stars (2014)
Điểm IMDb: 8.2
Đạo diễn: Josh Boone
Diễn viên: Shailene Woodley (Hazel), Ansel Elgort (Augustus), Nat Wolff (Isaac), Laura Dern (Frannie), Sam Trammell (Michael), Ana Dela Cruz (Dr. Maria)

Bộ phim chuyển thể này thành công lớn về mặt chuyên môn cũng như doanh thu.

Khi Hazel kể lại câu chuyện của mình, cô bé mới 17 tuổi này có suy nghĩ rất chững chạc, thẳng thắn, một trái tim ấm áp và đặc biệt có khả năng kể chuyện, chia sẻ cuốn hút hiếm ai bằng. Cô chẳng ngần ngại bắt đầu câu chuyện của mình bằng một lời xin lỗi nhẹ nhàng: “Có nhiều cách để kể lại một câu chuyện buồn, bạn có thể bỏ thêm chút gia vị ngọt ngào như mấy phim tình cảm mà ở đó, mọi vấn đề đều có thể giải quyết, nhưng tin tôi đi, đó không phải là sự thật”.

The-fault-in-our-stars 6
Hazel và Augustus yêu đời ở Amsterdam

Augustus là một chàng trai đặc biệt, lạc quan, yêu đời, ngọt ngào, tốt bụng. Anh cùng người bạn thân Isaac tham gia hội trẻ vị thanh niên mắc bệnh ung thư, vô tình gặp Hazel và cảm thấy một sự cuốn hút kì lạ từ cô bé. Một mối quan hệ bắt đầu như thế, không bi lụy, mà khá kì cục, đôi lúc buồn cười. Nỗi buồn trong nhân vật không mờ nhạt, đơn điệu, mà trái lại sâu sắc và đa chiều. Chúng ta cảm nhận rõ ràng nỗi đau từ cả hai phía, từ gia đình, bạn bè và từ bệnh nhân, những điều mà các phim có cùng chủ đề không thể hiện trọn vẹn như vậy.

Phim tràn ngập tình yêu thương con người, làm nên một bài học cuộc sống vĩ đại: Chúng ta chẳng biết điều tồi tệ gì có thể đến với cuộc sống của mình, vì vậy hãy sống hết mình, lạc quan, thẳng thắn, luôn tin vào những điều tươi đẹp và yêu thương nhau thật lòng.

Bạn nhất định phải xem phim có tính nhân văn cao này.

The Godfather – Mario Puzo

Điểm Goodreads: 4.4

Xuất bản năm 1969 với 11 triệu bản in được bán sạch, là quyển tiểu thuyết hay nhất viết về giới giang hồ, giới Mafia tại Mỹ. “Bố già” là Ông trùm Don Vito Corleone, người gốc Sicily, một trong những thủ lĩnh tối cao của giới Mafia Mỹ. Kẻ thù căm ghét ông, khiếp sợ ông, khinh bỉ ông; ông như con rắn hổ mang nguy hiểm có đôi mắt chứa đựng một uy lực tối thượng nhìn thấy hết, biết hết, làm được hết. Nhưng đối với bạn bè, thân quyến, “Bố già” gần như là một đấng toàn năng có thể cứu họ thoát khỏi những thế kẹt và nỗi oan ức mà ngay cả luật pháp cũng chẳng gỡ được. Ông đúng là “Mafia” theo cái nghĩa nguyên thủy của nó thuở ban đầu hình thành, nơi ẩn náu.

Phim lẻ: The Godfather (1972)
Điểm IMDb: 9.2 (Hạng 2 IMDb cho phim lẻ)
Đạo diễn: Francis Ford Coppola
Diễn viên: Marlon Brando (Don Vito Corleone), Al Pacino (Michael Corleone), James Caan (Sonny Corleone), Richard S. Castellano (Clemenza), Robert Duvall (Tom Hagen), Sterling Hayden (Capt. McCluskey), John Marley (Jack Woltz), Richard Conte (Barzini), Al Lettieri (Sollozzo), Diane Keaton (Kay Adams), Abe Vigoda (Tessio), Talia Shire (Connie)

Phim chủ yếu xoay quanh cha con Bố già Corleone ở Mỹ.

Xuất xưởng từ thập niên 70, là một trong những phim hay nhất lịch sử điện ảnh, quy tụ dàn diễn viên hùng hậu nhất nước Mỹ, và giành nhiều giải thưởng điện ảnh danh giá nhất.

Bối cảnh trong phim chủ yếu là xung quanh Thành phố New York và các thị trấn Savoca, Forza d’Agrò trên đảo Sicilia.

Đây là một trong những tác phẩm hay nhất của lịch sử điện ảnh, luôn xếp ở các vị trí dẫn đầu trong các bảng xếp hạng phim hay uy tín, thứ 2 trong Danh sách 100 phim hay nhất của Viện phim Mỹ, đứng thứ 2 trong danh sách 250 phim hay nhất của trang IMDb, đầu bảng trên các danh sách phim hay nhất của Metacritic và Rotten Tomatoes.

Phim nhận 27 đề cử và 24 giải, thêm 3 Giải Oscar: Phim, Nam diễn viên chính (Marlon Brando), và Kịch bản chuyển thể.

Phim lẻ: The Godfather II (1974)
IMDb: 9.0
Đạo diễn: Francis Ford Coppola
Diễn viên: Al Pacino (Michael), Robert Duvall (Tom Hagen), Diane Keaton (Kay), Robert De Niro (Vito Corleone, John Cazale (Fredo Corleone), Talia Shire (Connie Corleone), Lee Strasberg (Hyman Roth), Michael V. Gazzo (Frankie Pentangeli), G.D. Spradlin (Senator Pat Geary), Richard Bright (Al Neri), Tom Rosqui (Rocco Lampone), Bruno Kirby (young Clemenza), James Caan (Sonny Corleone), Abe Vigoda (Tessio), Mario Cotone (Don Tommasino)

The Godfather II là phần tiếp theo của tác phẩm nổi tiếng The Godfather sản xuất năm 1972. Trong phần thứ hai này có hai câu chuyện, hai tuyến nhân vật, hai tuyến thời gian song hành nhau. Một là câu chuyện về gia đình mafia Corleone tiếp tục khi Michael lên làm ông trùm và âm mưu mở rộng địa bàn sang Las Vegas lẫn Cuba, xen lẫn với những hồi ức về Bố già khi mới đặt chân đến New York…

The Godfather II được đánh giá là phần tiếp theo thành công nhất trong lịch sử điện ảnh, nhiều người cho rằng phim hay tương đương, thậm chí là hay hơn phần đầu. Cùng với phần đầu tiên, The Godfather II được coi là một trong những phim hay nhất mọi thời đại.

