Thành Đồ Bàn: Lịch sử và con người

Thành Đồ Bàn: Lịch sử và con người
Diệp Minh Tâm
2020

 

Giới thiệu

Đồ Bàn chính tên Vijaya, còn được gọi Chà Bàn, Trà Bàn, Xà Bàn (chữ Hán-Việt thứ nhất vừa có âm là “đồ” vừa có âm là “xà”), là tên kinh đô cuối cùng của Vương quốc Chiêm Thành (Champa) trước khi vương quốc này bị diệt vong. Tên gọi Chà Bàn được lịch sử chép sớm nhất vào thời Lê (1403) và sử dụng nhiều nhất; một số sử liệu về sau gọi là Đồ Bàn. Thành này nằm trên đất các thôn Nam Tân, Bắc Thuận và Bá Canh của Xã Nhơn Hậu, Thị xã An Nhơn, Bình Định, cách Thành phố Quy Nhơn 27 km về hướng tây-bắc.  Thị trấn Đập Đá nằm bên ngoài góc tây-nam của Thành Đồ Bàn, còn Ga Vân Sơn cách tường phía nam thành Đồ Bàn khoảng 1,6 km theo đường chim bay.

ban do_Thi xa An Nhon (Wikipedia)
Bản đồ Thị xã An Nhơn (Wikipedia)

 

Đại Việt sử ký toàn thư chép: Năm 982, sau khi thắng quân Tống, Lê Hoàn tức Hoàng đế Lê Đại Hành (trị vì 980–1005) đích thân dẫn quân Đại Cồ Việt vào đánh Lâm Ấp (tiền thân của Chiêm Thành) “để trị tội sang quấy nhiễu”. Vua Chàm Paraesvarman bị giết. Quân Việt bắt về hàng nghìn tù binh kể cả khoảng một trăm cung phi và một nhà sư người Ấn, lấy đồ quý mang về, thu vô số vàng bạc của báu, phá hủy tôn miếu, san phẳng kinh đô Indrapura (ở Quảng Nam hiện nay). Lưu Kế Tông, một vị tướng của Lê Đại Hành, ở lại và làm vua cai trị khu vực bắc Chăm từ Quảng Bình vào Quảng Nam ngày nay.

Người Chàm sống sót lánh nạn về phương Nam. Ở đây, vào năm 988 người Chàm tôn một vị lãnh đạo của họ – mà người Việt gọi là Ngô Nhật Hoan – lên ngôi với tên hiệu Harivarman II (trị vì 988–999). Ông này cho xây dựng Vijaya là quốc đô của mình. Sau cái chết của Lưu Kế Tông, người Việt rút lui khỏi vùng đất phía bắc. Harivarman II tiến ra vùng đất này, cho dời kinh đô ra vị trí mà dòng họ của ông đã ở từ trước, tức là Indrapura. Kinh đô này bắt đầu từ triều Indravarman I (trị vì 877–890), ở vị trí nay là Làng Đồng Dương, Xã Bình Định Bắc, Huyện Thăng Bình, Quảng Nam. Dưới triều Harivarman II, vương quốc người Chàm bắt đầu có tên gọi là Chiêm Thành.

Tuy nhiên, tới khoảng năm 999 vị vua kế tiếp là Sri Vijaya Yangkupu vĩnh viễn dời đô về Vijaya (Vijaya đồng thời cũng là tên của một trong bốn tiểu quốc của Chiêm Thành bao phủ toàn bộ Tỉnh Bình Định ngày nay).

Vijaya tức Đồ Bàn là kinh đô cuối cùng của Vương quốc Champa, và các vua Chàm đóng ở đây từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 15. Trong khoảng thời gian này, các triều vua Chàm cho xây dựng khá nhiều công trình ở kinh đô của họ. Tuy vậy, trong giai đoạn 1000–1059, không hề có một tài liệu bia ký nào để chúng ta xác định tên tuổi các vua Chàm và để hiểu về tình hình đất nước Chiêm Thành trong giai đoạn này (Ngô Văn Doanh, 2002).

Trong bản đồ dưới đây, màu tím là lãnh thổ Chiêm Thành trong các thế kỷ 11-15 trước khi bị diệt vong.

ban do_the ky 11-15 (Wikipedia)
Bản đồ thế kỷ 11-15 (Hình: Wikipedia)

Ghi chú: Trước năm 1975, người Việt dùng từ “Chàm” để gọi một cách bình thường, không có nghĩa miệt thị như một số người lầm tưởng. Từ “Chàm” đi vào nhiều tên riêng như người Chàm, Tháp Chàm, Trung tâm Văn hóa Chàm, Cù lao Chàm, Giếng Chàm… Sau năm 1975, tên riêng này được đổi thành Chăm. Theo Putra Podam (2018), cần gọi đúng là “Cham”, ví dụ như: người Cham, Cù lao Cham, Giếng Cham, Vương quốc Champa (không dùng Chiêm Thành hoặc nước Chiêm như trong nhiều bộ chính sử)… Đúng sai thế nào chưa có sự đồng thuận, và việc sửa đổi từ ngữ đang được dùng rộng rãi không phải là dễ dàng. Riêng một số bài viết của Putra Podam vẫn dùng “Chăm” thay vì “Cham”, có lẽ vì tác giả chỉ đối ý sau này (?) Cũng có từ tương tự: “Hời”, như trong người Hời, vàng Hời, bóng ma Hời, thơ của Chế Lan Viên: Nỗi buồn thương, nhớ tiếc giống dân Hời!

Theo dòng lịch sử, Thành Đồ Bàn còn là địa điểm của những thành mang tên khác, cho thấy một ví dụ điển hình về những biến động sâu xa:

  • Thành Đồ Bàn, kinh đô Chiêm Thành: 982-1471
  • Thành Hoài Nhơn, phủ lỵ Phủ Hoài Nhơn, 1471- , rồi bị bỏ hoang phế
  • Thành Hoàng Đế (Thành Quy Nhơn): 1775-1799
  • Thành Bình Định: 1799-1814
  • Lăng Võ Tánh: 1814 đến nay, trải qua tàn phá và trùng tu.

Thành Đồ Bàn và những thành kế tiếp được xây trên cùng vị trí liên quan đến nhiều nhân vật có vai trò quan trọng trong lịch sử: các vua Chiêm Thành Chế Củ, Chế Mân, Chế Bồng Nga; các vua Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Duệ Tông, Lý Thánh Tông, Thái Đức, Gia Long; các phụ nữ Vương phi Mỵ Ê, Huyền Trân Công chúa; văn quan võ tướng như Trần Khắc Chung, Phạm Ngũ Lão, Lý Thường Kiệt, Lê Quý Ly (sau đổi thành Hồ Quý Ly), Trần Khát Chân, Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Trần Quang Diệu…

Biến động lịch sử quanh Thành Đồ Bàn

Thành Đồ Bàn, Thành Cha và Thành Phật Thệ

Một số nguồn khi ghi chép và miêu tả Thành Đồ Bàn lại gọi thành này bằng tên Phật Thệ. Ví dụ như Lê Văn Hưu et al. (1697) ghi năm 1044 Vua Lý Thái Tông thân đi đánh Chiêm Thành, đem quân vào Thành Phật Thệ, và có chú thích: “Phật thành tức là Thành Phật Thệ (Vijaya), cũng gọi là Thành Chà Bàn, kinh đô của Chiêm Thành; ở về phía bắc Thành phố Quy Nhơn, ngày nay khoảng 27 km.”

Theo Wikimapia, Kandapurpura (đô thị Phật) – với các tên gọi khác là Phật Thệ, Phật thành, Thành Lồi, Điển Xung – là một trong hai kinh đô của nước Lâm Ấp, kinh đô còn lại kế tiếp là Simhapura. Kandapurpura được xây dựng và sử dụng trong khoảng một thế kỷ từ đầu thế kỷ 4 đến cuối thế kỷ 4 (sau năm 380) trong thời kỳ phật giáo tiểu thừa (Thevada) và Ấn Độ giáo ảnh hưởng nhiều tới Lâm Ấp. Kandapurpura hiện nay tọa lạc trên địa phận 2 Xã Thuỷ Xuân và Thuỷ Biều, thêm một phần của Phường Đúc (Thành phố Huế), cách trung tâm thành phố khoảng 7 km về hướng tây. Tòa thành này được xây dựng trên Đồi Long Thọ, phía tả ngạn Sông Hương. Về mặt hình thể, quả đồi này uốn cong hình móng ngựa mở ra hướng Sông Hương. Con đường Huyền Trân Công chúa được mở cắt ngang và chia tòa thành ra làm hai nữa, tính trên phương vị tây-đông. So với nửa hướng đông, nữa hướng tây còn khá quy chỉnh.

Đại Nam nhất thống chí chép: Thành cũ An Thành, tục gọi Thành Bắc (có sách chép là Thành Cha vì hai chữ hơi giống nhau) do người Chiêm Thành xây, nay đã đổ nát, dấu cũ vẫn còn.

Trang web thuathienhue.gov.vn, GS Trần Quốc Vượng xác định Thành Lồi (Kandapurpura) được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ 5–6.

Thành Cha thuộc Thôn An Thành, Xã Nhơn Lộc, Thị xã An Nhơn, Bình Định. Theo Phi Phi (2012), thuở vàng son, Thành Cha có tên là Phật Thệ, thành đô của Vijaya. Đây là một trong bốn thành cổ Champa ở Bình Định, từng là trung tâm kinh tế, chính trị của khu vực này khoảng từ thế kỉ 8 đến thế kỉ 15. Thành Cha nằm trên một dải đất cao ở bờ nam Sông Côn (Kôn), gồm hai khu thành lớn nhỏ được xây dựng gần nhau (còn gọi là thành nội, thành ngoại), đều có bình đồ hình chữ nhật.

Thuận Ninh (2020) cho biết Thành Cha giữ vai trò trung tâm của vùng Vijaya trước khi Vương quốc Champa dời kinh đô về vùng này vào cuối thế kỷ 10 đầu thế kỷ 11. Nơi đây từng là trung tâm chính trị, kinh tế của Vương quốc Champa.

Tuy được xếp hạng di tích khảo cổ học quốc gia, di tích Thành Cha hầu như không còn công trình gì trên mặt đất, chỉ là một ít đoạn tường thành bị cây cối bao phủ, một vài gò gạch ngói vỡ vốn là dấu tích còn lại của công trình kiến trúc nào đó đã bị sập đổ…

Thanh Cha_bang (Phi Phi 2012)
Bảng chỉ đường và Bảng thông tin di tích Thành Cha (Phi Phi, 2012)

Nguyễn Thanh Mừng & Trần Thị Huyền Trang (2005) viết “phía tây-nam Thành Đồ Bàn là Thành Cha”, và Thị xã An Nhơn là nơi tọa lạc của “Thành Cha, Thành Đồ Bàn, Phủ thành Quy Nhơn, Thành Hoàng Đế, Thành Bình Định”. Liệt kê hàng loạt như thế càng gây khó hiểu khi mà người ta biết rõ Thành Đồ Bàn, Thành Hoàng Đế và Thành Bình Định là nằm trên cùng một địa điểm và chỉ đổi tên tùy theo vương triều chiếm giữ.

Từ kết quả khai quật, niên đại của Thành Cha có hai giai đoạn (Hoàng Trọng, 2016b). Giai đoạn sớm khoảng thế kỷ 4-6, khi đó thành Cha còn thuộc Châu Vijaya của người Chăm. Giai đoạn 2 là lớp thành được gia cố, niên đại khoảng thế kỷ 7-9, đây là thời kỳ đầu khi người Chăm dời đô từ Quảng Nam về Bình Định.

Tổng hợp các thông tin, ta thấy:

  • Sử sách Việt ghi Thành Đồ Bàn là Thành Phật Thệ.
  • Thành Cha (thế kỷ 4-9) có tên thứ hai là Phật Thệ, khác với Thành Đồ Bàn (thế kỷ 11-15) và dĩ nhiên khác với Thành Kandapurpura.
  • Phật Thệ là tên chỉ ít nhất ba thành khác nhau: Kandapurpura ở Thành phố Huế hiện nay, Thành Cha và Thành Đồ Bàn. Nên dùng tên Phật Thệ để chỉ Kandapurpura, là nơi có nhiều đền đài và hình tượng Phật, cùng một tu viện Phật giáo được xem là lớn nhất Đông Nam Á thời bấy giờ.

Những sử liệu về các cuộc chiến Việt–Chiêm ghi là ở Thành Phật Thệ sau thế kỷ 10 cần được hiểu là ở Thành Đồ Bàn.

Cấu trúc Thành Đồ Bàn

Thành Đồ Bàn nằm trong tiểu quốc Vijaya, và kiến trúc Vijaya có nét riêng biệt với các tiểu quốc của Champa vì có sự kết hợp giữa đá và gạch, trong khi phần lớn các công trình khác của người Chàm chỉ dùng gạch. Điều này thể hiện những ảnh hưởng nhất định từ kiến trúc Angkor. Nó cũng cho thấy sức lao động dồi dào ở tiểu quốc Vijaya so với các tiểu quốc khác của người Chàm, bởi vì việc xử lý đá trong xây dựng tốn rất nhiều sức lao động so với sản xuất gạch. Nét kiến trúc ở Vijaya dường như đã là chủ đạo ở Chiêm Thành trong suốt một giai đoạn, cho nên sau này được phân loại dưới tên gọi là “kiến trúc Bình Định”.

Thành Đồ Bàn dựa vào dãy đồi Kim Sơn án ngữ mặt tây, Núi Long Cốt để làm thế vững mặt tiền (mặt nam) và Gò Thập Tháp yểm hậu (mặt bắc). Trong thành có tháp cổ chứa nghê đá, voi đá, đều của người Chiêm Thành. Chung quanh có 8 tháp, một trong số đó là Tháp Cánh Tiên, hiện nay vẫn còn.

Ghi chú: nghê là con vật huyền thoại có từ rất lâu đời, được cho là biến thể từ sư tử và chó dữ, và là đặc trưng của nền văn hóa tâm linh Việt Nam, vì giống như sư tử nên thường hay bị nhầm có xuất xứ từ Trung Quốc. Khi đề cập đến hiện vật của Chiêm Thành, bài này dùng từ “nghê” với ý nghĩa con vật huyền thoại nói chung.

Về chu vi Thành Đồ Bàn, thông tin thiếu nhất quán giữa các nguồn:

  • Tài liệu viết thời Vua Thành Thái: chu vi hình vuông hơn 10 dặm tức hơn 5 km (Nguyễn Thanh Quang, 2014a))
  • Nguyễn Văn Hiển (1860): hơn 10 dặm tức hơn 5 km
  • tungvk1781 (2011): 5 km
  • Đại Nam nhất thống chí : 30 dặm tức 15 km

Theo số đông các nguồn, chu vi Thành Đồ Bàn là 5 km hoặc hơn một chút; nếu hình vuông thì mỗi cạnh khoảng 2.300 m.

H. Parmentier – một kiến trúc sư người Pháp, sau khi khảo sát nghiên cứu, viết về Thành Đồ Bàn như sau (Nguyễn Thanh Quang, 2014a):

Trên đường cái quan cách thành Bình Định mươi cây số, thấy vết tích một khu thành Chàm, mà kích thước được xếp hàng đầu trong số những công trình quân sự của dân tộc này… Một nhánh Sông Bình Định bảo vệ phía Bắc… Tường bằng đất ốp đá ong… tòa thành được tạo bởi những gò đất có tính toán… Mặt khác, Thành Đồ Bàn còn có tấm lá chắn vững chắc bảo vệ mặt biển, trấn giữ Cảng Thị Nại (một thương cảng lớn lúc bấy giờ), cách Thành Đồ Bàn khoảng 10 km [thật ra là khoảng 20 km theo đường chim bay], đó là Thành Thị Nại.

Chu vi của Thành Đồ Bàn trên bản đồ vệ tinh được vẽ lại trong sự tương quan với Thành Hoàng Đế (tungvk1781, 2011), tường nam là mặt tiền và tường bắc là mặt hậu.

Do Ban_ban do ve tinh (tungvk1781, 2011)
Chu vi Thành Đồ Bàn (tungvk1781, 2011)

Có vẻ như tường Thành Đồ Bàn mặt bắc chạy từ tây sang đông trên đường làng mang tên Đô đốc Long, vòng qua Công viên Bả Canh để rẽ xuống hướng nam trên Quốc lộ 1A rồi rẽ phải trên Đường Huyền Trân Công chúa đi đến Tháp Cánh Tiên. Việc xây đường sá trên tường thành hoang phế và sụp đổ là việc thường thấy vì sự tiện lợi: không tốn nhiều công sức đào xới vật liệu để đắp nên con đường.