Phim lẻ The Godfather III (1990) chỉ ăn theo tựa đề, không còn dính dáng đến sách nguyên tác.

The greatest gift – Philip Van Doren Stern

Điểm Goodreads: 4.1

Truyện ngắn kể về một thương gia giàu có sống tại thị trấn giả tưởng Bedford Falls. Luôn hy sinh lợi ích của bản thân để giúp đỡ những người xung quanh, vị thương gia này được mọi người yêu mến và kính trọng. Nhưng đến Giáng sinh nọ, do gặp phải một khó khăn tưởng như không thể vượt qua được trong cuộc sống mà ông muốn đi tìm cái chết.

It’s a wonderful life (1946)
IMDb: 8.7
Đạo diễn: Frank Capra
Diễn viên: James Stewart (George Bailey), Donna Reed (Mary Hatch), Lionel Barrymore (Mr. Potter), Thomas Mitchell (Uncle Billy), Henry Travers (Clarence), Beulah Bondi (Mrs. Bailey), Frank Faylen (Ernie), Ward Bond (Bert), Gloria Grahame (Violet), H.b. Warner (Mr. Gower), Frank Albertson (Sam Wainwright), Samuel S. Hinds (Pa Bailey), Mary Treen (Cousin Tilly), Virginia Patton (Ruth Dakin), Todd Karns (Harry Bailey)

Nếu không có phim chuyển thể này thì hẳn truyện ngắn nguyên tác rơi vào quên lãng từ lâu.

Khi được công chiếu, It’s a wonderful life gần như chịu thất bại tương tự và dần chìm vào quên lãng. Thế nhưng, nhiều năm sau, bộ phim được đánh giá công bằng và được trả lại vị trí vinh quang. Một phim tưởng chừng thất bại trở thành một tượng đài kinh điển của làng điện ảnh thế giới.

Trong suốt hơn 60 năm qua, It’s a wonderful life luôn được đánh giá là một phim gần như hoàn hảo. AFI xếp phim vào hạng 20 trong 100 phim hay nhất mọi thời đại, hạng nhất trong 100 phim truyền cảm hứng nhiều nhất cho con người.

It’s a wonderful life thực sự là một bộ phim hay mà bạn không nên bỏ qua. Dù phim đã rất cũ, nhưng những cảm xúc và bài học nhân văn mà nó mang đến cho người xem sẽ mãi tồn tại cùng năm tháng.

The Green Mile – Stephen King

Điểm Goodreads: 4.4

The Green Mile là tác phẩm được đánh giá là hay nhất của Stephen King, một nhà văn nổi tiếng với những truyện hình sự, kinh dị; người được báo chí và độc giả mệnh danh là “Ông vua kinh dị”. Tác phẩm này đã được giải thưởng Bram Stoker năm 1997 cho thể loại tiểu thuyết xuất sắc nhất.

Câu chuyện xoay quanh các tù nhân đang chờ ngày lên ghế điện và các quản giáo có nhiệm vụ canh giữ họ trong những ngày cuối đời. Trong số các tử tù có John Coffey, một người da đen to lớn có năng lực siêu nhiên. Anh bị kết án tử hình vì tội đã bắt cóc và sát hại hai bé gái sinh đôi của ông bà Detterrick. Điều trớ trêu là John Coffey không phải là thủ phạm. Anh đã bị bắt khi đang cố gắng cứu sống hai đứa trẻ và bị kết án tử hình vì tội ác do kẻ khác gây ra…

Xen lẫn trong câu chuyện dữ dội ở trại tử tù là những mối quan hệ đầy nhân bản giữa người và người. Các quản giáo, dù biết tù nhân của mình đã phạm phải những tội ác tày trời và sắp phải trả giá cho tội ác ấy, nhưng họ vẫn cố gắng trấn an họ trong những ngày cuối cùng của cuộc đời.

The Green Mile) gây tiếng vang lớn của Stephen King, không chỉ bởi cốt truyện đầy kịch tính mà còn bởi phong cách hành văn đặc biệt của ông: lôi cuốn, đơn giản và sâu sắc. Cuốn tiểu thuyết đề cập đến những vấn đề nhức nhối trong xã hội Mỹ hiện nay: sự kì thị chủng tộc, những tù nhân bị kết án tử hình oan. Đó cũng là điều nhắc nhở cảnh báo đối với lương tri của mỗi con người.

Phim lẻ: The Green Mile (1999)
Điểm IMDb: 8.5
Đạo diễn: Frank Darabont
Diễn viên: Tom Hanks, Michael Clarke Duncan, David Morse

Phim là sự hồi tưởng của ông lão Paul Edgecomb tại viện dưỡng lão, kể lại câu chuyện cuộc đời mình trong những năm 30 khi làm quản giáo tại nhà tù giam tù nhân chờ nhận thi hành án tử hình. Tuy chuyện phim mang hơi hướng siêu nhiên với nhiều sự kiện trừu tượng, nhưng bao trùm trên ấy là tính nhân văn cao cả và niềm tin vào cuộc sống mãnh liệt, mang lại cho người xem nhiều bồi hồi xúc động…

Phim đặt ra câu hỏi liệu có tồn tại một tình bạn vượt qua mọi khoảng cách về sắc tộc trong một xã hội tàn ác dưới sự thống trị của người da trắng?

Năm 1994, đạo diễn Frank Darabont có màn ra mắt ấn tượng với khán giả và các nhà phê bình bằng phim đầu tay xuất chúng về bi kịch và lòng quả cảm của con người – The Shawshank Redemption. Bốn năm sau, Darabont tái xuất với một tác phẩm điện ảnh cũng được chuyển thể từ tiểu thuyết của nhà văn nổi tiếng Stephen King: The Green Mile (Dặm xanh).

Thú vị hơn, The Green Mile cũng được lấy bối cảnh nơi ngục tù (green mile – “dặm xanh” là tiếng lóng dùng để chỉ quãng đường từ buồng giam của tử tù đến phòng thi hành án). Frank Darabont là người viết kịch bản cho phim này và ông tỏ ra khá trung thành với nguyên tác của Stephen King. Sự hấp dẫn của phim nằm ở hai nhân vật chính đặc biệt được thể hiện qua diễn xuất thành công của Tom Hanks và Michael Clarke Duncan.