Do Ban_Duong Do Doc Long (Hoa Loc Binh 2019)
Đường Đô đốc Long ở mặt bắc Thành Đồ Bàn (Hoa Lộc Bình, 2019)

Theo ghi chép trong Doanh nhai thắng lãm của Mã Đoan, viên thông ngôn của nhà thám hiểm người Trung Quốc nổi tiếng Trịnh Hòa (1371–1433) thời nhà Minh, Trung Quốc, đến Vijaya khoảng năm 1413, miêu tả kinh đô Chăm Pa thời kỳ này như sau:

Đi theo hướng tây-nam một trăm lí bạn sẽ tới thành phố nơi nhà vua cư ngụ, tên gọi ngoại quốc của nó là Chiêm Thành. Thành phố có một bức tường thành bằng đá, với lối ra vào qua bốn cổng, có người được lệnh đứng gác. Ngôi nhà trong đó nhà vua cư ngụ thì cao và rộng. Nó có một cái mái lợp ngói nhỏ hình thuẫn trên đó, bốn bức tường bao quanh được xây dựng với phần trang trí công phu bằng gạch và hồ, rất gọn ghẽ. Các cánh cửa được làm bằng gỗ cứng, được trang trí với các hình khắc các thú hoang và gia súc. Các ngôi nhà trong đó dân chúng sinh sống có mái lợp bằng tranh, chiều cao của gờ mái nhà (tính từ mặt đất) không thể quá ba thước [1 thước Tàu bằng 38 cm], người ta ra vào phải khom lưng và cúi đầu xuống, và có chiều cao quá khổ là một điều bực mình.

Ghi chú: một trăm lí tức 50 km là con số khó hiểu, bởi vì Đồ Bàn cách bờ biển khoảng 20 km theo đường chim bay.

Trong thời kỳ gần 5 thế kỷ trước khi Chiêm Thành bị diệt vong, Đồ Bàn chịu nhiều cuộc tấn công từ Đại Việt, Chân Lạp (Vương triều Angkor, Cambodia ngày này), Xiêm (Thái Lan ngày nay), và Nguyên Mông. Người Chân Lạp tấn công Đồ Bàn nhiều lần. Có những giai đoạn Đồ Bàn chịu sự cai trị của Chân Lạp: 1145-1149 và 1190-1192. Nước Xiêm dưới thời vương triều Sukhothai cũng góp phần vào trận chiến năm 1313 nhưng sau đó rút lui bởi sự can thiệp của nhà Trần (Đại Việt).

Năm 1284, quân Chiêm Thành đánh lui 10 vạn hùng binh của nhà Nguyên do Toa Ðô thống lĩnh và kéo từ Trung quốc theo đường thủy vào cửa Thị Nại.

Nhưng nhiều nhất vẫn là các cuộc tấn công từ các vương triều Đại Việt. Đồ Bàn bị Đại Việt tấn công vào các năm 1044, 1069, 1074 (nhà Lý), 1252, 1312, 1377 (nhà Trần), 1403 (nhà Hồ), 1446, 1471 (nhà Lê).

Phần dưới đây lược thuật một số sự kiện quan trọng liên quan đến Thành Đồ Bàn.

Chiến tranh Chiêm–Việt 1020

Năm 1020, Hoàng tử Phật Mã, sau là Vua Lý Thái Tông, đem quân đánh người Chàm ở trại Bố Chính rồi thẳng đến Núi Long Ty, chém được tướng Chiêm Thành là Bố Linh tại trận; người Chiêm Thành chết đến quá nửa (Ngô Văn Doanh, 2002). Chúng ta không có thêm một tài liệu gì nữa về nội tình Chiêm Thành suốt mấy chục năm sau. Chắc hẳn trong những năm ấy, nội tình Chiêm Thành rất không ổn và chia rẽ.

Chiến tranh Chiêm–Việt 1044

Theo sử liệu Trung Quốc, năm 1042 một hoàng tử Chiêm Thành xin triều đình Trung Quốc cho thụ phong để làm Vua Jaya-Paramesvaravarman I. Tư liệu của người Việt sau đó cho biết tên vị vua Chiêm Thành là Sạ Đẩu.

Ngay sau khi lên ngôi được khoảng một năm, vào năm 1043 Sạ Đẩu dẫn quân đi cướp bóc vùng ven biển của Đại Việt. Sự kiện này khiến cho Vua Lý Thái Tông tức giận. Qua lời của nhà Vua nói với triều thần, chúng ta được biết rằng suốt 20 năm trước đó giữa Đại Việt và Chiêm Thành hầu như không có quan hệ ngoại giao gì.

Ngay năm sau, năm 1044, Vua Lý Thái Tông của Đại Cồ Việt lấy cớ Chăm Pa không triều cống nhiều năm, nên thân chinh cất quân trừng phạt. Đại Việt sử ký toàn thư chép khá chi tiết về cuộc viễn chinh này. Chiêm Thành đem quân và voi bày trận ở bờ nam Sông Ngũ Bồ, muốn chống lại quân Việt. Vua truyền quân bỏ thuyền lên bộ, lập đội hình ở bờ sông bên bắc. Vua mới cắt đặt quân sĩ, dựng cờ trống, chuẩn bị truyền lệnh sang sông để đánh. Hai bên chưa giao chiến, tướng Chiêm là Quách Gia Dĩ bội phản, chém chết Sạ Đẩu rồi đầu hàng. Quân Đại Cồ Việt chiếm được Thành Đồ Bàn, bắt vợ cả, vợ lẽ của Sạ Đẩu và các cung nữ giỏi múa hát. Sai sứ đi khắp các hương ấp, phủ dụ nhân dân.

Khi đến hành điện Lý Nhân, Thái Tông sai nội nhân thị nữ triệu Vương phi Mỵ Ê (Bia-Mih Ai) sang hầu thuyền vua. Mỵ Ê phẫn uất lắm, lấy chăn quấn quanh mình rồi nhảy xuống dòng Châu Giang. (Mỵ Ê phải quấn chăn vì đang khỏa thân trong khi bị chuẩn bị đưa sang hầu thuyền ngự Việt.) Vua Thái Tông đầy ân hận hối tiếc, lập tức ra lệnh quân sĩ tìm cứu nàng Mỵ Ê nhưng không kịp nữa.

Chiến tranh Chiêm–Việt 1069

Đây là cuộc chiến do Vua Lý Thánh Tông (trị vì 1054–1072) của Đại Việt phát động nhằm đánh Chiêm Thành với lý do người Chiêm từ chối thần phục nhà Lý.

Quốc vương Chiêm Thành là Rudravarman III (sử liệu người Việt ghi là Chế Củ) muốn dựa vào nhà Tống để chống đối Đại Việt, thế nên họ xin thần phục và được vua Tống Thần Tông giúp đỡ, gửi cho họ ngựa trắng và cho phép họ mua lúa ở Quảng Châu. Chiêm Thành dựa vào thế này mà không tiếp tục nạp cống cho Đại Việt nữa. Mọi hành động của Chiêm Thành đều bị người Việt cho là khiêu khích họ.

Năm 1068 Vua Lý Thánh Tông sửa soạn thêm chiến thuyền, cuối cùng lực lượng của Lý triều tất cả có chừng 200 chiếc thuyền. Lý Thường Kiệt làm Đại tướng đi tiên phong.

Lý Thánh Tông giao việc triều chính cho Nguyên phi Ỷ Lan và Thái sư Lý Đạo Thành phụ trách. Mười ngày sau khi rời khỏi Thăng Long, các đạo quân Việt tới phía nam Núi Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh), vào hải phận Chiêm Thành.

Năm ngày sau Lý Thường Kiệt tới cửa Nhật Lệ (Thành phố Đồng Hới ngày nay), là nơi tập trung của thủy quân Chiêm Thành. Tại đây, một nhóm nhỏ thủy quân Chiêm xông ra chặn quân Việt. Quân Lý là Hoảng Kiệt đánh lui họ rồi tiến về phía Nam không bị ngăn trở. Bốn ngày sau nữa tới cửa Tư Dung (nay gọi là Tư Hiền), là cửa sông để vào các đầm phá và sông thuộc Quy Nhơn ngày nay. Quân Lý mất ba ngày nữa, tính tất cả là 26 ngày từ Thăng Long đến đấy.

Ghi chú: Có tài liệu chép quân Việt đánh Thành Phật Thệ trong vùng Quy Nhơn, nhưng thật ra đó là Thành Đồ Bàn.

Đang đêm nghe tin quân của mình bại trận, Vua Chiêm Thành là Chế Củ mang vợ con chạy trốn.

Vua Thánh Tông đánh Chiêm Thành lâu lắm không hạ nổi, bèn đem quân trở về. Đi nửa đường, vua nghe dư luận nhân dân khen bà Nguyên phi ở nhà giám quốc, trong nước được yên trị, Thánh Tông nói: “Người đàn bà trị nước còn được như thế, mà mình đi đánh Chiêm Thành không thành công, thế ra đàn ông kém lắm sao?”

Vua Thánh Tông quay trở lại đánh Chiêm. Lý Thường Kiệt dẫn quân theo phía Nam. Rốt cục Lý Thường Kiệt bắt được Vua Chế Củ ở biên giới Chân Lạp. Vua Chiêm vốn có cựu thù với nước Chân Lạp nên hết đường chạy phải ra hàng, kết quả là ông bị Lý Thường Kiệt cầm tù. Cuộc đuổi bắt Vua Chế Củ mất hết một tháng.

Người có công lớn nhất trong cuộc đại thắng này của nhà Lý là Lý Thường Kiệt.

Tháng 5 Lý Thánh Tông ngự tiệc cùng quần thần ở cung điện của vua Chiêm, vua lại thân hành múa thuẫn và đánh cầu ở nơi thềm điện ấy. Trước khi về nước Thánh Tông còn không quên sai đếm tất cả nhà của dân ở trong và ngoài thành Phật Thệ, gồm có hơn 2.660 căn đều thiêu rụi sạch.

Sau đó, Chế Củ xin dâng 3 châu Bố Chính, Ma Linh và Địa Lý để chuộc tội nên ông được tha về – nhưng về sau tiếp tục chống đối để đòi lại đất ba châu. Thế là nước Đại Việt mở rộng thêm vùng đất từ dãy Hoành Sơn đến dãy Bạch Mã tương ứng với Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên–Huế ngày nay. Việc này đánh dấu một bước trong trình tự Nam tiến của dân tộc Việt. Trong bản đồ dưới đây, ba châu Bố Chính, Ma Linh và Địa Lý thể hiện vùng đất màu cam.

ban do_Trinh tu Nam tien cua dan toc Viet (Wikipedia)
Trình tự Nam tiến của dân tộc Việt (Hình: Wikipedia)

Chiến tranh Chiêm–Đại Việt–Nguyên 1282–1285

Trong kế hoạch bành trướng của nhà Nguyên, Chiêm Thành là một mục tiêu quan trọng. Năm 1282, Hốt Tất Liệt ra lệnh động binh và giao quyền chỉ huy cho Toa Đô đánh Chiêm Thành để làm bàn đạp tiến đánh tiếp Đại Việt và các nước khác ở Đông Nam Á. Được tin, Vua Trần Nhân Tông ngự ra Bình Than họp với các vương hầu và tướng lĩnh, rồi chia quân trấn giữ những nơi hiểm yếu. Những láng giềng khác của Chiêm Thành như Chân Lạp, Java, Tây Nguyên cũng tích cực trợ giúp, làm cho người Chàm vững tin mà không chịu khuất phục quân Nguyên.

Do vua nhà Trần không cho mượn đường, Toa Đô dẫn 1.000 chiếc thuyền đi đường biển đánh Chiêm Thành. Quân Nguyên đổ bộ lên cảng Quy Nhơn bây giờ rồi đến tháng 1/1283 tiến đánh Đồ Bàn mà sử Nguyên gọi là Đại Châu. Nhờ tinh thần chiến đấu quả cảm của quân Chàm và có quân cứu viện từ Đại Việt, Chân Lạp và Java, cuộc tấn công của Nguyên bị thất bại nặng nề. Chính Nguyên sử miêu tả quân Nguyên phải “liều chết cố đánh” mới sống sót “thoát được về doanh trại. (Ngô Văn Doanh, 2002)

Sau thất bại nặng nề trên, Toa Đô rút quân khỏi Đồ Bàn mà quay về cảng Quy Nhơn và xin tăng viện. Tướng Nguyên còn đòi Đại Việt cấp lương thực và cho mượn đường bộ để đánh Chiêm Thành, nhưng một lần nữa, Đại Việt từ chối. Đoàn quân tiếp viện Nguyên phải đi đường biển, vừa nguy hiểm vừa mất thời giờ.

Vì đợi mãi không thấy quân và lương tới, nhiều lính của Toa Đô bỏ trốn, lại bị quân Chàm tập kích.

Năm 1284, Thoát Hoan còn dẫn quân qua Đại Việt, nói là mượn đường đi đánh Chiêm Thành.

Biết rõ ý đồ của Thoát Hoan, Vua triệu tập Hội nghị Diên Hồng để hỏi ý kiến. Toàn dân toàn quân Việt đều nói đánh chứ không chịu hàng. Thế là lần này cả Đại Việt và Chiêm Thành cùng nhau chống lại các đội quân Nguyên hùng hậu.

Đầu năm 1285, quân Nguyên xâm lăng Đại Việt lần thứ hai khi họ nói muốn nhà Trần cho “mượn đường” đánh Chiêm Thành, nhằm kiểm soát tuyến đường biển sang Ấn Độ Dương. Toa Đô kéo quân từ hai châu Ô, Lý tiến đánh Đại Việt rồi đóng quân ở Tây Kết. Chỉ hai tháng sau, đội quân này bị Đại Việt đánh tan, Nguyên soái Toa Đô bị chém chết ở Hưng Yên ngày nay. Đến tháng 5 năm đó, Hưng Đạo Đại vương đánh tan quân Thoát Hoan ở Vạn Kiếp.

Một số người tin rằng nhà lữ hành Marco Polo đi cùng thuyền Nguyên đánh Chiêm Thành trở về Đại Đô, và viết nhiều về Chiêm Thành, Chân Lạp, Côn Đảo (Nguyễn Giang, 2020).

Khi kéo quân đi để họp binh với Thoát Hoan, Toa Đô vẫn để lại một đội quân ở miền bắc Chiêm Thành. Chỉ đến khi Thoát Hoan bại trận, đội quân này mới rút về. Như vậy, nhờ cuộc kháng chiến thắng lợi của quân dân Đại Việt, Chiêm Thành mới hoàn toàn được giải phóng khỏi quân Nguyên. (Ngô Văn Doanh, 2002)

Nhằm củng cố thêm mối giao hảo giữa Chiêm Thành và Java cùng Đại Việt đã tốt đẹp sau sự hợp tác kháng chiến chống Nguyên mà Vua Chế Mân (Jaya Simhavarman II) cưới Công chúa Tapasi của Java và sau đó cưới Huyền Trân Công chúa.

Ông Đỏ Ông Đen thế kỷ 12-13

Từ Bình Định đi xe lửa đến ga Vân Sơn, trông về hướng tây người ta sẽ thấy một hòn núi đất sỏi, ba ngọn tròn trịa, màu gạch chín. Đó là Núi Long Cốt, thường được gọi là Núi Nhạn Tháp, trước kia làm tiền án cho Thành Đồ Bàn, hiện nay làm bức bình phong yểm hộ cho Chùa Nhạn Sơn nằm dưới chân núi.

Chùa Nhạn Sơn (Thôn Nhạn Tháp, Xã Nhơn Hậu, Thị xã An Nhơn, Bình Định) có 2 pho tượng cổ bằng đá sa thạch có liên quan đến người Chiêm. Đây là hai tượng Dvarapalla (Môn Thần) với ý nghĩa người bảo vệ cho đạo pháp, mang phong cách điển hình của nghệ thuật điêu khắc Chiêm Thành thế kỷ 12-13. Đến nay, không có tài liệu chính xác nào cho biết về thời điểm lập chùa và gốc gác của hai tượng đá. Tất cả chỉ là truyền thuyết.

Theo Đại Nam nhất thống chí, Doãn Công (2016), Hoàng Trọng (2013) và Quách Tấn (1965), câu chuyện về hai pho tượng là như sau (chi tiết có ít khác biệt).

Hai pho tượng cổ này có từ thời người Chiêm Thành còn đóng đô ở Thành Đồ Bàn. Do chiến tranh, hai pho tượng bị chôn vùi trong lòng đất hàng trăm năm. Sau đó, mưa nắng xói mòn nên búi tóc của hai pho tượng lộ dần lên khỏi mặt đất. Trẻ con chăn bò thấy lạ đào bới, phát hiện tai, mũi, mắt, miệng, rồi dân làng đào lên được hai pho tượng, liền lập chùa để thờ lấy tên là Thạch Tự Công, nghĩa là chùa thờ ông Đá. Thời gian sau, người dân biết câu chuyện lý giải về hai pho tượng đá này nên đổi tên chùa thành Song Nghĩa Tự, tức là chùa thờ hai anh em kết nghĩa.

Đến thế kỷ 16, vùng An Nhơn bị hạn hán kéo dài, Tuần phủ địa phương cho dân lập đàn tràng cầu mưa. Hòa thượng Chí Mẫn được người dân giới thiệu đứng ra chủ trì việc lập đàn cầu mưa và kết quả là có mưa giải hạn. Hòa thượng Chí Mẫn được quan Tuần phủ mời ở lại lập chùa và ông đã chọn Song nghĩa tự. Tên chùa được Hòa thượng Chí Mẫn đổi thành Nhạn Sơn Linh Tự vẫn còn đến ngày nay, nhưng người dân địa phương thường gọi là chùa Ông Đỏ Ông Đen.

Tương truyền, Ông Đỏ và Ông Đen là hiện thân của hai anh em kết nghĩa có tên lần lượt là Huỳnh Tấn Công và Lý Xuân Điền, sống vào đời nhà Trần ở nước Việt. Huỳnh Tấn Công (Ông Đỏ) là con một nhà nho nghèo ở Quảng Nam. Trên đường ra Thăng Long thi, khi đi ngang qua tỉnh Quảng Bình thì bị bệnh, ngất xỉu giữa đường. Một vị điền chủ giàu nổi tiếng ở Quảng Bình đi thăm ruộng vào sáng sớm phát hiện và đưa Huỳnh Tấn Công về nhà chữa trị. Con của vị điền chủ tên là Lý Xuân Điền (Ông Đen) cũng ra Thăng Long thi, nên hai người cùng lên đường.

Trên đường đi, hai người thấy tâm ý hợp nhau nên kết nghĩa làm anh em. Cả hai đều thi đỗ và được làm quan to. Huỳnh Tấn Công làm quan văn nên tay cầm cây giản (là một cây lệnh), có nghĩa xuất nhập bất cấm, tức ra vào trong triều không ai được gạn hỏi. Ông Lý Xuân Điền làm quan võ cầm cây kiếm được quyền tiền trảm hậu tấu, nghĩa là người có uy tín tuyệt đối với nhà vua, làm việc đều đắn đo cân nhắc không gây oan sai nên mới được ban kiếm lệnh này. Điều này chứng tỏ hai ông đều làm quan rất có uy tín trong triều, được nhà vua tin cẩn.

Hai ông có thân quen với vua nước Chiêm Thành nên đến thăm. Gặp lúc vua Chiêm Thành bị bệnh, các danh y trong nước không chữa được nên ông Huỳnh Tấn Công và Lý Xuân Điền dùng thuốc nam chữa khỏi. Lại gặp lúc Xiêm La (Thái Lan ngày nay) đem quân xâm lấn biên giới nước Chiêm Thành, hai ông xin cầm quân đánh giặc. Quân nhà Trần đuổi quân Chiêm Thành ra khỏi nước và thừa kế đánh thẳng vào kinh thành địch. Nhưng bị lầm quỷ kế, binh sĩ lớp bị giết, lớp bị bắt sống, Huỳnh Tấn Công cũng bị bắt làm tù binh. Dị bản: Giữa lúc loạn lạc, giặc Tàu đe dọa phương Bắc, quân Chiêm Thành uy hiếp phía Nam, vua Trần cử mỗi người cầm quân đi đánh dẹp một phương. Huỳnh  Tấn  Công được cử đi đánh Chiêm Thành, Lý Xuân Điền nhận lệnh đánh trả giặc phương Bắc.

Không thấy vua nhà Trần cho người đến chuộc tù binh, vua Chiêm Thành bèn bán Huỳnh Tấn Công cho nước khác làm nô lệ. Huỳnh Công nay bị bán chỗ này, mai chỗ nọ, tấm thân chịu lắm đau thương. Sau lại lọt vào tay một vị lão thần nước Chiêm Thành, Huỳnh Tấn Công trở về lại Chiêm Thành. Về Chiêm, nhờ cứu vị lão thần khỏi bệnh dịch tả, Huỳnh Tấn Công được trọng đãi, không còn phải làm những công việc nhọc nhằn.

Trong khi Huỳnh Tấn Công ở Chiêm Thành thì Lý Xuân Điền dẹp giặc xong trở về xin nghỉ hưu. Nghe tin bạn mắc nạn, họ Lý thu góp tiền của, tìm đường sang Chiêm Thành. Sau bao ngày tháng chịu bao nhiêu gian lao, Lý Xuân Điền tìm được Huỳnh Tấn Công, mừng vui thương tủi, nước mắt nghẹn lời. Rồi Lý Xuân Điền xin chuộc bạn. Vị lão thần Chiêm Thành, phần đã chịu ơn Huỳnh Tấn Công cứu khỏi bệnh, phần cảm tấm lòng vị nghĩa của Lý Xuân Điền, nên hoan hỉ để cho Huỳnh Tấn Công về quê hương mà không nhận tiền chuộc. Hai người bái biệt vị quan Chiêm.

Lý, Huỳnh ra về được ít lâu, vị quan Chiêm thương nhớ, bèn mướn thợ tạc tượng hai ông để trong một cái tháp.

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, chiến tranh, tháp sập đổ, 2 pho tượng đá bị vùi lấp. Sau này, người Việt khai hoang cày cuốc phát hiện nên lập chùa thờ phụng. Dân làng kể rằng, từ mấy trăm năm về trước dưới đất bỗng trồi lên hai pho tượng. Những người tò mò đến rờ mó nghịch ngợm thì về nhà mắc chứng nhức đầu. Sợ quá họ lập đền thờ, lúc đầu lợp tranh, sau mới xây gạch.

Câu chuyện họ Huỳnh, họ Lý lưu truyền từ lâu, nhưng sự thật thì sao? Doãn Công (2016) và Quách Tấn (1965) phân tích như sau.

Chính sử ghi mỗi trận đánh Chiêm–Việt đều có tên các tướng Việt, và không có tướng nào tên Huỳnh Tấn Công hoặc Lý Xuân Điền. Hai tượng chỉ mang khố rằn ri, là trang phục của đồng bào thiểu số chứ không phải của dân tộc Việt.

Hai pho tượng đều bị gãy mất hai bàn tay, hiện giờ được thế vào bằng hai bàn tay gỗ, riêng bàn tay phải Ông Đen được đắp bằng xi măng. Hai bàn tay đá nguyên thủy nhất định phải xòe ra, bởi vì hai người đang múa. Chắp bàn tay gỗ vào rồi thì sơn lên thân với chiếc khố màu sặc sỡ. Nhưng người Việt, hoặc không thạo điệu múa của người Chiêm hoặc muốn hai bức tượng thêm phần oai vệ nên cho cầm vũ khí. Ông Đen tay phải cầm kiếm gỗ, còn Ông Đỏ tay trái vốn cầm quả chùy bầu dục nhưng người Việt chắp thêm một đoạn lên phía trên quả chùy, biến nó thành cây thiết trượng, cũng bằng gỗ. Khi chùa mới lập, hai tượng đá chỉ mang một nước sơn mà thôi. Sau này người ta mới gắn thêm râu, đội thêm mũ, y phục của hai pho tượng đều đã được Việt hóa, thay bằng áo đại bào, đầu đội mũ đằng cho giống với các tượng thần trong chùa Việt. Riêng họa tiết hoa văn ngang thắt lưng hai pho tượng đến nay vẫn giữ nguyên bản, không được tô sơn. Hai cổ chân cũng đeo vòng tròn nhưng khác nhau, vòng tròn chân phải là hình một con rắn, vòng tròn chân trái phía trước chạm nổi lá đề.

Hơn nữa, đời Trần trừ những vũ công vũ nữ, không mấy ai học múa, nhất là các quan lớn thì càng không múa bao giờ. Thế mà hai bức tượng thể hiện hai người đang mùa: chân sụm, thân uốn, cánh tay giương. Rõ ràng đây là hai tượng người Chiêm đang biểu diễn một vũ khúc.

hai tuong Ho phap (My Binh, 2020)
Hai tượng Hộ pháp trong Chùa Nhạn Sơn (Ảnh: Mỹ Bình (2020)

Chùa lập nên, ban đầu chỉ để thờ “hai ông đá” được xem là Hộ pháp trong tín ngưỡng Việt. Không ai biết là hai ông gì, nên chùa mới lấy tên là Thạch Công Tự. Nhưng gọi “Ông Đá” nghe không “oai” nên nhiều gọi Ông Đen là Ông Ác, Ông Đỏ là Ông Thiện.

Chùa được sửa sang lại để thờ Phật từ khoảng năm 1935-1940, khi ấy mới mang tên mới là Nhạn Sơn Tự.

Năm 1977, các nhà nghiên cứu lịch sử, khảo cổ Hà Nội vào nghiên cứu hoa văn ở thắt lưng hai pho tượng Hộ pháp và nhiều sử liệu khác xác định hai pho tượng có từ thế kỷ 13, thời nước Chiêm Thành còn đóng đô ở thành Đồ Bàn. Đến thế kỷ 16 chùa mới được lập, rồi được “sắc tự” thời Tự Đức thứ 17 (1864) và Bảo Đại thứ 18 (1944) với tên gọi là Nhạn Sơn Linh Tự.

Năm 2019, hai tượng Hộ pháp chùa Nhạn Sơn được xét duyệt là bảo vật quốc gia (Mỹ Bình, 2020).

Huyền Trân Công chúa ở Đồ Bàn 1306-1307

Năm 1306, kinh đô Đồ Bàn ghi dấu ấn lịch sử quan trọng trong quan hệ Việt–Chiêm. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm Định Việt sử thông giám cương mục và với sự thêm mắm dậm muối của người khác, câu chuyện của Huyền Trân Công chúa (1287-1340) là như sau.

Đại Việt và Chiêm Thành đã trải qua những trận chiến liên miên kéo dài trong hơn 200 năm từ đời nhà Lý đến nhà Trần; chỉ đến khi cùng bị quân Nguyên xâm lược hai bên mới ngừng xung đột, chống kẻ thù chung. Tháng 2 năm Tân Sửu (1301), Thượng hoàng Trần Nhân Tông, người đã cải thiện bang giao với Chiêm Thành, đến thăm Chiêm Thành và được Vua Chế Mân (Jaya Sinhavarman III) đón tiếp nồng hậu. Trần Nhân Tông ở Chiêm Thành đến chín tháng trời, vừa ngao du sơn thủy vừa trao đổi Phật pháp với tư cách là Trúc Lâm đại sĩ, tổ thứ nhất của thiền phái Trúc Lâm. Trước khi về, Thượng hoàng ngỏ ý muốn gả con gái là Huyền Trân Công chúa (không rõ tên thật) cho Chế Mân để củng cố bang giao giữa hai nước cho dù Chế Mân đã có chính thất.

Từ đó, năm nào triều đình Đồ Bàn cũng cử sứ bộ tới Thăng Long để cầu hôn. Triều đình nhà Trần phần lớn phản đối cuộc hôn nhân dị tộc này, không loại trừ do tư tưởng chủ nghĩa dân tộc độc tôn, khinh miệt người Chàm là man di mọi rợ. Thật ra, Chế Mân là vị vua anh tài lỗi lạc, có tiếng tăm khắp vùng Đông Nam Á, không đáng bị khinh khi.

Trong triều, chỉ có Văn túc vương Trần Đạo Tái và Đại hành khiển Trần Khắc Chung ủng hộ. Đặc biệt đến năm 1305, khi Chế Mân đề nghị dâng sính lễ là Châu Ô và Châu Lý thì nhà Trần không thể chối từ nữa.

Tháng 6 năm Bính Ngọ (1306), một phái đoàn lớn đưa Huyền Trân Công chúa 19 tuổi xuống thuyền đi Thành Đồ Bàn. Quan quân và dân chúng đến tiễn đưa công chúa rất đông. Truyền thuyết của người Chàm kể lại đích thân Chế Mân ra đón tận vùng biên thùy, mặc bộ quần áo màu trắng, giày đen thêu chim thần Garuda. Hôn lễ cử hành suốt ba ngày ba đêm, và Huyền Trân được Chế Mân phong cho danh hiệu là thứ hậu Paramecvari –người vợ thứ hai của Chế Mân.

Sang năm sau (1307), vua Trần Anh Tông (trị vì 1293–1314) nhận Châu Ô và Châu Lý, đổi tên lại thành Châu Thuận và Châu Hóa rồi sai Đoàn Nhữ Hài vào kinh lý và đặt quan cai trị.

Làm vợ Chế Mân được 11 tháng, Huyền Trân mang thai khoảng 4-5 tháng rồi trở thành góa phụ. Chế Mân chết khi mới 50 tuổi, trong một trường hợp rất “vô duyên”: Gió lốc bẻ gãy một cành cây trong vườn rơi trúng gáy khi ông đang nằm phơi nắng để trị bệnh ngoài da.

Đến đây, câu chuyện có những nội dung khác nhau.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư,

Mùa hạ, tháng 5, chúa Chiêm Thành Chế Mân chết.

Thế tử Chiêm Thành Chế Đa Da sai sứ thần Bảo Lộc Kê sang dâng voi trắng.

Mùa đông, tháng 10, sai Nhập nội Hành khiển Thượng thư Tả Bộc xạ Trần Khắc Chung cùng An phủ Đặng Văn sang Chiêm Thành đón Huyền Trân Công chúa và thế tử Đa Da về.

Theo tục lệ Chiêm Thành, sau khi vua chết các vợ vua phải lên giàn hỏa thiêu mà chết theo. Vì thế, Vua Trần Anh Tông lo sợ cho tính mạng của em gái, lập tức sai Nhập nội hành khiển Trần Khắc Chung và An phủ sứ Đặng Văn đem thuyền sang lấy cớ viếng tang và nói với triều đình Chiêm: “Nếu Công chúa hỏa táng thì việc làm chay không có người chủ trương, chi bằng ra bờ biển chiêu hồn ở ven trời, đón linh hồn cùng về, rồi sẽ lên giàn thiêu”.

Người Chiêm nghe theo.

Khắc Chung dùng thuyền nhẹ cướp lấy Công chúa đem về, rồi tư thông với công chúa, đi đường biển loanh quanh chậm chạp, lâu ngày mới về đến kinh đô..

Việt Nam Sử lược chỉ ghi ngắn gọn:

Huyền Trân Công chúa lấy Chế Mân chưa được một năm thì Chế Mân mất, mà theo tục Chiêm Thành, hễ khi vua đã chết, thì các hậu phải hỏa thiêu chết theo.

Anh Tông được tin ấy, sai Trần Khắc Chung, giả mượn tiếng vào thăm để tìm kế đưa Công chúa về.

Theo một số tác giả như Anon. (2014); Tường Linh (2012), có những nghi vấn.

Huyền Trân Công chúa là thứ hậu, trong khi tập tục lên giàn hỏa là một vinh dự lớn lao chỉ dành riêng cho chính hậu nhằm bày tỏ lòng thủy chung của bà đối với chồng, với điều kiện phải được hội đồng hoàng gia chấp thuận.

Chứng cứ cho điều trên là chính hậu Tapasi, người Java, không bị buộc phải lên giàn hỏa nên có thể trở về nước sau ngày Chế Mân từ trần. Vì thế, không lẽ gì thứ hậu Huyền Trân phải lên giàn hỏa.

Hơn nữa, theo luật Chiêm Thành, lễ hỏa táng vua mới mất được thực hiện trong ngày đẹp nhất trong vòng một tháng sau khi vua băng hà. Như vậy, lễ hỏa thiêu đó có lẽ phải được thực hiện trong tháng Năm hoặc đầu tháng Sáu năm 1307, trong khi đó, sứ đoàn Trần Khắc Chung khởi hành vào tháng 10.

Từ những lý do như trên, không có dự tính đưa Huyền Trân lên giàn hỏa, vì thế cũng không có chuyện phải giải cứu Huyền Trân như Đại Việt sử ký toàn thư đã viết.

Phần đông sử gia ngày nay khẳng định, câu chuyện tình là sự gán ghép ác ý của các sử gia thời Hậu Lê. Chuyện Trần Khắc Chung tư thông với Huyền Trân có thể là vì bị gièm pha, đồn thổi vì những yếu tố sau.

— Sự chênh lệch tuổi tác quá lớn giữa hai người (Khắc Chung hơn Huyền Trân quãng 20- 30 tuổi) và Trần Khắc Chung được tiếng đạo đức.

— Thuyền đưa Huyền Trân về nước không phải là “thuyền nhẹ” (như Đại Việt sử ký toàn thư ghi) chỉ chở được một vài người để rồi mối tình nảy sinh trong cảnh vắng vẻ. Thật ra, thuyền ấy phải chở nhiều người khác, như là An phủ sứ Đặng Văn cùng các tùy tòng, thủy thủ đoàn, thị nữ hầu hạ… tổng cộng cũng phải vài chục người. Với nhiều người trong khung cảnh chật chội thì không dễ dàng hành động lén lút.