Vai diễn John Coffey có thể coi là vai “để đời” của Michael Clarke Duncan, người mà trước đó với ngoại hình quá khổ của mình chỉ được biết đến qua những vai phụ rất nhỏ, không để lại nhiều ấn tượng như người gác cổng hay vệ sĩ. John là một người chậm phát triển, ít nói, nhút nhát, chân thành, dễ xúc động. Ở nhân vật này luôn tỏa ra một thứ ánh sáng đặc biệt, giúp John trông giống như một vị thánh. Đó chắc chắn là một điều mà những nhân vật khác trong phim không thể ngờ tới khi vừa nhìn thấy dáng dấp to lớn khổng lồ như người nguyên thủy và thân hình chi chít sẹo của người tử tù da đen.

Với vai diễn người quản giáo Paul Edgecomb, Tom Hanks diễn tròn vai một típ nhân vật vốn không xa lạ gì với tài tử này. Tom Hanks thường được biết đến trên màn bạc với hình ảnh một người Mỹ điển hình, bình dị, hiền hòa, sống có đạo đức, chuẩn mực đúng đắn, tốt bụng và có đức tin ở Chúa Trời.

Phim nhận 32 đề cử và thắng 15 giải.

The longest day (Ngày dài nhất) –  Cornelius Ryan

Điểm Goodreads: 4.1

Tuy được xem là một quyển sách kinh điển, kể về cuộc đổ bộ của quân Đồng Minh lên bờ biển Normandie nước Pháp, nhưng nội dung được biết đến nhiều hơn qua phim chuyển thể dưới đây.

Phim: The longest day (1962)
Điểm IMDb: 7.8
Đạo diễn: Ken Annakin (British & French exteriors), Andrew Marton (American exteriors), Bernhard Wicki (German episodes), Gerd Oswald (parachute drop)
Diễn viên: Paul Anka, Richard Button, Sean Connery, Henry Fonda, Robert Mitchum, Robert Wagner, John Wayne

TLD_Every fourth man died 2
Cảnh bi hùng của cuộc đổ bộ trong phim The longest day (1962)

Quả thật nếu ai tự nhận thích thể loại phim chiến tranh mà chưa coi qua The longest day thì không thể coi là fan thật sự của thể loại phim chiến tranh. Tuy phim này có từ năm 1962 nhưng đến bây giờ vẫn chưa có phim nào về chiến tranh vượt qua được, kể cả Saving private Ryan. Mặc dù làm từ năm 1962 nên gần như không có kỹ xảo gì đáng kể, chỉ là phim đen trắng, nhưng lại là phim miêu tả về chiến tranh chân thực nhất.

Nội dung phim kể về D-day, ngày lịch sử mà quân Đồng minh đổ bộ lên bờ biển Normandie nước Pháp. Trận đánh đưa Thế Chiến II đến bước ngoặt không thể thay đổi, đánh dấu sự bắt đầu của những thất bại của quân Đức. Phim này khác những phim về Thế Chiến II ở chỗ là bạn sẽ xem và hiểu về WWII về từ cả 2 phía là quân Đồng minh và Phát xít Đức. Khi xem xong phim thì sẽ thấy nội dung của phim cực kỳ sâu sắc, thể hiện chân thực những gì diễn ra ở trận Normandy lịch sử.

Phim sử dụng nhiều cố vấn có vai trò trong cốt truyện: Günther Blumentritt (tướng Đức), James M. Gavin (tướng Mỹ), Frederick Morgan (Tham mưu phó Không quân), John Howard (chỉ huy cuộc tấn công cầu Pegasus), Lord Lovat (chỉ huy Lữ đoàn 1 Đặc biệt), Philippe Kieffer (chỉ huy cuộc tấn công Ouistreham), Pierre Koenig (chỉ huy lực lượng kháng chiến Pháp), Max Pemsel (tướng Đức), Werner Pluskat (thiếu tá Đức ở bờ biển), Josef “Pips” Priller (phi công Đức nóng nảy) và Lucie Rommel (vợ Thống chế Erwin Rommel).

Phim nhận 2 giải Oscar ở các hạng mục Hiệu ứng hình ảnh và Quay phim. The longest day được đề cử cho Oscar ở hạng mục Phim xuất sắc nhất, nhưng phải nhường chỗ cho một phim chiến tranh khác: Lawrence of Arabia.

Phim đứng vị trí thứ nhất trong top 50 phim chiến tranh hay nhất mọi thời đại.

The run of his life: The people v. O. J. Simpson của Jeffrey Toobin

Điểm Goodreads: 4.2

Quyển sách này tường thuật án mạng mà cựu ngôi sao bóng bầu dục quốc gia kiêm diễn viên O. J. Simpson bị tình nghi là thủ phạm, sau cái chết của người vợ cũ của anh và người phục vụ Ronald Lyle Goldman, và tường thuật tiếp vụ việc quanh các phiên xử án. Simpson thuê một nhóm luật sư có tiếng tăm, kể cả hai luật sư chuyên về bằng chứng DNA, thành một nhóm mà truyền thông gọi “Dream Team” (Đội ngũ trong mơ).

Phim bộ: American crime story Season 1: The People v. O. J. Simpson (2016)
Điểm IMDb: 8.5
Đạo diễn: Ryan Murphy, Anthony Hemingway
Diễn viên: Cuba Gooding Jr. (O.J. Simpson), John Travolta (Robert Shapiro), Courtney B. Vance (Johnnie Cochran), Sterling K. Brown (Christopher Darden), Kenneth Choi (Judge Lance Ito), Nathan Lane (F. Lee Bailey)

Bộ phim tài liệu 10 tập này đạt thành công lớn về cả mặt thương mại lẫn nghệ thuật, nhận sự tán dương nhiệt liệt cho hầu hết các phần trình diễn, đạo diễn và biên kịch.

Tại lễ trao Giải Primetime Emmy lần thứ 68, mùa phim nhận được 22 đề cử Emmy trong 13 hạng mục, thắng chín giải, bao gồm Serie phim nhiều tập ngắn xuất sắc. Mùa phim cũng thắng 2 giải Quả Cầu Vàng cho Serie phim nhiều tập ngắn hoặc phim truyền hình xuất sắc nhất và Nữ chính xuất sắc – Phim hoặc loạt phim truyền hình ngắn cho Sarah Paulson. Các nhà phê bình đặc biệt khen ngợi phần trình diễn của Paulson và Vance.