— Khắc Chung vốn người họ Đỗ, song do đã lập nên công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên năm 1285 nên được nhà vua ban quốc tính đổi thành Trần Khắc Chung, phong chức Nhập nội Hành khiển Thượng thư Tả Bộc xạ thì con người đảm lược tài ba ấy đâu thể làm chuyện bại hoại danh tiếng.

— Về việc “Hưng Nhượng Đại vương ghét lắm, mỗi khi thấy Khắc Chung thì mắng phủ đầu…” trong Đại Việt sử ký toàn thư thì không có tài liệu minh chứng, vã lại đó là ý kiến riêng của một cá nhân chứ không liên quan đến vụ việc Huyền Trân Công chúa.

Theo dã sử và thần tích tại đền thờ của Huyền Trân Công chúa, sau khi bà trở về Thăng Long thì theo di mệnh của Thái Thượng hoàng, Công chúa xuất gia ở Núi Trâu (nay thuộc Bắc Ninh). Công chúa thọ Bồ tát giới và được ban pháp danh Hương Tràng.

Cuối năm 1311, Hương Tràng cùng một thị nữ trước đây, bấy giờ đã quy y đến Làng Hổ Sơn, Huyện Thiên Bản (nay thuộc Nam Định), lập am dưới chân Núi Hổ để tu hành. Sau đó, am tranh trở thành điện Phật, tức chùa Nộm Sơn hay còn gọi là Quảng Nghiêm Tự.

Sau khi Công chúa mất, dân chúng quanh vùng thương tiếc, tôn bà là Thần Mẫu và lập đền thờ cạnh chùa Nộm Sơn. Ngày công chúa mất sau này hàng năm trở thành ngày lễ hội đền Huyền Trân trên Núi Ngũ Phong ở Huế.

Các triều đại sau sắc phong công chúa Huyền Trân là thần hộ quốc. Nhà Nguyễn ban chiếu ghi nhận công lao của công chúa Huyền Trân “trong việc giữ nước giúp dân, có nhiều linh ứng”, nâng bậc tăng là “Trai Tĩnh Trung Đẳng Thần”.

Ngày nay, nơi thờ tự Huyền Trân Công chúa lớn nhất Việt Nam là Trung tâm Văn hóa Huyền Trân, nằm dưới chân Núi Ngũ Phong thuộc Phường An Tây, Tp Huế. Trung tâm này là một quần thể kiến trúc hoành tráng nằm trên diện tích rộng đến 28 ha, được khánh thành năm 2007. Đền thờ Huyền Trân Công chúa là công trình trung tâm của quần thể kiến trúc nơi đây.

Den tho Huyen Tran Cong chua
Đền thờ Huyền Trân Công chúa, Huế

Câu chuyện về Huyền Trân Công chúa được truyền tụng trong dân gian, không chỉ vì lý do chính trị mà còn về khía cạnh văn hóa thơ, ca nhạc cũng như nghệ thuật sân khấu – chủ yếu là do câu chuyện một công chúa cành vàng lá ngọc phải lấy một ông vua được xem là có vị thế thấp hơn nước Đại Việt thời ấy. Đó là thái độ kỳ thị chủng tộc. Điều này khiến Huyền Trân trở thành công chúa nổi tiếng nhất trong lịch sử Việt Nam.

Dù sao chăng nữa, cuộc hôn nhân của Huyền Trân Công chúa với Chế Mân đánh dấu thêm một bước trong trình tự Nam tiến của dân tộc Việt. Hai châu Ô, Lý được thể hiện bằng màu vàng trong bản đồ trên. Vùng này ở đâu, thông tin các nguồn không nhất quán.

Người Chàm tức giận vì cho rằng Đại Việt không giữ chữ tín khi đã gả Huyền Trân rồi lại cướp về, nên sau đó bang giao giữa hai nước xấu đi.

Xích mích Chiêm–Việt 1311-1326

Năm 1307 Chế Mân chết, con trai ông 23 tuổi – sử Việt gọi là Chế Chí – lên ngôi. Sau khi lên ngôi, Chế Chí thấy tiếc vì vua cha đã nhượng hai châu Ô, Lý. Biết được Chế Chí có ý đồ lấy lại đất cũ, năm 1311 Vua Trần Anh Tông ra tay trước: đem quân đánh Chiêm Thành. Năm sau, Chế Chí bị bắt, và từ lúc đó Chiêm Thành trở thành một châu của Đại Việt. Các nhà nghiên cứu cho rằng từ việc nhà Trần cướp lại Huyền Trân Công chúa và giam lỏng Chế Chí tới hết đời, Đại Việt và Chiêm Thành kết thù oán mãi đến sau này.

Năm sau nữa, 1313, Chế Chí qua đời. Vua Trần Anh Tông phong con trai của Chế Chí làm á hầu, tức là nhận bổng lộc nhưng không có thực quyền cai trị gì cả.

Cũng trong năm 1313, Chiêm Thành bị Xiêm La xâm chiếm mà Vua Trần xem hành động này là xâm lăng Đại Việt. Vua Trần sai tướng Thiên Hứ dẫn quân đi giúp.

Thế nhưng, nhân lúc Trần Minh Tông (trị vì 1314–1329) vừa lên ngôi kế vị Trần Anh Tông, vào năm 1318 vị vua mới người Chàm là Chế Năng mang quân đi chiếm lại hai châu Ô, Lý. Trần Minh Tông lập tức sai quân chống lại. Phạm Ngũ Lão tung quân đánh. Quân Chàm thua to, Chế Năng bỏ chạy sang Java. Vua Trần đặt một tù trưởng Chàm – sử Việt gọi là Anan – lên ngôi.

Anan cũng ương ngạnh như vua trước, nhiều lần gửi sứ bộ sang nhà Nguyên xin gây áp lực để Đại Việt phải tôn trọng lãnh thổ Chiêm Thành.

Vua Trần Minh Tông tức giận, nên năm 1326 sai quân đi đánh Anan. Lần này quân Việt bại trận, phải rút về. Đại Việt phải để yên cho Chiêm Thành trong vài thập kỷ kế tiếp.

Thời kỳ sau đó xuất hiện vị vua Chiêm Thành kiệt xuất là Chế Bồng Nga (Che Bonguar/ Po Binasor hay Po Bhinethour), trị vì 1360–1390. Ông này dẫn quân cướp bóc nước Việt 12 lần kể cả 3 lần đánh phá kinh đô Thăng Long. Mỗi lần như vậy, vua Trần cùng triều thần chạy trốn ra ngoài một cách nhục nhã, để quân Chiêm Thành tha hồ cướp phá Thăng Long rồi bắt nhiều phụ nữ người Việt dẫn về nước.

Chiến tranh Chiêm–Việt 1367–1368

Năm 1367, Trần Dụ Tông (trị vì 1341–1369) cử quân đi đánh Chiêm Thành. Năm sau, quân Trần tiến vào Chiêm Động (Quảng Nam). Quân Chiêm đặt phục binh, quân Trần rơi vào chỗ phục kích, bị thua trận. Tướng thống soái bị bắt, phó soái chạy thoát, mang tàn quân chạy về nước.

Chiến tranh Chiêm–Việt 1371

Năm 1369, vì mải chơi bời nên sức khỏe kém, Vua Trần Dụ Tông mất mà không có con, đến nỗi truyền ngôi cho Dương Nhật Lễ. Anh này là con nuôi của Trần Nguyên Dục – anh vua Trần Dụ Tông. Năm sau, Dương Nhật Lễ bị thân vương và tông thất nhà Trần hạ bệ và lập con thứ ba của Minh Tông lên ngôi. Mẹ của Nhật Lễ chạy xuống Chiêm Thành nhờ vua Chiêm đem quân lên đánh trả thù cho con.

Thế là năm 1371, Chế Bồng Nga tập trung chiến thuyền vào cửa Đại An (Nam Định) rồi tiến thẳng đến Thăng Long. Quân Trần chống cự không nổi, Vua Trần Nghệ Tông (trị vì 1370–1372) phải đi tránh giặc. Quân Chiêm tha hồ cướp bóc châu báu, đốt phá cung điện, bắt phụ nữ Việt dẫn về nước.

Chiến tranh Chiêm–Việt 1376–1377

Theo Wikipedia_Trận Đồ Bàn 1377, đây là trận đánh mang đến chiến bại tồi tệ nhất trong lịch sử của người Việt, dưới tay Chế Bồng Nga.

Năm 1372, Trần Nghệ Tông truyền ngôi vua cho em là Trần Kính, còn mình lên làm thượng hoàng. Trần Kính trở thành vua Trần Duệ Tông (trị vì 1372–1377). Để trả thù việc Chiêm Thành đánh cướp kinh thành, Trần Duệ Tông ra sức xây dựng quân đội.

Năm 1376, Chế Bồng Nga lại mang quân xâm lấn. Duệ Tông sai Đỗ Tử Bình đi đánh. Chế Bồng Nga xin dâng 10 mâm vàng tạ tội. Nhưng Tử Bình giấu vàng đi, lại tâu về triều rằng vua Chiêm kiêu ngạo không thần phục. Duệ Tông nổi giận, quyết định thân chinh đi đánh. Các quan đại thần can ngăn không nên thân chinh nhưng Duệ Tông không nghe, rước thượng hoàng Nghệ Tông đi duyệt binh ở Sông Bạch Hạc.

Đầu năm 1377, Vua Trần Duệ Tông đem 120.000 quân bộ và thủy đến cửa Thị Nại (Quy Nhơn ngày nay). Quân Chiêm Thành không chống cự. Chủ quan vì đắc thắng, quân nhà Trần kéo lên đánh Thành Đồ Bàn. Chế Bồng Nga lập đồn giữ ngoài thành, rồi cho người đến trá hàng, nói với Trần Duệ Tông rằng Chế Bồng Nga đã bỏ thành trốn. Duệ Tông muốn tiến quân vào thành ngay.

Đại tướng quân Đỗ Lễ nghi ngờ đây là mưu kế của quân Chiêm, liền nói với nhà Vua rằng:

Nó đã chịu hàng, là muốn bảo toàn đất nước làm đầu. Quan quân vào sâu đánh phá thành giặc là việc bất đắc dĩ. Xin hãy sai một biện sĩ cầm mảnh thư đến hỏi tội, để xem tình hình hư thực của giặc, như kế sách của Hàn Tín phá nước Yên ngày trước, không phải khó nhọc mà thành công. Cổ nhân có nói: “Lòng giặc khó lường”. Thần xin bệ hạ hãy xét kỹ lại.

Vua Trần không nghe, nói với quân sĩ rằng:

Ta mình mặc giáp, tay cầm gươm, dãi gió dầm mưa, lội sông, trèo núi, vào sâu trong đất giặc, không một người nào dám chống lại, đó là trời giúp. Huống chi nay vua giặc nghe tiếng bỏ trốn, không có lòng đánh lại. Cổ nhân nói “Dùng binh quý ở thần tốc”. Nay lại dùng dằng không tiến nhanh, thế là trời cho mà không lấy, để nó lại có mưu khác, thì hối không kịp!

Duệ Tông nói xong, rồi truyền lấy áo đàn bà cho Lễ mặc. Duệ Tông thúc quân tiến vào thành, quân lính bèn nối gót nhau mà đi như xâu cá, cánh trước cánh sau cách biệt. Quân Chiêm phục binh tứ phía đổ ra đánh, chia cắt quân Trần ra từng đoạn. Quân Đại Việt thua to, mười phần chết đến 7, 8 phần. Duệ Tông bị hãm trong vòng vây, trúng tên tử trận. Các tướng Đỗ Lễ, Nguyễn Lạp Hòa, Hành khiển Phạm Huyền Linh cũng tử trận.

Duệ Tông là vị hoàng đế duy nhất trong lịch sử nước Việt chết trong một trận chiến. Sau thất bại tồi tệ ở Đồ Bàn, Đại Việt suy nhược còn nhiều lần bị Chiêm Thành dưới quyền Chế Bồng Nga tấn công ra bắc, thậm chí 3 lần tự do cướp phá kinh thành Thăng Long.

Chế Bồng Nga gây khốn Đại Việt 1377–1389

Sau thất bại của đại quân Trần năm 1377, Chế Bồng Nga biết binh lực nhà Trần đã rất suy nhược nên liên tục phát binh Bắc tiến. Quân Trần bị thất thế trước sức tấn công từ phương Nam trong nhiều năm.

Cùng năm 1377, Chế Bồng Nga lại theo đường biển đánh Đại Việt, tiến vào Thăng Long lần thứ hai. Quân Trần không ngăn cản nổi. Quân Chiêm cướp phá kinh thành rồi rút lui qua cửa Đại An, bị gió bão chết đuối rất nhiều.

Năm 1378, Chế Bồng Nga đánh cướp Nghệ An. Quân Việt đánh không lại, bị tan vỡ. Chế Bồng Nga tiến vào Thăng Long lần thứ 3, bắt người cướp của rồi rút về.

Năm 1380, Chế Bồng Nga lại đi cướp phá Nghệ An và tiến lên Thanh Hóa. Thượng hoàng Nghệ Tông sai Lê Quý Ly lĩnh quân thủy và Đỗ Tử Bình dẫn quân bộ ra chống. Lần này, quân Chiêm không đánh được phải rút lui.

Năm 1382, quân Chiêm hai đường tiến đánh bị quân dưới quyền Lê Quý Ly đánh bại, phải bỏ chạy vào rừng núi. Quân Trần vây núi 3 ngày, quân Chiêm nhiều người bị chết đói. Thủy quân Chiêm còn lại bỏ chạy về nước. Quân Trần đuổi theo đánh đến Nghệ An.

Sau hai lần đẩy lui được quân Chiêm, năm 1383, nhà Trần quyết định đi đánh Chiêm. Lê Quý Ly được giao lĩnh quân thủy Nam tiến, nhưng đến Huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh) gặp gió bão, thuyền bị vỡ, toàn quân phải rút về.

Cùng năm 1383, Chế Bồng Nga lại dẫn quân đánh Đại Việt, tiến vào Thăng Long lần thứ 4 và cướp phá một trận nữa.

Năm 1389, Chế Bồng Nga lại đánh lên Thanh Hóa. Nghệ Tông lại sai Lê Quý Ly đi chống cự. Lần này quân Trần thua to, hàng trăm tướng tử trận. Quý Ly để tuỳ tướng ở lại cầm cự với giặc, còn mình thì trốn về Thăng Long. Nội bộ Đại Việt mâu thuẫn đến mức vì nghe lời Quý Ly mà  Nghệ Tông ép một thượng tướng tự vẫn.

Chiến tranh Chiêm–Việt 1390

Năm 1389, Chế Bồng Nga lại dẫn quân lên đánh Đại Việt. Thượng hoàng Nghệ Tông sai Lê Quý Ly cầm quân chống giặc. Lê Quí Ly nghênh địch hơn 20 ngày, kéo hết thuyền lên bờ để đợi. Chế Bồng Nga đóng ở thượng nguồn Sông Lương, cho đắp đập ngăn sông ở phía thượng lưu và đóng cọc dày đặc để chống cự. Sau đó, ông mai phục tượng binh và bộ binh, rồi giả vờ bỏ đi. Lê Quí Ly mắc mưu đem quân truy kích không ngờ bị trúng kế. Chế Bồng Nga hạ lệnh cho phá đập nước, điều voi trận xông ra đánh. Quân Trần bị thiệt hại nặng nề, Lê Quý Ly bỏ trốn về kinh đô. Quân Việt cũng rút về theo. Chế Bồng Nga đuổi theo đến Hoàng Giang. Nghệ Tông sai Trần Khát Chân đem binh chống giữ. Vua tôi nhà Trần ôm nhau khóc mà từ biệt, đủ biết là họ khiếp sợ đến chừng nào. Trần Khát Chân kéo quân đến Hoàng Giang, thấy nơi đây không thể bố trận, mới dẫn quân đóng ở Sông Hải Triều.

Đến tháng 1 năm 1390, Chế Bồng Nga đem hơn 100 chiến thuyền đến thị sát trên Sông Hải Triều. Hoàng đệ là Trần Nguyên Diệu đem quân bản bộ ra hàng vua Chiêm với hy vọng được người Chiêm đưa lên làm vua.

Chế Bồng Nga và Trần Nguyên Diệu dẫn hơn 100 chiến thuyền đến Hải Triều đối đầu với Trần Khát Chân. Các thuyền khác của Chiêm Thành chưa kịp đến hội quân.

Có viên tướng Chiêm là Ba Lậu Kê bị tội với Chế Bồng Nga, sợ bị giết, bèn chạy trốn sang phía quân Trần, đầu hàng Trần Khát Chân, báo cho Trần Khát Chân biết là thuyền ngự của vua Chiêm sơn màu xanh lục. Trần Khát Chân sai các hỏa pháo tập trung chĩa vào chiến thuyền vua Chăm mà bắn. Chế Bồng Nga bị trúng đạn tử trận. Quân Chiêm tan chạy.

Sau cái chết của Chế Bồng Nga, giữa Đại Việt và Chiêm Thành không còn những cuộc chiến quy mô, một phần khác là vì hai bên đã chịu tổn thất nặng nề và không còn có thể tiến hành chiến tranh được nữa.

Chiến tranh Chiêm–Việt 1402-1403

Trong thời gian ở ngôi, Hồ Hán Thương hai lần điều quân đánh Chiêm Thành. Lần đầu năm 1402, quân Đại Ngu thắng lợi, khiến vua Chiêm phải dâng Chiêm Động và Cổ Lũy (Quảng Nam và bắc Quảng Ngãi hiện nay). Nhà Hồ chiếm được đất ấy đặt ra 4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa.

Năm 1403, Hồ Hán Thương lại sai Phạm Nguyên Khôi đi đánh Chiêm. Quân Đại Ngu vây kinh đô Đồ Bàn của Chiêm Thành trong 9 tháng nhưng rốt cuộc bị người Chiêm phản công, đánh cho một trận kịch liệt, lại hết lương nên phải rút về.

Lãnh thổ Đại Ngu dưới thời Hồ Hán Thương được mở rộng về phía Nam (đến bắc Quảng Ngãi hiện nay).

Chiến tranh Chiêm–Việt 1471

Trong suốt chiều dài lịch sử, biên giới Việt–Chiêm hầu như không bao giờ cố định vì chiến tranh liên miên giữa hai nước. Và cứ mỗi lẫn như thế đường biên giới lại thay đổi. Việc này chẳng bao lâu chấm dứt.

Năm 1470, Vua Chiêm Thành là Trà Toàn đem quân ra đánh phá Hóa Châu (ngày nay thuộc Tỉnh Thừa Thiên-Huế).

Năm 1471, Vua Lê Thánh Tông (trị vì 1460-1497) dẫn một đoàn lục, thủy quân hùng mạnh sang đánh Chiêm Thành, hạ thành Đồ Bàn, giết 60.000 người, bắt hơn 30.000 tù nhân. Quốc vương Trà Toàn cũng bị bắt giải về đất Việt rồi chết giữa đường. Lê Thánh Tông ra lệnh phá hủy Thành Đồ Bàn.

Sự kiện này chấm dứt sự tồn tại của quốc đô Vijaya. Chiêm Thành mất miền bắc vào Đại Việt và lui về vùng phía nam đèo Cù Mông.

Sau khi đánh chiếm Thành Đồ Bàn, Vua Lê Thánh Tông sáp nhập vùng đất mới chiếm vào Đạo Thừa tuyên Quảng Nam gồm có ba phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn tức Tỉnh Bình Định ngày nay. (Vào thời này Đại Việt được chia thành 1 phủ và 12 đạo thừa tuyên). Phủ Hoài Nhơn có 3 huyện: Phù Ly, Bồng Sơn và Tuy Viễn. Thành Đồ Bàn thuộc Huyện Tuy Viễn, được dùng làm phủ lỵ và gọi là Thành Hoài Nhơn. Từ đó, người Việt bắt đầu tiến dần vào lập làng sinh sống ở Phủ Hoài Nhơn từ đèo Cù Mông trở ra, từ đèo Cù Mông trở vào mốc giới Đá Bia là “vùng đệm” cho phần đất biên ải phía Nam, mặc dù trên danh nghĩa là đất của Đại Việt nhưng vẫn để cho người Chàm và các dân tộc khác ở.

Phủ Hoài Nhơn là vùng đất trấn biên của Đại Việt trong giai đoạn 1471–1601, có diện tích khá lớn bao gồm 5 tỉnh duyên hải và cao nguyên ngày nay: Bình Định, Phú Yên, Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc. Trong thời kỳ đầu chưa có người Việt đến định cư sinh sống ở Phủ Hoài Nhơn, chủ yếu vẫn là dân  bản địa (người Chàm) một số lớn đã di chuyển về phía nam, một số khác vẫn tiếp tục ở lại làm ăn sinh sống. Có lẽ vì thế mà có ít thông tin về Thành Hoài Nhơn.

Năm 1602, chúa Nguyễn Hoàng đổi Phủ Hoài Nhơn thành Phủ Quy Nhơn, đặt hai chức Tuần phủ và Khám lý. Tên gọi Quy Nhơn ra đời từ đó.

Biến động lịch sử quanh Thành Hoàng Đế

Lịch sử liên quan đến Thành Hoàng Đế

Sau khi đứng vững ở căn cứ, năm 1773 Nguyễn Nhạc quyết định đánh Thành Quy Nhơn tức Thành Đồ Bàn cũ. Quy Nhơn là trung tâm của khu vực Nam Trung bộ, nếu làm chủ Quy Nhơn có thể làm chủ cả khu vực này.

Để đánh chiếm thành, Nguyễn Nhạc vận dụng mưu kế táo bạo. Ông tự ngồi vào cũi cho quân lính khiêng tới Thành Quy Nhơn nộp cho tướng giữ thành là Nguyễn Khắc Tuyên, giả làm quân lính phản Tây Sơn, bắt tướng “giặc” về hàng với Chúa Nguyễn. Khắc Tuyên tin là thật nên cho quân áp giải Nguyễn Nhạc vào. Nửa đêm, quân Tây Sơn trá hàng mở cũi cho Nguyễn Nhạc. Ông cùng binh lính nổi dậy phối hợp với quân ngoại viện từ ngoài ùa vào đánh chiếm thành Quy Nhơn. Nguyễn Khắc Tuyên vội bỏ cả gia đình và ấn tín chạy trốn. Nhạc bèn chiếm giữ lấy thành, thả tù ra, chiêu nạp dân làm binh, dựng cờ hiệu Tây Sơn.

Từ Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc tiến ra đánh chiếm Quảng Ngãi. Sau đó ông đem quân vào đánh Phú Yên. Đến cuối năm 1773, quân Tây Sơn thắng như chẻ tre, nhanh chóng chiếm được Phú Yên, Diên Khánh, Bình Khang, Bình Thuận. Quân Nguyễn phải rút vào Nam bộ. Quân Tây Sơn làm chủ vùng đất Quảng kể cả phủ thành Quy Nhơn (nay thuộc phường Nhơn Thành, Thị xã An Nhơn),

Khi Nguyễn Nhạc xưng Vương, sau nhiều cân nhắc, ông không chọn Phủ thành Quy Nhơn vừa chiếm được mà lại chọn Đồ Bàn – một tòa thành hoang phế hơn 300 năm – để làm đại bản doanh cho phong trào khởi nghĩa Tây Sơn. Một trong những yếu tố quan trọng khiến cả hai vương triều cùng chọn nơi này định đô, đó là địa thế phòng thủ thiên nhiên kiên cố.

Suốt giai đoạn 1778–1788, Thành Hoàng Đế giữ vai trò là kinh đô của vương triều Tây Sơn đồng thời là trung tâm đầu não của phong trào nông dân Tây Sơn. Năm 1786, Nguyễn Huệ dẫn quân ra Thăng Long, sát nhập vùng đất phía bắc vào phạm vi quản lý của nhà Tây Sơn. Nguyễn Nhạc phân phong các vùng đất cho hai em trai: Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ quản lý vùng đất từ Thuận Hóa ra bắc; Đông Định Vương Nguyễn Lữ quản lý từ vùng đất từ Ninh Thuận vào nam. Như vậy, trên thực tế guồng máy cai trị được chia làm ba vùng. Trung Ương Hoàng Đế chỉ còn quản lỷ vùng đất giữa miền trung. Ở vùng đất phía nam, Nguyễn Lữ phải đối phó với tàn quân của chúa Nguyễn, mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng quân đội Tây Sơn vẫn phải rút lui từng bước, vùng đất Nam Nộ rơi vào tay Nguyễn Ánh, Nguyễn Lữ phải rút quân về Thành Hoàng Đế.

Trong khi đó ở miền Bắc, Nguyễn Huệ với sự giúp đõ của nhiều tướng lĩnh tài ba được ổn định trong một khoảng thời gian. Tuy nhiên Lê Chiêu Thống lại phản bội rước quân Thanh sang nước Việt. Trước tình hình đó, năm 1788 tại Phú Xuân Nguyễn Huệ làm lễ lên ngôi Hoàng đế, niên hiệu là Quang Trung, Phú Xuân trở thành kinh đô của vương triều do Quang Trung lập nên. Như vậy lúc này nước Việt có hai kinh đô: thành Hoàng Đế của vua Thái Đức và Phú Xuân của vua Quang Trung.

Sau khi Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế và đặt kinh đô tại Phú Xuân, kinh đô Hoàng Đế chỉ còn trên danh nghĩa, lại trở thành một tòa thành mang tính chất phòng ngự trấn giữ Phủ Quy Nhơn. Vì thế, một số tài liệu ghi Thành Hoàng Đế là Thành Quy Nhơn.

Năm sau, Nguyễn Nhạc từ bỏ đế hiệu, thay đổi tước hiệu của mình xuống thành Tây Sơn vương. Cái tên Thành Hoàng Đế không còn hiện diện trong lịch sử.

Cấu trúc Thành Hoàng Đế

Về chu vi Thành Hoàng Đế, các nguồn không nhất quán:

  • Wikipedia_Thành Hoàng Đế: vòng ngoài là Thành Ngoại có chu vi khoảng 7 km.
  • Nguyễn Thanh Quang (2014a) nêu rõ “Thành Hoàng Đế có quy mô lớn nhất trong hệ thống thành cổ Việt Nam còn đến nay” nhưng lại ghi chu vi chỉ có 7.575 m.
  • Trần Thị Huyền Trang (2003): 25 dặm tức 12,5 km.

Nguyễn Văn Hiển (1860) viết sau thời Tây Sơn không lâu có chép:

Đến đời nhà Lê năm 1776, tức Tây Sơn–Nguyễn Nhạc năm thứ 4, mở rộng tường đông tới 15 dặm, tường thành được đắp cao rồi xây bằng đá ong, bề cao tới 1 trượng 4 thước [5,6 m], bề dày 2 trượng [8 m], mở thêm 1 cửa thành ra 5 cửa; riêng phía trước có 2 cửa, bên tả là cửa Tân Khai, bên hữu là cửa Vệ Môn, tức là cửa Nam xưa của Chiêm Thành mà ông Nhạc vẫn để như cũ, sau vì xét thấy cửa tả hơi lệch phía hữu, vả lại ở phía trước mặt cung thất không tiện cho sự vận chuyển, bèn mở thêm 1 cửa ở phía tả gọi là Khai Môn, còn cửa bên hữu vẫn để nguyên…, phía tây-nam có Đàn Nam Giao tế trời đất; trong thành xây Thành Con. … Sau Điện Bát giác có nhà chính để vua ở, nghỉ ngơi. Trước điện làm Lầu Bát giác. Hai bên Lầu Bát giác lập hai nhà từ đường (thờ tổ phụ Ông Nhạc). Trước Lầu Bát giác là Cung Quyền Bồng, hai bên Cung Quyền Bồng có hai giải hành lang làm nơi các quan chầu triều.

Theo Chapman, một thương gia người Anh khi đến thăm Nguyễn Nhạc vào giữa năm 1778 viết: “Tường thành phía đông dài nửa dặm, không thấy có đại bác, lỗ châu mai, tháp canh gì cả. Cũng không thấy có lính canh ở cổng và trên tường thành” (Nguyễn Thanh Quang, 2013a).

Theo Trần Thị Huyền Trang (2003), trích dẫn ghi chép về thành Chà Bàn của Tổng đốc Bình Phú quan phòng Phan Huy Dũng và Trần Tiến Hối triều Thành Thái, tài liệu lưu trữ ở phòng nghiên cứu, Thư viện Bình Định:

Thành sửa đắp mở rộng về phía đông, dáng thẳng đứng, tường thành được xây bằng đá ong, cao 1 trượng 4 thước [4,15 m], dày 2 trượng [8 m]. Thành có 5 cửa (ngoài 4 cửa cũ, mở thêm cửa Tân Khai). Nay chỗ Quán Dốc trên đường quan lộ tức là tả môn của thành đi ra hướng bắc, xế về phía tây đến cầu Thập Tháp, nơi đó là một di chỉ của thành Chà Bàn xưa. Các phía đông-nam, đông-bắc, tây-bắc đều có những gò đất, có lẽ được đắp lên khi thành bị vây. Phía tây thành đắp Thành Nội và Thành Con (Cấm Thành). Phía trong thành còn dựng Điện Bát giác. Trước lầu dựng Cung Quyển Bồng…

Trần Thị Huyền Trang (2003) o sánh giữa hai thành như sau:

Do Ban & Hoang De_so sanh (Tran Thi Huyen Trang 2003) )

Có vẻ như chu vi của hai thành lớn gấp nhiều lần so với một số nguồn khác

Bảng so sánh trên cho thấy rằng Thành Đồ Bàn tuy có trước nhưng đã bị tiêu hủy gần hết, và địa phận của nó chỉ là một phần thuộc về địa phận của Thành Hoàng Đế. Những di tích về thành quách còn lại là di tích của Thành Hoàng Đế. Còn Thành Đồ Bàn chỉ lưu lại một số di vật của nền văn hóa Chiêm Thành cổ gồm các tượng đá, các ngôi tháp… mà những người xây dựng Thành Hoàng Đế sử dụng để trang trí cho thêm phần đẹp đẽ uy nghiêm mà thôi.

Năm 1778, tại tòa thành này Nguyễn Nhạc chính thức đăng cơ ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Thái Đức. Từ đây, thành mới mang tên Thành Hoàng Đế, trở thành kinh đô chính thức của chính quyền Trung ương Hoàng đế Thái Đức Nguyễn Nhạc.

Một số nguồn cho thông tin nhất quán (nhưng không loại trừ nguồn này trích nguồn kia) cho biết chu vi của Thành Ngoại, Thành Trong và Thành Con lần lượt là 7,5, 1,6 và 0,8 km (312 x 126 m).

Vietnamtourism (no date) miêu tả ba vòng thành như sau:

  • Thành Ngoại hình chữ nhật nhưng các cạnh không thẳng mà uốn lượn. Hiện nay, quốc lộ 1A chạy qua góc đông-bắc của Thành Ngoại, còn đường xe lửa cắt qua góc tây-bắc và cạnh nam của thành. Chân tường có chiều rộng hơn 10 m, tường cao trên 6 m và mặt tường rộng tới trên 4 m. Thành Ngoại mở 5 cửa, trong đó cạnh nam mở hai cửa là cửa Vệ và cửa Tân Khai; ba cạnh đông, tây, bắc mở ba cửa Đông, Tây và Bắc. Tường được đắp bằng đất, phía trong và ngoài bó đá ong. Hiện giờ, di tích bờ Thành Ngoại có tổng diện tích khu vực bảo vệ hơn 38 hecta, trong đó gồm bờ đông, bờ tây, bờ nam, bờ bắc và đê Sông La Vĩ.
  • Thành Nội còn được gọi là Hoàng Thành, được xây chếch về hướng tây-nam của Thành Ngoại. Thành Nội cũng hình chữ nhật được đắp bằng đất, bên ngoài và bên trong bó bằng đá ong, chân tường rộng 7-9 m. Thành Nội mở ba cửa, riêng Cửa Tiền hay cửa Nam ở chính giữa cạnh nam nhìn thẳng ra cửa Vệ của Thành Ngoại.
  • Thành Con bên trong Thành Nội, cũng có hình chữ nhật. Tường cao 1,8 m, riêng góc đông-nam cao đến trên 3 m, mặt tường rộng khoảng 1,5 m. Khi xưa thành có 4 cửa ở 4 hướng, trong đó cửa hướng nam là cửa chính. Trong Thành Con, chính giữa dựng Ðiện Bát Giác là nơi Hoàng đế Thái Đức thiết triều. Trước Ðiện Bát Giác có một nền đất hình chữ nhật rộng 13,7m, dài 18,3m, nhân dân vẫn gọi là nền Chính Cung. Trên nền này dựng Điện Chính Tẩm. Hai bên dựng hai Từ đường, một thờ cha mẹ ruột, một thờ cha mẹ vợ của nhà vua. Trước Lầu Bát giác có Cung Quyển Bồng, hai bên chái làm nơi thị sự. Ngay trước mặt Cung Quyển Bồng và liền với mặt nam Tử thành, có cửa Tam quan gọi là Quyển Bồng Môn, ngày xưa có xây lầu nên cũng được gọi là Nam Môn Lâu. Trong thành và ngoài thành bày trí những tượng đá, nào voi, nào nghê, nào nhạc công, nào vũ nữ, là những di vật của người Chiêm Thành.