Rita Hayworth and the Shawshank redemption
(Nhà tù Shawshank)
– Stephen King

Điểm Goodreads: 4.5

Đây là một tiểu thuyết ngắn của Stephen King, được in trong tập truyện Different Seasons (1982) với nhan đề phụ là Hope Springs Eternal.

Andy Dufresne là một chủ ngân hàng đến từ tiểu bang Maine, Hoa Kỳ. Anh bị bắt với cáo buộc giết chết hai người gồm vợ anh và tình nhân của cô ta. Với án phạt tù chung thân, anh bị chuyển đến Nhà tù Shawshank. Tại đây anh gặp bạn tù là Red – người chuyên chuyển lậu hàng hóa từ bên ngoài vào cho các tù nhân có nhu cầu.

Vốn là một người yêu thích đá, Andy nhờ Red mang vào tù cho anh một cái búa đẽo đá và dùng công cụ này để chế tác những hòn đá nhặt được ở sân thể thao của nhà tù thành các món đồ nhỏ. Một trong những mặt hàng mà anh đặt mua từ Red nữa là tấm ảnh treo tường khổ lớn chụp Rita Hayworth. Khi nhận lời, Red chỉ nghĩ rằng Andy thích thú với tấm hình và không nghĩ thêm gì vào thời điểm đó.

Trong phòng giam của Andy có một tấm ảnh khổ lớn chụp Linda Ronstadt (trong phim thì là Raquel Welch) dán trên tường, là chi tiết quan trọng cho cốt truyện.

Phim lẻ: The Shawshank redemption (1994)
Điểm IMDb: 9.3 (cao nhất cho phim lẻ)
Đạo diễn: Frank Darabont
Diễn viên: Tim Robbins (Andy Dufresne), Morgan Freeman (Ellis Boyd ‘Red’ Redding), Bob Gunton (warden Norton), Joseph Ragno (Ernie), Neil Giuntoli (Jigger), James Whitmore (Brooks Hatlen), William Sadler (Heywood), Clancy Brown (Captain Hadley), Mark Rolston (Bogs)

Chỉ là một truyện ngắn nhưng phim chuyển thể luôn đứng đầu các bảng đánh giá phim hay mọi thời đại.

Từng suýt bị chối bỏ khi mới ra mắt nhưng sau gần 20 năm, phim đầu tay của đạo diễn Frank Darabont kể một câu chuyện diệu kỳ về tình bạn theo một cách đơn giản nhất nhưng cũng đẹp nhất, và trở thành một tác phẩm điện ảnh yêu thích nhất của hàng triệu người.

Với thế hệ hiện nay thì đây là một phim kinh điển, nhưng vào thời điểm The Shawshank Redemption mới ra mắt thì thật khó để bán vé ở rạp với một tiêu đề chẳng có chút gì hấp dẫn. Đề tài nhà tù kén người xem, chưa kể đa phần thời lượng phim đều là thoại. Các đấng mày râu không mấy hào hứng trước viễn cảnh xem cuộc đời của những phạm nhân nam, trong khi phái nữ chẳng hề thoải mái trước một tác phẩm mà chỉ có đúng hai nhân vật nữ có lời thoại và cả hai đều xuất hiện rất chớp nhoáng.

Nhưng chính những điểm yếu ấy sau này lại khiến phim trở nên nổi tiếng với khán giả bởi họ nhận ra, chính trong nơi tối tăm ấy, một khúc ca bất hủ về tình bạn và hy vọng được vang lên. Shawshank là tên nhà tù nơi Andy Dufresne thụ án chung thân do là nghi phạm duy nhất trong vụ án bắn chết vợ và tình nhân của ả.

Từ khi kịch bản còn nằm trên bàn giấy, những cái tên hút khách như Tom Cruise, Brad Pitt, Charlie Sheen hay Harrison Ford được gợi ý để tham gia The Shawshank Redemption, như một sự đảm bảo thành công phòng vé. Nhưng Darabont từ chối bởi ông không muốn những siêu sao điển trai ấy vào vai tù nhân mà cần những diễn viên ít tên tuổi, “bình dân” hơn để đem cho khán giả cảm giác như đang chứng kiến một nhà tù thực sự.

Lựa chọn để Tim Robbins cùng Morgan Freeman đảm nhiệm hai vai chính của Darabont thực sự là những quyết định sáng suốt. Nhân vật Andy khiến người xem bị cuốn theo từ những khung hình đầu tiên. Càng xem, khán giả càng thấy cảm phục người đàn ông này bởi dù bị đánh đập tàn tệ, dù nở nụ cười cay đắng khi bị đối xử bất công, nhưng ánh mắt anh luôn sáng lên ngọn lửa hy vọng. Còn Morgan Freeman thì đơn giản là được sinh ra để dẫn dắt câu chuyện với chất giọng hào sảng, ấm áp mang đầy tính chiêm nghiệm cuộc đời của một người đàn ông từng trải.

Không sử dụng kỹ xảo, các cảnh quay trong phim đều tạo cảm giác chân thực. Nhà tù Shawshank giống như một xã hội thu nhỏ, với đủ thành phần tốt xấu khác nhau, trong đó có những người hướng thiện như Andy hay Red, có kẻ quen dùng bạo lực để nói chuyện như cai ngục Hadley, và cả mưu mô xảo quyệt như giám đốc trại giam Norton. Chính sự đa dạng này cùng diễn xuất tự nhiên, lôi cuốn của dàn diễn viên giúp cho The Shawshank Redemption không bị lãng quên mà trái lại, ngày càng có sức hút theo thời gian.

Nhận được những đánh giá tương đối tích cực từ giới phê bình, nhưng The Shawshank Redemption lại trắng tay tại các buổi lễ trao giải thưởng, đặc biệt là Oscar dù được đề cử đến 7 hạng mục. Lý do đơn giản là bởi năm ấy, làng điện ảnh thế giới chào đón hai phim khác đình đám hơn là Pulp FictionForrest Gump. Không chỉ bị các giải thưởng ngó lơ, đến cả khán giả cũng ngoảnh mặt lại với tác phẩm này khi doanh thu của phim chỉ đạt con số khiêm tốn 28 triệu USD.