Ghi chú: có nguồn ghi Thành Con (theo nghĩa chữ Hán-Việt “tử” là con) là Tử cấm thành (theo nghĩa “tử” là màu tím).

Chu vi của Thành Con thuộc Thành Hoàng Đế trên bản đồ vệ tinh được vẽ lại dưới đây trong sự tương quan với Thành Đồ Bàn (tungvk1781, 2011). Kết quả khai quật cho thấy Thành Con có chu vi đo được hơn 800 m. Sau khi trùng tu, Thành Con chỉ mở một cửa tam quan phía nam.

 

Thanh Hoang De_ban do ve tinh (tungvk1781, 2011)
Bản đồ Thành Con của Thành Hoàng Đế trong chu vi Thành Đồ Bàn (tungvk1781, 2011)

Ngoài các vòng tường kiên cố, Thành Hoàng Đế còn được phòng vệ bằng một hệ thống sông ngòi, núi, đồi, gò tự nhiên và nhân tạo bao bọc xung quanh. Sông Đập Đá (một nhánh của Sông Côn) tách ra ở Thiết Trụ (Xã Nhơn Mỹ) rồi hợp lại ở Lý Tây (Xã Nhơn Thành) bao bọc Thành Hoàng Đế như một con hào tự nhiên, đồng thời là con đường thủy thuận lợi. Phía tây-bắc thành còn dấu vết một bến thuyền xưa ở khu vực Bến Gỗ. Từ đó thuyền có thể theo đường Sông Quai Vạc trở lại sông Kôn rồi ngược lên Thượng Đạo hoặc xuôi theo Sông Đập Đá, Sông Đại An về phía đông ra cửa Thị Nại cách Thành Hoàng Đế khoảng 20 km theo đường chim bay. Cùng với tuyến sông và hào, các gò núi quanh thành cũng đóng vai trò không nhỏ trong hệ thống phòng thủ. Phía nam thành có gò Vân Sơn, gò Tập, nơi trước đây dùng để luyện tập quân sĩ. Xa hơn gò Tập một chút là Núi Long Cốt án ngữ phía trước cửa thành.

Ghi chú: Vì xem nhà Tây Sơn là “ngụy” nên chính sử nhà Nguyễn không bao giờ ghi tên Thành Hoàng Đế, mà ghi là Thành Quy Nhơn, dễ gây ngộ nhận với một Thành Quy Nhơn khác. Trong khoảng thời gian đầu, trụ sở phủ thành Quy Nhơn là thành cũ Đồ Bàn tức là Thành Hoàng Đế về sau. Đến năm 1744, phủ thành Quy Nhơn được dời ra bên ngoài, cách Thành Đồ Bàn khoảng 1 km về phía bắc thuộc Xã Nhơn Thành, Thị xã An Nhơn ngày nay. Lúc này, Thành Hoàng Đế và Thành Quy Nhơn khác biệt nhau. Sau khi Nguyễn Nhạc đánh Thành Quy Nhơn, cho tu sửa Thành Đồ Bàn để làm quốc đô là Thành Hoàng Đế, ông phế bỏ Thành Quy Nhơn.

Thành Bình Định cũ

Năm 1792 đánh dấu bắt đầu sự tụt dốc của triều đại Tây Sơn, và Thành Hoàng Đế là nơi xảy ra những trận chiến quyết liệt nhất giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh trong việc chiếm lấy Phủ Quy Nhơn.

Theo Bùi Phong Khê (1988), sau khi Nguyễn Ánh nhờ ngoại nhân giúp sức lấy lại được đất Gia Định rồi thì Phủ Quy Nhơn cũng như các nơi khác ở Bắc, Nam trở thành bãi chiến trường. Năm 1792, Nguyễn Phúc Ánh sai Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Trương cùng hai tướng Pháp là Dayot và Vanier (tục gọi là Nguyễn Văn Phấn và Nguyễn Văn Chấn) đem chiến thuyền từ cửa Cần Giờ ra đánh Phủ Quy Nhơn. Thủy quân của Nguyễn Phúc Ánh đến Thị Nại bị quân Tây Sơn đánh lui.

Năm sau, 1793, Nguyễn Ánh thân chinh, điều động thủy binh, bộ binh tiến quân một lượt. Nguyễn Nhạc chống không nổi, rút quân vào Thành Hoàng Đế xưa cố thủ. Quân Nguyễn bao vây, công kích. Vua Thái Ðức sai tướng mở đường máu chạy ra Phú Xuân cầu cứu. Lúc bấy giờ vua Quang Trung đã mất, vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản sai Phạm Công Hưng, Nguyễn Văn Huấn, Lê Trung và Ngô Văn Sở điều 17.000 quân binh cùng 80 chiến tượng đi đường bộ và 30 chiến thuyền đi đường biển vào cứu Quy Nhơn.

Nguyễn Ánh thấy khí thế viện binh hùng hậu, liệu không chống nổi bèn rút khỏi Quy Nhơn. Không đánh mà thắng, Phạm Công Hưng cùng các tướng kéo quân vào Thành Quy Nhơn, chiếm giữ thành trì và tịch biên tất cả kho tàng. Nguyễn Nhạc thấy vậy, tức giận thổ huyết mà thác bởi vì cháu cướp sự nghiệp của bác.

Ðược tin, Vua Cảnh Thịnh phong cho con Nguyễn Nhạc là Nguyễn Bảo làm Hiến công, ăn lộc một huyện, gọi là Tiểu Triều, và để Lê Trung cùng Nguyễn Văn Huấn ở lại giữ thành. Từ đó, tức năm 1793, Quy Nhơn không còn là kinh đô nữa. Và cũng từ đó, khí thế nhà Tây Sơn mỗi ngày một suy yếu, nhân dân địa phương bị khốn khổ vì giặc giã và nạn tham quan ô lại. Nội bộ Tây Sơn lại lục đục, phân hóa, giết hại lẫn nhau…

Dò biết được tình thế, năm 1797 Nguyễn Ánh cùng Hoàng tử Cảnh kéo binh thuyền ra đánh Quy Nhơn. Tướng Tây Sơn biết tin, phòng bị trước, Nguyễn Ánh liệu đánh không lợi nên rút quân về Gia Định đợi thời cơ.

Qua năm 1799, khoảng cuối xuân đầu hạ, Nguyễn Ánh lại cử binh ra đánh Quy Nhơn. Bị đánh cả hai mặt thủy–bộ, quân Tây Sơn bị thiệt hại phải rút quân vào thành cố thủ. Phú Xuân hay tin cho binh vào cứu, song viện binh bị quân nhà Nguyễn chận đánh ở Quảng Ngãi, không đến Quy Nhơn được. Vì lương thảo cạn, tướng giữ thành Quy Nhơn là Lê Văn Thanh liệu không chống giữ nổi, phải mở cửa thành đầu hàng. Nguyễn Ánh dẫn quân vào thành. Bọn Lê Văn Thanh cùng tướng tốt 1 vạn 3 trăm người đều tự trói cổ lạy phục (Đại Nam thực lục).

Nguyễn Ánh tuyên chỉ phủ dụ nhân dân rồi đổi tên Quy Nhơn ra Bình Định năm 1799, và địa danh Bình Định có từ thời này. Xong xuôi, Nguyễn Ánh rút quân về Gia Định, để Phò mã Chưởng Hậu quân Võ Tánh và Lễ bộ Thượng thư Ngô Tùng Châu ở lại trấn thủ Thành Bình Định.

Như vậy Thành Bình Định, trước được gọi Thành Quy Nhơn, trước nữa là Thành Hoàng Đế, bị lâm cảnh loạn lạc trải gần ba mươi năm, đến thời Nguyễn Ánh được giao cho hai nhân vật quan trọng trấn giữ, chứng tỏ vị thế đặc biệt về chính trị và quân sự thời bấy giờ.

Mùa đông năm 1799, bước sang năm 1800, sau khi dẹp hết bọn nịnh thần trong triều, Trần Quang Diệu quyết định cùng Vũ Văn Dũng tiến quân lấy lại thành Bình Định. Quân chia làm thủy bộ, Trần Quang Diệu chỉ huy quân bộ 5 vạn, Vũ Văn Dũng chỉ huy thủy quân 2,4 vạn đôn đốc thủy quân phòng giữ cửa Thị Nại. Trận chiến này kéo dài ròng rã 14 tháng trời. Tây Sơn quyết đoạt thành cho bằng được vì nơi này là đất tổ của họ. Quân Võ Tánh bị vây hãm trong thành đến sức cùng lực kiệt.

Nghe tin Thành Bình Định bị khốn, Nguyễn Ánh thống suất đại binh ra cứu viện, nhưng thành bị bao vây cẩn mật không giải cứu nổi.

Biết không thể giữ nổi thành, Võ Tánh sai người lén đem mật thư ra cho Nguyễn Ánh, đại ý: “Quân tinh nhuệ của Tây Sơn dồn cả vào Bình Định. Xin đừng lo việc giải vây vội, hãy kéo ra đánh lấy Phú Xuân mà đòi lại đất tổ của ngài “. Nguyễn Ánh suy nghĩ hồi lâu, rồi ra lệnh cho quân sĩ lên thuyền trực chỉ Huế. Nguyễn Ánh hướng về Quy Nhơn vái tạ lần cuối cùng rồi lên đường. Và năm 1801 ông đánh lấy được Phú Xuân.

Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng nghe tin Phú Xuân bị tấn công, liền sai tướng đem quân ra cứu. Quân ra tới Quảng Nam thì bị chận đường phải trở lui. Trần Quang Diệu nổi giận đốc quân đánh Thành Bình Định luôn ngày luôn đêm đến mức quân thủ thành đều kiệt lực, cung tên, đạn dược đều cạn.

Võ Tánh cho người trao cho Trần Quang Diệu một bức thư xin tha chết cho quân sĩ trong thành.

Theo Đại Nam thực lục, Thành Bình Định cạn lương thực, quân trong thành phải giết voi ngựa để ăn. Có người khuyên Tánh phá vòng vây mà ra. Tánh không nghe, nói rằng: “Ta vâng mệnh giữ thành, phải cùng còn mất với thành, nay bỏ thành mà cầu lấy sống thì còn mặt mũi nào nhìn thấy chúa thượng nữa!” Võ Tánh sai quân lấy củi khô chất quanh dưới lầu bát giác. Một buổi sớm Ngô Tòng Chu đến hỏi kế thì Tánh trỏ vào Lầu Bát giác mà nói rằng: “Đây là kế của tôi !” Nhân bảo Tòng Chu rằng: “Tôi làm chủ tướng, nghĩa không thể cùng sống với giặc. Ông là văn thần, quân địch tất không hại đâu, nên tính cách tự toàn”. Tòng Chu cười, nói rằng: “Cứ gì văn hay võ, lòng trung cũng là một thôi. Tướng quân biết chết theo nạn nước, Chu này không biết làm tôi chết với trung sao?” Thế rồi Chu trở về mặc mũ áo, hướng về cửa khuyết bái vọng rồi uống thuốc độc mà chết.

Tánh ngậm ngùi than rằng: “Ngô quân đã hơn ta một nước rồi!” Tức thì tới thăm và khâm liệm tống táng. Xong rồi kíp gửi thư cho Trần Quang Diệu, nói: “Tướng quân nghĩa phải chết là việc của ta, quân sĩ không có tội gì, không nên giết hại”. Bèn lấy thuốc súng bỏ vào Lầu Bát giác, mặc triều phục lên trên lầu, gọi các tướng bảo rằng: “Ta từ khi phụng mệnh giữ thành này, giặc Tây Sơn đem lực lượng cả nước vây đánh bốn mặt, đã hai năm nay, thực nhờ tướng sĩ đồng tâm nên giữ vững được thành mà chống giặc. Nay lương hết sức kiệt, giữ không thể được nữa mà đánh cũng vô ích, nên ta chết, kẻo để tướng sĩ khổ mãi”. Các tướng và quân lính đều rạp xuống đất kêu khóc. Võ Tánh hướng về Bắc lạy rồi truyền châm lửa, quân lính không nỡ ra tay. Võ Tánh đòi hút thuốc, ông hít một hơi dài rồi quăng điếu thuốc xuống, lửa bùng lên cháy cả trong lẫn ngoài. Lầu bát giác hóa thành khối lửa cháy hừng hực. Tiếng khóc vang thành khi vị tướng để lại người vợ trẻ đẹp là Công chúa Ngọc Du, em gái của Nguyễn Ánh.

Nguyễn Văn Hiển (1860) còn kể rằng lúc Võ Tánh sắp tự thiêu thì có một người vợ thứ và một người hầu xin chết theo. Ông không bằng lòng. Cả hai bèn tự trói mình vào cây cột ở bên điện, rồi khi lửa bén đến hai người cũng bị cháy thành than. Ngoài ra còn có một viên quan binh tùy tùng cũng chết theo. Ba người được chôn cất trong thành bên cạnh mộ hai trung thần (Đặng Châu Long, 2015). Hôm ấy là ngày 27 tháng 5 năm Tân Dậu (ngày 7/7/1801 DL).

Đại Nam thực lục xác nhận: “Trần Quang Diệu dẫn quân vào thành, trông thấy, chảy nước mắt, lấy lễ mà chôn cất. Tướng sĩ trong thành, không giết hại ai cả”. Nhiều người trong đội bại binh nhà Nguyễn ở lại Bình Định để xây dựng cuộc sống mới.

Mộ Võ Tánh và Ngô Tùng Châu được vua Gia Long cho xây dựng lại ngay chính tại vị trí mà Trần Quang Diệu chôn cất khi xưa (Trần Hưng, 2020).

Sau khi Nguyễn Ánh chiến thắng trong cuộc chiến với nhà Tây Sơn, ông ta cho thi hành việc trả thù đối với các thân thuộc và quan văn võ nhà Tây Sơn một cách tàn khốc mà sử sách ghi chép chi tiết từng vụ việc. Nữ tướng Bùi Thị Xuân (vợ Trần Quang Diệu) chiến đấu một cách anh dũng trong khi quân Tây Sơn dưới quyền đã nao núng nên bị phân thây. Người ta vẫn nghĩ Trần Quang Diệu do có lòng độ lượng tha chết cho nhiều binh lính nhà Nguyễn thì được nhà Nguyễn tha chết. Nhưng không, ông chỉ nhận “đặc ân” là không bị phân thây, mà vẫn phải chịu cái chết. Tội của ông chỉ là từ chối lời chiêu hàng của Nguyễn Ánh, khi ông trả lời (Wikipedia_Trần Quang Diệu):

Trung thần không thờ hai vua, nay tôi bị bắt thì chỉ có tội chết. Nếu nhà vua mới rộng lượng tha cho, như trước đây tôi đã tha cho các tướng ở Quy Nhơn, thì tôi sẽ về ở nơi thôn dã, cày ruộng, nộp thuế như người thường dân, chứ nhận chức quan của triều đại mới thì không phải là trượng phu.

Xưng là hoàng đế nhưng Nguyễn Ánh lại quá nhỏ nhen đối với vị tướng Trần Quang Diệu phục vụ đến cùng nhà Tây Sơn vốn đã quá suy yếu và chia rẽ trong nội bộ, không còn là mối đe dọa với triều Nguyễn.

Tuong tho Thai pho Tran Quang Dieu trong Dien tho Tay Son Tam Kiet Binh Dinh (Wikipedia)
Tượng thờ Trần Quang Diệu trong Điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt, Bình Định (Ảnh: Wikipedia)

Năm 1802, triều đại Tây Sơn chính thức sụp đổ, Thành Quy Nhơn (tức Thành Hoàng Đế cũ) chính thức trở thành lỵ sở của Trấn Bình Định. Đại Nam nhất thống chí gọi đây là “Thành tỉnh Bình Định”, và miêu tả “chu vi 603 trượng 8 thước [2415 m], cao 1 trượng 3 thước [4,12 m], mở 3 cửa, hào rộng 7 trượng [28 m], sâu 6 thước 8 tấc [2,7 m]”.

Ghi chú: đừng nhầm với Thành Bình Định mới. Đến năm 1814, lỵ sở của Trấn Bình Định được dời vào vị trí cách Thành Hoàng Đế khoảng 6 km về hướng đông-nam, và Thành Bình Định mới được xây tại đây (ở trung tâm Phường Bình Định, Thị xã An Nhơn hiện nay). Đại Nam nhất thống chí ghi năm 1816 đắp thành bằng đất, năm 1818 xây bằng đá ong. Thành tồn tại 132 năm, suốt 13 đời vua Nguyễn. Năm 1946, Việt Minh phá hủy hoàn toàn Thành Bình Định mới theo chủ trương tiêu thổ kháng chiến. Hiện nay chỉ còn biểu tượng của ngôi nhà đón khách còn sót lại và cổng thành phía đông (cửa đông) được xây dựng lại, bên trên có tầng lầu.