To kill a mockingbird (Giết con chim nhại) – Harper Lee

Điểm đánh giá của Goodreads: 4.4

Một luật sư người da trắng bảo vệ cho một người da đen bị buộc tội cưỡng hiếp một cô gái da trắng. Đó không phải một câu chuyện thường tình mọi lúc mọi nơi, nên tại một bang miền Nam nước Mỹ vào thập niên 1930, đó càng như điều bất khả. Nhưng nó đã xảy ra. Lòng vị tha và đức can trường của một con người đơn độc chiến đấu với mọi thành kiến tăm tối và tàn bạo của một cộng đồng hầu bảo vệ một người, tất cả được khắc họa tuyệt đẹp, đầy kịch tính, đầy cảm xúc, trong một câu chuyện với những nhân vật đặc sắc và những chi tiết khó quên bởi một ngòi bút tài hoa hàng đầu nước Mỹ.

Được xuất bản lần đầu năm 1960, cho tới nay sách này vẫn luôn nằm trong top những sách bán chạy nhất, được dịch ra hơn 40 thứ tiếng và được tái bản hàng trăm lần ở nhiều quốc gia khác nhau.

Phim lẻ: To kill a mockingbird (1962)
Điểm IMDb: 8.3
Đạo diễn: Robert Mulligan
Diễn viên: Gregory Peck (Atticus Finch), John Megna (Dill Harris), Overton (Sheriff Heck Tate), Rosemary Murphy (Maudie Atkinson), Ruth White (Mrs. Dubose), Brock Peters (Tom Robinson)

Giết con chim nhại là một trong những tác phẩm kinh điển của văn chương Mỹ, và khi chuyển thể thành phim nó hầu như giữ nội dung theo nguyên tác. Chỉ là phim trắng đen, không bạo lực, không có tình tiết mang tính giải trí, không mỹ nhân, tuy nhiên với lối dẫn chuyện đơn giản nhưng đầy tinh tế, phim mang đến thông điệp đầy tính nhân văn mà ý nghĩa của nó khiến người xem hiểu sâu sắc thế nào là bình đẳng và cách cư xử với đồng loại.

Phim đẹp trên mọi phương diện, và lối diễn xuất của Gregory Peck (vai Atticus) quá xuất sắc. Khi bị cuốn vào bộ phim, chúng ta không hề nhận ra rằng Gregory Peck đang diễn. Nó giống như là cuộc đời của ông, một người cha ân cần, gần gũi và lương thiện. Vai diễn này đã giúp Gregory Peck dành được tượng vàng Oscar cho Nam diễn viên chính xuất sắc nhất. Bên cạnh đó bộ phim nhân được 8 đề cử cho giải Oscar và chiến thắng thêm ở 2 hạng mục.

To kill a mocking bird_movie 3

Luật sư Atticus biện hộ cho thân chủ Tom

Giết con chim nhại đơn giản nhưng quá sâu sắc và tinh tế, mà ở đó không chỉ trẻ con mới cần một thế giới nhân bản. Quan trọng hơn hết là những giá trị đạo đức của giáo dục mang lại, điều đó ở bất cứ thế hệ và xã hội nào chúng ta cũng cần phải học hỏi và trân trọng.

Đừng bỏ qua phim này dù bạn đã đọc sách hay chưa.

Twelve years a slave (12 năm nô lệ) – Solomon Northup

Điểm Goodreads: 4.2

Đây là cuốn sách có giá trị lịch sử và cá nhân, nhưng lại không được biết đến trong suốt gần một thế kỷ qua. Twelve years a slave là hồi ký của Solomon Northup, một nông dân tự do ở New York bị bắt cóc vào năm 1841 và bị ép làm nô lệ trong vòng 12 năm.

Khi mới phát hành, cuốn sách được coi là quả bom ném thẳng vào cuộc tranh luận quy mô quốc gia về chế độ nô lệ, một trong những lý do dẫn đến cuộc nội chiến Mỹ và khiến dư luận nghiêng về ủng hộ bãi bỏ chế độ nô lệ. Sau đó, trong thế kỷ 19, sách ra thêm vài phiên bản nữa rồi ngưng hẳn. Cuốn sách bị lãng quên trong vòng gần 100 năm, cho đến năm 1968 mới được sử gia tìm thấy và phát hành trở lại.

Cuốn sách có một tiêu đề đơn giản tưởng như khái quái được tất cả nội dung, nhưng điều khiến 12 năm nô lệ là một cuốn sách khó quên nằm ở những chi tiết rất cụ thể và nghiệt ngã. Solomon Northup cho độc giả nhìn thẳng vào quãng đời nô lệ bắt buộc của ông: những trải nghiệm bị áp bức kinh hoàng, sự đảo lộn vai trò nghiệt ngã khi ông bị ép phải trừng phạt các nô lệ khác, và cuối cùng, cái giá của tự do.

Một cốt truyện khái quát luôn là thứ dễ kể, nhưng những tác phẩm chân thực khiến người đọc rùng mình vì các chi tiết. Northup làm tất cả để thể hiện rõ mục tiêu của mình: cung cấp một bức tranh đầy đủ về cuộc sống của một nô lệ, thu thập nhiều tài liệu gốc để tránh mọi hiểu lầm.

12 years a slave (2013)
IMDb Rating: 8.4
Đạo diễn: Steve McQueen
Diễn viên: Chiwetel Ejiofor, Michael Fassbender, Benedict Cumberbatch, Paul Dano, Paul Giamatti, Lupita Nyong’o, Sarah Paulson, Brad Pitt, Alfre Woodard

Trong lịch sử điện ảnh Mỹ, từng có không ít phim đề cập tới nạn nô lệ –được coi là hợp pháp trong khoảng từ thế kỷ thứ 17 tới 19. Tuy nhiên, không tác phẩm nào có cái nhìn trực diện, không che đậy hay biện minh mà chỉ đem tới một sự thực trần trụi như 12 Years a Slave. Phim là câu chuyện đầy xót xa của những con người bất hạnh không may sinh ra trong thời kỳ đen tối của lịch sử nước Mỹ.

Câu chuyện của anh chàng da đen có học thức Solomon được kết thúc sau 12 năm nhưng với người da màu sống tại Mỹ, nó lại là một trang sử kéo dài tới gần 250 năm cho tới khi cuộc nội chiến kết thúc. 12 Years a Slave không chỉ là một trong những tác phẩm xuất sắc hàng đầu năm 2013 mà còn giàu sức ám ảnh và đầy thông điệp mạnh mẽ, như cách nó khiến khán giả xót xa cho những người mang số phận như Solomon.

Under the hawthorn tree – Ai Mi (author), Anna Holmwood (translator)

Goodreads Rating: 3.6

Sách của nhà văn Ái Mễ dựa trên một câu chuyện có thật trong thời kỳ Cách mạng Văn hoá ở Trung Quốc. Khi ấy Tịnh Thu, một cô học sinh thành phố, được đưa về vùng nông thôn để cùng sinh hoạt và viết bài thu hoạch về cách mạng, và cô gặp Tôn Kiến Tân, cán bộ của đội địa chất. Rồi tình yêu nảy nở giữa hai người, nhưng cả hai phải chịu nhiều gò bó trong trong bối cảnh giáo điều về giai cấp.

Shan zha shu zhi lian – Under the hawthorn tree (2010)
Điểm IMDb: 7.1 [7.5]
Đạo diễn: Yimou Zhang-Trương Nghệ Mưu
Kịch bản: Ai Mi (novel), Lichuan Yin (screenplay)…
Diễn viên: Xuejian Li, Taishen Cheng, Dongyu Zhou

Trong khi ở trời tây Steven Spielberg có biệt tài chuyển thể những sách từ trung bình đến hay thành phim từ hay đến xuất sắc, thì ở trời đông Trương Nghệ Mưu có thể làm điều tương tự, và phim này không phải là ngoại lệ. Đặc điểm của phim Trương Nghệ Mưu là nhẹ nhàng nhưng thấm sâu theo thời gian, dung dị nhưng lắng đọng.

Under the thaw horn

Phim là câu chuyện tình yêu nhẹ nhàng như làn gió mát mùa hè, nhưng lại khiến người xem cảm thấy day dứt khôn nguôi. Đặc biệt, thông qua cốt truyện đạo diễn Trương Nghệ Mưu tái hiện lại một thời kỳ buồn thương trong lịch sử Trung Quốc, thời kỳ những cảm xúc cá nhân của con người bị kìm nén.

Diễn xuất của hai người trẻ là tuyệt vời. Kịch bản không cầu kỳ nhưng nói lên nhiều điều. Lấy ví dụ cảnh người con gái phải che khuôn mặt khi ngồi cùng xe đạp với người yêu, nhưng hai người không giấu giếm niềm hạnh phúc tươi tắn và bình dị.

When Heaven and Earth changed places – Le Ly Hayslip, Jay Wurts

Goodreads Rating: 4.1

Phùng Lệ Lý Hayslip quê ở Đà Nẵng. Năm 15 tuổi, bà vào Sài Gòn sống với mẹ. Năm 1969, bà kết hôn với một người Mỹ, sau đó theo chồng về nước. Năm 1980, vượt qua nỗi lo sợ và ám ảnh bấy lâu giày vò về thân phận ly hương, bà quyết tâm trở về thăm mẹ. Hạnh phúc khi gặp lại mẹ và chuyến hồi hương thấm đượm nghĩa tình nhen lên trong bà ý tưởng về một cuốn tự truyện.

Với sự cộng tác của nhà văn Mỹ Jay Wurts, bà ghi lại những ký ức chiến tranh chưa phai mờ, từ khi còn là cô bé 13 tuổi đi chăn trâu, cắt cỏ ở làng quê; những ám ảnh về chiến tranh theo suốt cuộc đời đầy dâu bể của bà; những số phận chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc chiến dù chiến tranh đã lùi xa…

Bà cũng dành khá nhiều trang viết thể hiện những nghĩ suy và chiêm nghiệm của mình về đạo Phật. Cuộc sống xa quê, nhiều niềm vui nhưng cũng không ít nỗi buồn. Bà tìm thấy những tư tưởng và triết lý của đạo Phật khi đi sâu nghiên cứu và thể hiện trên trang sách.

Cuốn sách đầu tiên ra mắt sau 4 năm bà về thăm quê và nằm trong “best seller list” (danh sách sách bán chạy nhất) theo xếp hạng của thời báo The New York Times, rồi được dịch ra 17 ngôn ngữ.

Child of war, woman of peace
Le Ly Hayslip, James Hayslip, Jenny Wurts

Goodreads Rating: 3.7

Cuốn tự truyện này là phần tiếp theo của cuốn When Heaven and Earth changed places, cũng tạo chất liệu cho phim chuyển thể dưới đây.

Heaven & earth (1993)
IMDb: 6.8
Đạo diễn: Oliver Stone
Diễn viên: Hiep Thi Le (Le Ly), Bussaro Sanruck (Le Ly – age 5), Tommy Lee Jones (Steve Butler), Haing S. Ngor (Papa), Joan Chen (Mama), Thuan Le (Kim), Dustin Nguyen (Sau), Mai Le Ho (Hai), Vinh Dang (Bon), Le Ly Hayslip (jewelry broker), Doan Chau Mau (monk Chau Mau Doan)

Phim dựa trên câu chuyện có thật về bà Phùng Thị Lệ Lý, nói về giai đoạn chiến tranh Việt nam 1949-1986. Cuộc sống yên bình nơi ngôi làng nhỏ của những người dân nghèo, sống an lành với Cha Trời (Father Heaven) và Mẹ Đất (Mother Earth), bị phá vỡ bởi chiến tranh, khiến cho bao gia đình, đôi lứa phải chia ly.

Heaven and Earth 2
Mẹ con Lệ Lý khổ cực vì chiến tranh

Tương tự như nhiều vùng quê khác ở miền Nam sau hiệp định Genève năm 1954, xã Hòa Quý – Hòa Vang (ngày nay thuộc quận Ngũ Hành Sơn – Đà Nẵng), nơi Lệ Lý và gia đình sinh sống, được mệnh danh là “vùng xôi đậu” (ban ngày lính quốc gia kiểm soát, ban đêm là hoạt động của cách mạng). Một lần bị địch bắt, hăm dọa, tra tấn; cho đến khi được chúng thả ra, cô giao liên nhỏ bị nghi ngờ là kẻ phản bội! Chịu oan khuất, bị cưỡng hiếp, tủi nhục, mới 14 tuổi, Lệ Lý phải bỏ trốn vào Sài Gòn làm công cho một gia đình, bắt đầu cuộc sống truân chuyên…

Đạo diễn Oliver Stone đề cập đến chiến tranh từ hồi ức của chính một người dân Việt Nam. Nhưng tất cả đều diễn tả một nội dung “Chiến tranh không tạo ra kẻ thắng người thua, mà chỉ tạo ra những nỗi đau cho con người”. Và câu nói “Different skin, same suffering” (Khác màu da, cùng nỗi đau) (trích trong phim) chính là thông điệp mà ông muốn gửi gắm trong những phim nói về Việt Nam của ông…

Анна Каренина (Anna Karenina) – Leon Tolstoy

Điểm Goodreads: 4.0

Được mệnh danh là cuốn sách “không một khuyết điểm” bởi Dostoyevsky (tác giả Thép đã tôi thế đấy), Anna Karenina kể song song hai chuyện tình. Cùng có một khởi đầu là phải đấu tranh để được ở bên nhau, một cặp đôi lại dần rơi vào ngờ vực và chia cách, còn một cặp đôi vượt qua được những thử thách của cuộc sống chung. Câu chuyện của Anna Karenina khám phá những chủ đề khác nhau của cuộc sống lứa đôi, từ khát khao, đam mê đến dối trá, lọc lừa, đến tin tưởng, thực tế và hạnh phúc.