Thanh Binh Dinh moi_cua Dong (Wikimapia)
Cửa Đông Thành Bình Định mới (Ảnh: Wikimapia)

Cửa thành như thế chỉ là để trang trí cảnh quan đô thị. Một cửa thành đúng nghĩa phải có lối lên xuống, có kiến trúc hợp lý như bờ tường có lỗ châu mai, có vị trí đặt đại bác… cho mục đích bảo vệ thành.

Nguyễn Thanh Quang (2014b) tường thuật những sự kiện kế tiếp như sau.

Năm Bảo Đại thứ 13 (1938), sau khi trùng tu khu lăng mộ Võ Tánh, Phó bảng Biểu Xuyên Đào Phan Duân viết một bài ký để ghi lại sự kiện này. Bài ký có đoạn:

… Ôi! Ai người chẳng chết! Chết mà có ích cho nước nhà, có lợi cho phong hóa tức là chẳng chết… Nay việc trùng tu đã xong, rửa tay đốt hương, kính cẩn viết những nét đại cương, ngụ ý bày tỏ lòng kính ngưỡng bậc có công đức vĩ đại như núi cao đường lớn…

Năm 1947, Đền Chiêu Trung bị tháo dỡ cùng lúc với Thành Bình Định bởi kế hoạch “Tiêu thổ kháng chiến”. Buổi lễ cuối cùng được tổ chức tại Đền Chiêu Trung thật cảm động. Khi chính quyền kháng chiến thông báo cho cụ Phó bảng Biểu Xuyên Đào Phan Duân biết chủ trương tiêu thổ, cụ liền triệu tập thân hào nhân sĩ trong tỉnh về để dự lễ cáo miếu. Tại chánh điện, sau ba hồi chuông trống, cụ Biểu Xuyên dâng hương lên bàn thờ Song Trung, xin phép Song Trung được phá miếu để chống Pháp. Cáo xong, cụ đi trước bưng bát hương đang cháy, Tú tài Trần Trọng Giải bưng thần vị Võ Công, Tú tài Thái Lập Kính bưng thần vị Ngô công, cả ba người đều khăn áo chỉnh tề, vẻ mặt nghiêm trang mà nước mắt ràn rụa, họ bước chậm từ cửa miếu theo dải hành lang hẹp ra Lầu Bát Giác. Tại đây, sau bia kỷ công, người ta đã thiết một bàn thờ, hai ông Tú bưng hai thần vị vào đặt chính giữa án, cụ Biểu Xuyên đặt bát hương lên bàn thờ rồi làm lễ an thần vị. Hai ông Tú vào lạy tạ rồi lui ra. Đến lượt hai ông Huỳnh Yến và Phạm Phú Tiết, hai quan đầu tỉnh Bình Định vừa mới bàn giao ấn tín cho chính quyền cách mạng, vào làm lễ. Sau đó, đến lượt thân hào nhân sĩ. Họ vừa lạy, vừa khóc.

Tất cả thân hào nhân sĩ lễ xong thì ra về, không ai ở lại vì không đủ can đảm nhìn cảnh thanh niên cầm búa, xà beng phá dỡ đền. Vẫn biết, vì đại nghĩa cần phải hy sinh, nhưng chạm tới lòng tôn kính danh nhân, phá hủy nơi mà họ vừa chung công góp của trùng tu mới được 9 năm, họ không buồn sao được!

Đền Chiêu Trung bị tháo dỡ, nhưng mộ Hậu quân, cổng Tam quan, thành đá ong bao bọc vẫn còn, nhân dân Bình Định vẫn thường xuyên hương khói và tế lễ.

Năm 1968, chính quyền Sài Gòn cho tu sửa các hạng mục hiện còn.

Năm 2004, Bảo tàng Bình Định tu bổ cổng Tam quan, phục hồi liễn chữ Hán ở các trụ biểu.

Năm 2012, Ban Quản lý Di tích Tỉnh Bình Định trùng tu các hạng mục của Lăng mộ Võ Tánh và thành đá ong bao quanh lăng.

Những di tích liên quan đến Thành Đồ Bàn

Di tích trong di tích

Như trên đã ghi, cùng một mặt bằng có Thành Đồ Bàn, kế tiếp là Thành Hoàng Đế và Lăng Võ Tánh. Hiếm có kinh đô nào lại được xây dựng, bị hủy hoại, rồi được tu sửa, phục hồi hoặc xây dựng lấp lên trên nhiều lần như Đồ Bàn. Trải qua bao cuộc biển dâu, việc bóc tách để phân biệt đâu là thành của người Chiêm, đâu là của nhà Tây Sơn và đâu là của nhà Nguyễn là việc không đơn giản, do đó tồn nghi nối tiếp tồn nghi (Nguyễn Thanh Quang, 2012). Vì thế, tên gọi di tích có thể lẫn lộn. Ví dụ như gọi di tích tường thành của Thành Hoàng Đế hoặc của Thành Đồ Bàn đều đúng, bởi vì những tảng đá ong đó có thể được dùng để xây tường Thành Đồ Bàn, hoặc từ Thành Đồ Bàn được dùng lại để xây tường Thành Hoàng Đế. Dĩ nhiên là có những đoạn tường thành được phục dựng về sau nên không thuộc thành nào cả.

Xác định vị trí di tích Thành Đồ Bàn có thể gặp khó khăn. Ví dụ như tài liệu xưa ghi Đồ Bàn dựa vào Núi Long Cốt để chắn giữ mặt tiền, nhưng Lê Vinh (2003) cho biết dãy Long Cốt chạy theo hướng đông-tây, các hòn về phía tây nhỏ dần, và qua thời gian, con người san ủi đi làm vườn tược, nhà cửa, giờ chỉ còn lại hai hòn lớn nhất nối nhau bằng một con đèo nhỏ nên nếu người ta đi tìm “núi” thì sẽ gặp khó khăn.

Qua thời gian, các khu dân cư lấn chiếm dần, nhiều dấu tích của Thành Đồ Bàn và Thành Hoàng Đế sau đó nằm xen giữa các khu dân cư hoặc đất canh tác của dân.

Hình dưới đây là ví dụ về di tích trong di tích: tượng nghê đá của Thành Đồ Bàn đặt bên ngoài khu mộ Võ Tánh xây dưới triều Nguyễn.

Do Ban_nghe da trong canh cu (Nguyen Minh Huu 2015)
Nghê đá Đồ Bàn thế kỷ 10 ở Lăng Võ Tánh thế kỷ 19 (Nguyễn Minh Hựu 2015)

Nguyễn Văn Hiển (1860) ghi lại khá chi tiết (tuy rằng văn phong khó theo dõi!) về những di tích của Thành Đồ Bàn, có thể hữu ích cho nhà khảo cổ học. Dưới đây chỉ ghi sơ lược.

Di tích Thành Đồ Bàn

Toàn thể kinh thành Đồ Bàn nằm trên một vùng đất cao so với các cánh đồng xung quanh. Hiện nay, đường Quốc lộ 1A chạy qua những gò đống ở góc đông-bắc tòa thành xưa.

Qua hơn 300 năm bỏ hoang rồi vật liệu bị phá đi để xây Thành Hoàng Đế trên nền cũ, nên các dấu tích còn lại của thành Đồ Bàn không còn nhiều, chỉ còn bãi đất trống cùng vài di chỉ khảo cổ học. Mở rộng tầm nhìn hơn, thì xung quanh còn vài đoạn tường lũy bằng đá ong, hào cạn, còn có gò Thập Tháp, Tháp Cánh Tiên….

Có câu hỏi là những di tích tường đá ong hiện giờ thuộc về Thành Đồ Bàn hay là Thành Hoàng Đế. Theo tungvk1781 (2011), hiện nay tòa thành cổ chỉ còn là một dải đất đắp gần như liên tục, đôi chỗ còn thấy tường ốp. Vật liệu của Thành Đồ Bàn được dùng để xây Thành Hoàng Đế, và đến phiên Thành Hoàng Đế bị phá hủy. Vật liệu được lấy đi dễ dàng nhất là những tảng đá ong dùng để ốp hai mặt tường thành đất, vậy thì có phần chắc là những đoạn tường thành cổ còn sót lại thuộc về Thành Hoàng Đế sử dụng vật liệu của Thành Đồ Bàn.

Trên tường thành, đôi chỗ còn nhô lên những ụ đất cao – dấu tích của các chòi gác xưa. Tòa thành còn để lại dấu tích một cổng thành ở mặt đông, cách góc đông-nam 1/3 đoạn thành. Hiện nay bên trong thành chỉ là những cánh đồng và chỉ thấy một con đường cổ nối liền giữa mặt đông của thành với các gò cao ở giữa làm nền cho một ngôi tháp – tháp Cánh Tiên (hay tháp Đồng). Khu trung tâm và mặt tây của thành hơi cao hơn. Mặt đất ở khu trung tâm có nhiều đá, sỏi và gạch vỡ. Ngoài ra phía bắc còn có một gò đất cao chứa nhiều gạch vỡ  –  dấu tích của một kiến trúc xưa nào đó. Toàn bộ mặt tây của thành bị choán gần hết bởi ngôi chùa của người Việt và Lăng Võ Tánh.

Do Ban_tuong thanh B (Quynh Tran 2018)
Tường thành bị hư hại (Quỳnh Trần, 2018)

 

Do Ban_tuong thanh C (Quynh Tran 2018)
Một đoạn khác của tường thành bị hư hại (Quỳnh Trần, 2018)

Có một đôi voi đá của Thành Đồ Bàn còn sót lại. Tượng Voi Ông cao 200 cm, có đầu trần. trong tư thế đang bước tới phía trước. Tượng voi Bà cao 176 cm trong tư thế đứng yên, được tạo hình với nhiều đồ trang sức trên mình, đầu mang vương miện, cổ đeo chùm lục lạc lớn, lưng có các dải dây thừng vắt qua.

Do Ban_Tuong voi Ong (Quoc Le 2017)
Tượng voi Ông của Thành Đồ Bàn (Quốc Lê, 2017)

 

Do Ban_Tuong voi Ba (Quoc Le 2017)

Theo các nhà nghiên cứu, hai tượng voi đá của Đồ Bàn có nhiều dấu ấn mỹ thuật kế thừa từ niên đại thế kỷ 11-12 (Quốc Lê, 2017). Sau 1.000 năm lịch sử, cặp tượng voi trở thành những dấu tích hiếm hoi còn sót lại của kinh đô Chiêm Thành xưa, đáng lẽ cần được gìn giữ lâu dài. Thế mà cặp tượng voi được đặt chơ vơ bên ngoài Thành Nội, giữa khu dân cư và trường học, hoàn toàn thiếu bảo vệ.

Ảnh dưới đây là tượng nghê đá của người Chiêm Thành, hiện nay một hiện vật được đặt sau cột cờ của di tích Thành Hoàng Đế và một đôi được đặt hai bên Lầu Bát Giác của Lăng Võ Tánh.

Do Ban_nghe da sau cot co (Nguyen Van 2018)
Nghê đá của Thành Đồ Bàn sau Kỳ đài trong Thành Hoàng Đế (Nguyễn Vân 2018)

 

Do Ban_nghe da ben Lau Bat Giac (Robehieu Robe)
Nghê đá của Thành Đồ Bàn bên Lầu Bát Giác trong Lăng Võ Tánh (Robehieu Robe)

Từ năm 2004, các nhà khảo cổ từ Hà Nội vào kết hợp với Bảo tàng Bình Định tổ chức khai quật di chỉ thành Hoàng đế, tức là Thành Đồ Bàn trước đó. Một trong những khám phá lý thú là phát hiện hai hồ bán nguyệt dài 17 m, rộng 10 m và sâu 1,6 m, nằm đối xứng nhau trong nội cung của kinh thành xưa. Một hồ hầu như còn nguyên vẹn sau khi được khi quật. Vách hồ là những tảng đá ong nâu xếp chồng lên nhau, được kết dính bằng đất sét một cách khéo léo và mỹ thuật. Đặc biệt, trên vách hồ có gắn những khối san hô trắng nhỏ cỡ bằng bàn tay và một số bệ đá, tạo cảnh trí phong lưu mà tự tại. Đáy hồ phẳng được lèn chặt bằng gạch, sau đó nén lên trên một lớp đất sét dày khoảng 10 cm, có tác dụng giữ nước. Hai cạnh hồ khép góc có bậc cấp thoai thoải dẫn xuống hồ. Mép và vách hồ vừa tầm tay để vịn, tạo sự thuận lợi, thoải mái cho người đi lên xuống hồ. Hồ tắm hình bán nguyệt vừa đẹp về mặt hình họa vừa có chút gì lãng mạn tượng trưng cho tình yêu – được cho là hồ tắm cổ nhất Việt Nam.

Do Ban_ho ban nguyet (Vietlanmarks.com)
Hồ bán nguyệt được khai quật, dưới mái che (Vietlanmarks.com)

Hồ bán nguyệt còn lại lộ thiên, nằm đối xứng với hồ bán nguyệt bên kia, bị hư hỏng nhiều.

Do Ban_ho ban nguyet lo thien (static.panoramio.com)
Hồ bán nguyệt lộ thiên bị hư hỏng (Ảnh: static.panoramio.com)

Nhiều nhà nghiên cứu còn khẳng định hồ bán nguyệt là dành cho phái nữ. Vì với diện tích nửa vòng tròn như thế không thể phù hợp cho đấng nam nhi vẫy vùng. Hồ bán nguyệt không phải để bơi mà là tắm đứng hoặc ngồi, nên có lẽ chỉ phù hợp với phái nữ. Từ những chứng cứ khoa học, các nhà khảo cổ nghiêng về giả thuyết hồ có từ thời xây thành Đồ Bàn, được vua Chiêm Thành Chế Mân cho xây tặng công chúa Huyền Trân như một món quà tình yêu (Từ Nguyên Thạch, no date).

Do Ban_ho ban nguyet chi tiet (Hoang Tuan 2015)
Chi tiết hồ bán nguyệt (Hoàng Tuấn, 2015)

Cách hồ bán nguyệt khoảng 50 m là một giếng hình lá bồ đề. Thành giếng được xây bằng đá ong và đất sét. Có thể nước hai hồ bán nguyệt được lấy từ giếng này. Trải qua thời gian, giếng nước xưa giờ đây đã bị lấp cạn đi nhiều.

Do Ban_gieng hinh la bo de (Vietlandmarks.com)
Giếng hình lá bồ đề (Ảnh: Vietlandmarks.com)

Ở một góc thành còn có một giếng cổ hình vuông, lát đá ong mà nước đến bây giờ vẫn trong xanh dù cho thời gian, cây cỏ vô tình che lấp.

Do Ban_gieng vuong (Hoang Tuan 2013)
Giếng vuông xây bằng đá ong (Hoàng Tuấn, 2013)

Gốm Đồ Bàn

Trong thời thịnh trị của Vương triều Vijaya, gốm Đồ Bàn không những được sản xuất cho thị trường nội địa rộng lớn mà còn tham gia con đường thương mại quốc tế, có mặt ở nhiều nước trên thế giới, trải dài từ vùng Đông Nam Á tới tận vùng Trung Cận Đông xa xôi. Tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long, kinh đô nổi tiếng của Đại Việt xưa, những đồ gốm Đồ Bàn đặc sắc cũng  được tìm thấy. Đây là bằng chứng sống động, phản ánh vai trò và sự góp mặt quan trọng của gốm Đồ Bàn trong đời sống hoàng cung Thăng Long xưa.

Do Ban_binh Kendi (Tan Luc)
(Ảnh: Tấn Lực)

Ở Đông Nam Á, gốm Đồ Bàn được tìm thấy tại đảo Tuiman (Malaysia) và di chỉ mộ táng ở Santa Ana, bán đảo Calatagan và hàng loạt di chỉ khác trên các quần đảo ở Philippines. Tại Indonesia và Brunei, gốm Chăm Bình Định cũng được tìm thấy tại các di tích đền thờ Hồi giáo nổi tiếng hay trong các di chỉ cư trú hoặc mộ táng. (Tấn Vịnh, 2017)

Sau thời gian dài tồn tại, phát triển, gốm Đồ Bàn bị thất truyền từ năm 1471, sau khi Vijaya được sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt. Sau này, xung quanh Thành Đồ Bàn, người dân phát hiện nhiều mảnh gốm lộ thiên hoặc đồ gốm từ lòng đất. Các cuộc tìm kiếm, khai quật khảo cổ về gốm Đồ Bàn bắt đầu được chú ý. Từ thập niên 1990 đến nay đã có 7 cuộc khai quật khảo cổ học tại các trung tâm sản xuất gốm lớn, phân bố dọc đôi bờ Sông Côn  –  con sông lớn, có vai trò rất quan trọng trong lịch sử phát triển của Vương quốc Vijaya, kết nối với vùng Thượng-Tây Nguyên. Kết quả khai quật tìm ra được 6 khu lò sản xuất gốm, đó là Gò Sành, Trường Cửu (Xã Nhơn Lộc, Thị xã An Nhơn), Gò Cây Me (Xã Nhơn Mỹ, Thị xã An Nhơn), Gò Ké, Gò Hời và Gò Giang (Xã Tây Vinh, Huyện Tây Sơn).