Tác phẩm được chuyển thể thành phim hơn 30 lần, không chỉ ở Nga mà còn ở Đức, Anh, Pháp, Mỹ, Argentina, Ai Cập và thậm chí Ấn Độ. Số lượng là thế nhưng không có tuyệt phẩm như Doctor Zhivago (1965).

Năm phim dưới đây được biết đến nhiều nhất.

Phim lẻ: Anna Karenina (1935)
Điểm IMDb: 7.1
Đạo diễn: Clarence Brown
Diễn viên: Greta Garbo, Fredric March, Freddie Bartholomew, Maureen O’Sullivan, May Robson, Basil Rathbone, Reginald Owen

Greta Garbo 1935_5
Greta Garbo trong vai Anna Karenina

Phim được ngợi khen vì chuyển thể thành công tiểu thuyết 900 trang thành 95 phút trên màn ảnh. Đặc biệt là Greta Garbo gây ấn tượng tốt, giống như là vai Anna Karenina được “đo ni đóng giầy” cho nữ diễn viên gạo cội này, qua đó đóng góp phần quan trọng cho sự thành công của bộ phim. Hình ảnh phim đẹp, vẫn còn chất lượng tốt khi được chuyển qua đĩa DVD.

Phim nhận Giải NYFCC Hạng mục Nữ Diễn viên chính, và Giải cho Phim nước ngoài ở LHP Venice.

Phim nằm trong danh sách 100 phim tình cảm hay nhất của Viện phim Mỹ.

Phim lẻ: Anna Karenina (1967)
Điểm IMDb: 7.2
Đạo diễn: Aleksandr Zarkhi
Diễn viên: Tatyana Samoylova (Anna Karenina), Nikolai Gritsenko (Alexander Alexandrovich Karenin), Vasiliy Lanovoy, Maya Plisetskaya (Betsy Tverskaya)

Phim có mức chuyển thể khá trung thực, được thực hiện ở những địa điểm như miêu tả trong sách, với kỹ thuật thu hình đáng khen. Dàn diễn viên xuất sắc: Tatyana Samoylova từng thể hiện tốt trong phim Khi đàn sếu bay qua (tiếng Nga: Летят журавли), Nikolai Gritsenko và vũ công ballet nổi tiếng Maya Plisetskaya cũng được yêu thích.

Hiển nhiên là trong các phim chuyển thể thì phim này đậm chất Nga nhất.

Phim bộ: Anna Karenina (1977)
Điểm IMDb: 8.1
Đạo diễn: Nicola Pagett (Anna Karenina), Stuart Wilson (Vronsky), Eric Porter (Karenin), Robert Swann (Levin), Davyd Harries (Stiva), Caroline Langrishe (Kitty)
Gồm 10 tập, dài tổng cộng 8 giờ 20 phút.

Đây là tuyệt phẩm của chuyển thể Anna Karenina. Bộ tam Nicola Pagett, và Stuart Wilson và Eric Porter diễn xuất sắc, những diễn viên còn lại đều làm tròn vai. Do thời lượng dài, đạo diễn có đất dụng võ để phát triển các vai phụ và các câu chuyện phụ. Ngoại cảnh, trang phục và âm nhạc (khá nhiều Tchaiskovky) cũng làm hài lòng người xem.

Phim lẻ: Anna Karenina (1997)
Điểm IMDb: 6.4
Đạo diễn: Bernard Rose
Diễn viên: Sophie Marceau (Anna Karenina), Sean Bean (Vronsky), Alfred Molina (Levin), Mia Kirshner (Kitty), James Fox (Karenin), Fiona Shaw (Lydia), Danny Huston (Stiva)

Đây là một trong những phiên bản chuyển thể nổi tiếng nhất và đồng thời gây tranh cãi nhất: giới phê bình chê nhưng khán giả lại khen! Nhiều nhà phê bình điện ảnh cảm thấy câu chuyện phim được kể qua loa và quá vội vàng. Các chuyên gia cũng rất bất bình bởi sự sai lệch nghiêm trọng giữa bộ phim và cuốn tiểu thuyết: ví dụ, trong phim, Karenina bị sẩy thai, mặc dù trong tiểu thuyết nàng sinh một con gái từ Vronsky. Họ còn ngạc nhiên vì đạo diễn mô tả Anna là người nghiện morphine. Trong sách của Tolstoy, chỉ một lần bà xin morphine lúc sinh để giảm đau; trong phim bà dùng morphine thường xuyên. Bộ phim cũng bị lên án vì có quá nhiều cảnh chăn gối giữa cặp tình nhân: các nhà phê bình có ấn tượng rằng giữa Anna và Vronsky chỉ có sự đam mê tình dục và không có tình cảm gì.

Thế nhưng, khán giả lại yêu thích bộ phim này vì một số lý do: dàn diễn viên được yêu mến trong đó có diễn viên Pháp xinh xắn Sophie Marceau, bối cảnh đẹp, trang phục sang trọng, và âm nhạc tuyệt vời đi theo cái hồn của phim.

Trong số những bộ phim nước ngoài chuyển thể cuốn tiểu thuyết, quần áo và tư trang trong phim này là hợp mốt thế kỷ XIX nhất, được thiết kế bởi họa sĩ trang phục Ý nổi tiếng Maurizio Millenotti.

Nhạc của Tchaikovsky, Rachmaninov, và Prokofiev được Dàn nhạc giao hưởng St. Petersburg thể hiện, riêng bản Giao hưởng số 6 “Pathetique” của Tchaikovsky được xem là nhạc nền, đi song song với câu chuyện của Anna Karenina do tiết tấu trầm buồn.