Do Ban_Gom Cham Bao tang Binh Dinh (Tan Vinh 2017)
Gốm Chăm được trưng bày tại Bảo tàng Bình Định (Tấn Vịnh, 2017)

Đặc biệt, Viện Nghiên cứu Kinh thành (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) phối hợp với Bảo tàng Tỉnh Bình Định tiến hành khai quật di chỉ Gò Cây Me. Đây cũng là cuộc khai quật đầu tiên tại khu di chỉ gốm vốn được xem là có vai trò rất quan trọng trong hệ thống di chỉ gốm Chăm cổ. Các nhà khảo cổ đã phát lộ dấu tích còn khá hoàn chỉnh của các lò nung gốm. Mặc dầu đã qua nhiều thế kỷ nhưng hình dáng phần tường lò vẫn còn rất rõ. Tại các hố khai quật còn phát hiện hàng ngàn hiện vật gốm, chủ yếu là gốm hoa nâu, men ngọc, men trắng. Trong đó, chiếm tỷ lệ lớn là các mảnh bình gốm hoa nâu kích thước lớn, trang trí đẹp, có hình rồng in nổi, in chìm…

Do Ban_Hien vat Go Cay me (Tan Vinh 2017)
Hiện vật gốm ở Gò Cây Me (Tấn Vịnh, 2017)

Điều thú vị nhất là các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều loại bình, vò gốm ở Gò Cây Me, Trường Cửu tương tự như đồ gốm đào được tại hoàng thành Thăng Long. Theo PGS-TS Bùi Minh Trí, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh thành, rất có thể đây là đồ gốm cổ cùng nằm trong những cống phẩm mà sứ thần Chiêm Thành mang đến Thăng Long tiến cống cho vua Đại Việt.

Tháp Cánh Tiên

Tháp Cánh Tiên, còn có tên gọi là Tháp Đồng, nằm ở chính giữa Thành Đồ Bàn xưa. Tháp được xây dựng vào thế kỷ 12, thuộc phong cách Bình Định và có một phần ảnh hưởng từ kiến trúc Angkor Wat của người Khmer, bởi vì thời kỳ này có sự giao lưu thường xuyên giữa vương quốc Khmer và Campa. Tháp được trùng tu năm 2011.

Thap Canh Tien_don doc (TL)
Tháp Cánh Tiên trước khi được trùng tu, không thấy di tích nào khác xung quanh (Ảnh: TK)

Tháp nằm trên một ngọn đồi thấp. Các bậc thang đi lên tháp được xây bằng đá ong, trông khá mới sau cuộc trùng tu. Đế tháp được xây trên một nền bằng đá ong cao hơn mặt đất khoảng 3 m, được lót bằng gạch nung trùng tu.

Thap Canh Tien_mat truoc (Khoa Lam 2015)
Mặt trước Tháp Cánh Tiên sau khi được trùng tu (Khoa Lam, 2015)

Thân tháp bằng gạch nung, nhiều phần mặt ngoài bị loang lổ do gió, nắng và mưa; rêu trắng bám phủ từng mảng lớn. Điểm đặc biệt của tháp Cánh Tiên là hàng cột ốp đá với hoa văn dây xoắn và góc các diềm mái của tháp cũng được làm bằng đá – hiện tượng độc nhất trong trong lịch sử kiến trúc tháp Chiêm Thành.

Thap Canh Tien_hang cot op da (DanViet.vn)
Hàng cột ốp đá trùng tu (Ảnh: DanViet.vn)

Tháp có 4 tầng thu nhỏ dần về phía trên, tầng nào cũng có 4 tháp góc trang trí, mỗi góc lại có những tầng nhỏ, dáng lá lật nhỏ dần về phía trên tạo ấn tượng của những “cánh tiên”.

Thap Canh Tien_phan tren (Khoa Lam 2015)
Phần trên Tháp Cánh Tiên (Khoa Lam, 2015)

Toàn tháp cao khoảng 20 mét, bốn mặt quanh thân tháp đều trang trí các cột trụ ốp tường, nhô ra theo một tỉ lệ hài hòa với tổng thể kiến trúc. Tường tháp rất dầy, đến hơn 2 m. Các góc thân tháp được bó bằng các khối đá có kích thước lớn nên khá vững chắc. Tháp có 4 cửa vòm nhọn vút lên mở ra 4 hướng, nhưng chỉ có cửa chính hướng Đông là ăn thông với lòng tháp, còn lại là 3 cửa giả. Bộ diềm hơi nhô ra tạo thành bộ đỡ cho các tháp góc bên trên. Các hình chạm khắc chủ yếu tập trung trên bộ mái. Những tảng đá chạm khắc hình đuôi phụng gắn trên các tầng tháp giả và hình Makara, một loài thủy quái trong thần thoại Ấn Độ với nanh nhọn, vòi dài, trang trí ở các góc đầu tường, tạo cho tháp Cánh Tiên một vẻ đẹp sang trọng, huyền bí.

Không giống nhiều tháp Chàm khác, trang trí tháp Cánh Tiên cầu kì đến độ hoàn mỹ. Từ hệ thống vòm cửa đến dải hoa văn hình xoắn xếp lớp đối xứng nhau uyển chuyển đến các khối đá ốp cạnh được chạm khắc tinh tế tạo thành những hoa văn nối, đều toát lên vẻ đẹp vừa thanh thoát, trang nhã, vừa uy nghi, bề thế.

Thap Canh Tien_mat ngoai (Nguoi Viet TV 2017)
Mặt ngoài Tháp Cánh Tiên (Người Việt TV, 2017) Trái: phần dưới với cạnh ốp gạch trùng tu; Phải: phần trên với những “cánh tiên”

Các góc tháp có tượng rắn làm bằng đá trắng, voi đá và nhiều tượng quái vật. Kiến trúc tháp này được coi là tiêu biểu cho phong cách Bình Định có niên đại nửa sau thế kỷ 11 sang đầu thế kỷ 12, thuộc triều vua Harivarman IV (1074-1081) và Harivarman V (1113-1139).

Bên trong là một khoảnh nhỏ hẹp, chỉ có một bàn thờ bằng đá do người đời nay đặt vào, ngoài ra không có tượng hay hiện vật gì khác. Do trùng tu, lớp tường bên trong còn mới, khác biệt với lớp tường bên ngoài.

 

Thap Canh Tien_ben trong (Nguoi Viet TV 2017)
Bên trong lòng Tháp Cánh Tiên (Người Việt TV, 2017)

Chùa Thập Tháp Di Đà

Phía đông-bắc Thành Đồ Bàn có gò Thập Tháp. Thời xa xưa, trên gò đất cao ấy có mười ngôi tháp Chàm cổ kính, cho nên người ta mới gọi là gò Thập Tháp. Có một điều rất đặc biệt, là vị trí Chùa Thập Tháp ngày nay nhiều khả năng nằm ngay sát phía ngoài vách Thành Đồ Bàn ngày xưa. Đến năm 2017, một đoạn đường làng mang tên Đô đốc Long từ Quốc lộ 1 đi vào chùa vẫn còn dấu vết của một bức tường thành cổ, nhiều khả năng chính là tường thành Đồ Bàn ngày xưa (Trần Hồng Phong, 2017). Đó là vì từ trên “bờ thành” này, nhìn chếch về phía tây-nam khoảng hơn 1 km là Tháp Cánh Tiên, mà Tháp Cánh Tiên ngày xưa nằm trong Thành Đồ Bàn.

Năm 1683, hòa thượng họ Tạ, húy là Nguyên Thiều, quê quán ở Triều Châu, Tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, dùng gạch đá của 10 ngôi tháp đổ để dựng lên ngôi chùa mang tên Thập Tháp Di Đà. Vì thế, ngôi chùa này – cổ tự lâu đời nhất miền Trung – có thể được xem là một phần di tích của Thành Đồ Bàn.

Chùa Thập Tháp Di Đà tọa lạc ở Thôn Vạn Thuận, Xã Nhơn Thành, Thị trấn Đập Đá. Từ Quy Nhơn đi QL 1D rồi rẽ qua QL 1A, đi khoảng 30 km đến ngã tư Đô đốc Long có Công viên Bả Canh, rẽ trái đi thêm 300 m nữa rổi rẽ phải có con đường dẫn vào chùa. Chùa được xây dựng trên gò đồi khá rộng có hình mai rùa, chu vi gần 1 km. Mặt chính quay về hướng đông. Qua 16 đời sư trụ trì và nhiều lần trùng tu, chùa có định hình ngày nay từ đầu thế kỷ 20.

Hòa thượng Nguyên Thiều tu về Thiền tông thuộc phái Lâm Tế. Sau khi xây dựng Chùa Thập Tháp Di Đà, Hòa thượng Nguyên Thiều mở trường truyền đạo.

Thiền sư Phước Huệ ở chùa này được tôn làm Quốc sư. Ngài được mời vào giảng kinh trong Hoàng cung nhà Nguyễn từ đời Vua Thành Thái đến Vua Bảo Đại và giảng dạy Phật pháp ở Phật học đường Trúc Lâm và Tây Thiên (Huế) từ năm 1935.

Trước cổng chùa là một hồ sen rộng khoảng 500 m2, mỗi độ hè về sen nở thơm ngát một vùng. Cổng chùa là hai trụ biểu vuông cao, trên đặt hai tượng sư tử ngồi uy nghi. nối một vòng cung, phía trên có gắn hai chữ “Thập Tháp”.

Chua Thap Thap_cong chinh (kienthuc.net.vn)
Cổng chính Chùa Thập Tháp (Ảnh: kienthuc.net.vn)

Có hai câu liễn trước cổng Chùa Thập Tháp của Hòa thượng Trí Hải (1876–1950), là người tinh thông nho học, Phật học và thành thạo văn chương, thư pháp:

Nguyệt hạ bất xao kim tỏa đoạn
Sơn tiền chỉ nhậm bạch vân phong

Dịch:

Trước núi chỉ cho mây trắng nhóm
Dưới trăng không gõ khóa vàng rơi.

Núi ở đây là Núi Mò O, ở chùa nhìn xuống thấy giống như lá buồm, chùa lấy núi này làm tiền án. Quách Tấn cho biết Núi Mò O cao chỉ 345 m. Núi gồm nửa đất sỏi, nửa đá dăm nên đang bị khai thác tận lực.

Sau cánh cổng là tấm bình phong đặt trên bệ chân quỳ, mặt trước đã mất các họa tiết do thời gian, mặt sau đắp nổi long mã phù đồ.

Chua Thap Thap_binh phong (kienthuc.net.vn)
Tấm bình phong Chùa Thập Tháp (Ảnh: kienthuc.net.vn)

Chùa có kiến trúc theo kiểu chữ “khẩu”; gồm ngôi chánh điện, đông đường (giảng đường), tây đường (nhà tổ), và nhà phương trượng.

Chua Thap Thap_chinh dien (kienthuc.net.vn)
Chính điện Chùa Thập Tháp (Ảnh: kienthuc.net.vn)

Trên nóc chùa có hình tượng lưỡng long tranh châu.

Chua Thap Thap_luong long tranh chau (kienthuc.net.vn)
Hình tượng lưỡng long tranh châu trên nóc chùa (Ảnh: kienthuc.net.vn)

Nóc chùa được trang trí bằng hoa văn tinh xảo.

Chua Thap Thap_goc noc (kienthuc.net.vn)
Một góc nóc Chùa Thập Tháp (Ảnh: kienthuc.net.vn)

Chùa được Chúa Nguyễn Phúc Chu (trị vì 1691-1725) ban tấm biển Sắc tứ Thập Tháp Di Đà Tự treo giữa cửa chính ngôi chánh điện, Hòa thượng Mật Hoằng trùng khắc lại năm 1821. Đại hồng chung được đúc năm 1893.

Các khám thờ được điêu khắc tinh xảo, sơn son thiếp vàng lộng lẫy. Hầu hết các tượng thờ đều được tạc vào thời Thiền sư Minh Lý trụ trì trong giai đoạn 1871-1889 (Trần Hồng Phong, 2017).

Chua Thap Thap_kham tho (kienthuc.net.vn)
Khám thờ Chùa Thập Tháp (Ảnh: kienthuc.net.vn)

Phiến đá Oán hờn hoặc Hòn đá Chém

Trong chùa Thập Tháp có Phiến đá Oán hờn hoặc Hòn đá Chém, cao khoảng 0,38 m, dài khoảng 1,58 m, rộng 1,3 m, toàn khối là đá trắng. Một số truyền thuyết gắn liền với phiến đá này.

Theo Vũ Đình Thung (no date), nhà sư Mật Hạnh ở Chùa Thập Tháp kể rằng, tương truyền, sau khi chiếm được thành Hoàng Đế, Nguyễn Ánh chiêu dụ những người trong hoàng tộc nhà Tây Sơn ra đầu thú với lời hứa hẹn sẽ không trả thù, ai bị trọng tội thì hình phạt cao nhất là đày vào miền Nam khai khẩn đất mới, ai có tài sẽ được trọng dụng. Để tránh phải sống chui lủi ngoài vòng pháp luật, nhiều người có quan hệ dòng tộc với nhà Tây Sơn ra trình diện.

Sau đó Nguyễn Ánh trở mặt, ra lệnh chém đầu người nhà Tây Sơn bất kể già trẻ lớn bé, rồi chôn tập thể. Tay đao phủ của Nguyễn Ánh dùng một tảng đá đặt trong thành Hoàng Đế, gần lăng Võ Tánh, kê đầu nạn nhân lên đó mà chém. (Có lẽ nhà Nguyễn hành xử như thế nhằm mong hương hồn Võ Tánh được hả dạ, nhưng không lẽ anh linh vị tướng đã từng yêu cầu đối phương tha chết cho binh sĩ mình sau đó lại nhỏ nhen như người sống!)

Dù sao đi nữa, hàng trăm đầu người lăn lóc trên Phiến đá Oán hờn, toàn thân láng như hòn đá mài, 4 góc được đẽo 4 nét hoa văn đơn giản. Máu của các tử tội tràn ra hết lớp này đến lớp khác. Hằng đêm, người ta nghe trong phiến đá vẳng ra tiếng than khóc ai oán. Lại có tin đêm đêm, một chiếc đầu lâu từ phiến đá kia lăn lông lốc đến đập vào cửa nhà từng vị quan triều Nguyễn trong kinh thành, phát ra lời đòi mạng thống thiết, và cũng lăn ra khắp xóm làng than vãn. Không chỉ những quan lại triều Nguyễn mà người dân sống quanh thành cũng sống không yên. Quan lại triều Nguyễn sợ hãi, lập đàn cầu siêu giải oan nhưng đâu lại vào đấy.

Một ngày nọ, vị cao tăng trụ trì Chùa Thập Tháp đến thành xin được lập đàn cầu siêu để giải nỗi oan khuất tày trời, lấy lại sự yên bình cho người dân trong vùng. Mừng như bắt được vàng, quan quân triều Nguyễn đón tiếp vị sư rất long trọng. Tương truyền sau 3 ngày đêm kinh kệ giải oan, các vong linh dần siêu thoát, rồi vị sư xin được mang phiến đá kia về Chùa Thập Tháp.

Phiến đá được mang về đặt cạnh cây thị cổ thụ 200-300 năm tuổi nằm phía bắc tường thành của nhà chùa. Đã về đến cửa Phật mà nỗi oan khiên trong Phiến đá Oán hờn vẫn còn vất vưởng, vẫn có những câu chuyện ly kỳ…

Chua Thap Thap_phien da oan hon (Ha Tien 2017)
Phiến đá Oán hờn trong Chùa Thập Tháp (Hà Tiên, 2017)

Thời gian sau, sư phụ của sư Mật Hạnh là Quốc sư Phước Huệ (1869-1945) một lần nữa chuyển Phiến đá Oán hờn vào để ngay bậc thang bước vào chính điện của chùa.

Về sau, một số người có ý kiến nên đặt Phiến đá Oán hờn vào vị trí trang trọng hơn thay vì phải chịu bao nhiêu bước chân dẫm đạp hằng ngày. Nhưng không ai biết rõ chủ ý của sư Phước Huệ và cũng không ai dám di chuyển Phiến đá Oán hờn e lại xảy ra chuyện không may, nên hiện giờ Phiến đá