Phim lẻ: Anna Karenina (2012)
Đạo diễn: Joe Wright
Diễn viên: Keira Knightley, Aaron Taylor-Johnson, Cecily Morrissey, Freya Galpin, Guro Nagelhus Schia, Aruhan Galieva, Jude Law
Điểm IMDb: 6.6

Đối với khán giả thì họ thấy phim đẹp như một vở opera, với những hình ảnh rực rỡ, sống động và đậm màu sắc cổ điển. Nhưng cũng vì thế mà chuyên gia phê bình có ý kiến cho rằng trang phục không đúng với kiểu Nga trong thế kỷ 19, và dàn cảnh quá tráng lệ so với câu chuyện. Phần diễn xuất không được ngợi khen, nếu không nói là bị chê bai, ngoại trừ Keira Knightley được xem là có nỗ lực khá chứ chưa xuất sắc.

Wright đơn giản hóa cốt truyện và tính cách các nhân vật – vì thế ông bị các nhà phê bình và khán giả phê phán. Nhưng đạo diễn không có kỳ vọng chuyển thể cuốn tiểu thuyết một cách chính xác: Anna Karenina đối với ông chỉ là cái cớ để bàn về sự mục nát của xã hội thượng lưu và tiếng vọng của một cuộc cách mạng đang đến gần. Vì vậy, thậm chí tên tuổi của Lev Tolstoy cũng không được viết đầu tiên trên phụ đề, mà ở vị trí thứ hai sau biên kịch Tom Stoppard.

Phim được đề cử 4 Giải Oscar và thắng 1: Trang phục.

До́ктор Жива́го (Bác sĩ Zhivago) – Boris Pasternak

Điểm Goodreads: 4.0

Cuốn sách tái hiện lại lịch sử nước Nga những năm đầu thế kỷ 20 cho đến sau đại chiến II. Trong bối cảnh chiến tranh và cách mạng, tác phẩm tập trung khắc họa số phận và lựa chọn của người trí thức trong sự xoay vần của thời cuộc. Bên cạnh những vấn đề lớn lao về lịch sử, tôn giáo, triết học… tác phẩm còn là câu chuyện tình yêu giữa Yury Zhivago và Lara Guishar.

Phim lẻ: Doctor Zhivago (1965)
Điểm IMDb: 8.0
Đạo diễn: David Lean
Diễn viên: Omar Sharif (Yuri), Julie Christie (Lara), Geraldine Chaplin (Tonya), Rod Steiger (Komarovsky), Alec Guinness (Yevgraf)

Dù có hai phim bộ TV năm 2002 và 2006 chuyển thể truyện của Boris Pasternak, phim lẻ năm 1965 vẫn được ưa chuộng nhất, được xem là kinh điển của mọi thời đại.

Doctor-zhivago-poster 2
Julie Christie và Omar Sharif trong Dr. Zhivago (1965)

Ngoại cảnh đẹp mê hồn như trên post card, nhạc nền tuyệt vời, dàn diễn viên đồng đều, để lại những ấn tượng khó phai trong lòng khác giả.

Phim nhận 5 Giải Oscar: Kịch bản, Quay phim, Trang phục, Âm nhạc. Rất tiếc, phim được đề cử hạng mục Phim hay nhất nhưng nhường chỗ cho phim The Departed. Nhạc nền Lara’s theme được thêm ca từ thành ca khúc Somewhere, my love, được đề cử Giải Grammy cho hạng mục Ca khúc của năm nhưng nhường chỗ cho Michelle của Beatles, tuy vẫn mãi được thưởng thức.

Vì đụng chạm đến vấn đề chính trị nhạy cảm ở Nga, nên phải đến năm 1994 (30 năm sau khi ra đời), phim Doctor Zhivago mới được phép trình chiếu ở Nga.

Тихий Дон (Sông Don êm đềm) – Mikhail Sholokhov

Điểm đánh giá của Goodreads: 4.0

Sông Don êm đềm êm đềm là tiểu thuyết vĩ đại nhất của nhà văn Nga Mikhail Aleksandrovich Sholokhov. Với tác phẩm này, Sholokhov được tặng Giải Nobel văn học năm 1965.

Sông Don êm đềm miêu tả cuộc sống và sự đấu tranh của người Cossack qua một giai đoạn lịch sử mười năm, từ 1912 đến 1922, qua Thế chiến 1, Cách mạng Nga và Nội chiến Nga. Phạm vi địa lý rộng lớn trải dài từ miền Tây nước Nga đến Ukraina, Ba Lan, Romania cho đến Sankt-Peterburg, Moskva nhưng chủ yếu diễn ra ở hai bờ sông Don và tập trung vào một làng Cossack ven sông.

Phim bộ: Quiet flows the Don (1957)
Điểm IMDb: 7.8
Đạo diễn: Sergey Gerasimov
Diễn viên: Pyotr Glebov, Elina Bystritskaya, Zinaida Kirienko

Bộ phim 3 tập, dài gần 7 giờ rưỡi, là một thiên anh hùng ca về cuộc đời của dân Cossacs trong một ngôi làng ở miền nam nước Nga giữa năm 1912 và năm 1922. Các nhân vật hàng đầu Grigori Melekhov là một người Cossac cục mịch, bị giằng xé giữa tình yêu đầu tiên và thực sự của mình Aksiniya, và vợ của ông, Natalya. Cuộc sống cá nhân Grigori Melekhov được hiển thị như là một cuộc hành trình gập ghềnh thông qua kinh nghiệm của Chiến tranh Thế giới Thứ nhất, cuộc cách mạng Nga, và cuộc nội chiến sau đó. Những người Cossacs được hiển thị như nông dân truyền thống và các chiến binh, những người đang đau khổ qua các sự kiện kịch tính nhất trong lịch sử nước Nga.

Phim tạo ấn tượng lâu dài cho khán giả về tình yêu, được thể hiện chân thực, sâu lắng. Âm nhạc hay, theo sát những diễn tiến về tâm trạng của nhân vật. Có người so sánh phim ngang bằng, hoặc thậm chí hay hơn, Gone with the wind.

Phim nhận Giải Oscar hạng mục Phim nói tiếng nước ngoài, tức là sự công nhận của Viện Hàn lâm Điện ảnh Hoa Kỳ.

Ghi chú: bài này đã được đóng. Bạn có thể xem cập nhật trong bài viết Anh văn:

Good movies based on good books – https://tamdiepblog.wordpress.com/2018/04/10/good-movies-based-on-good-books/

Tổng hợp: Diệp Minh Tâm

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *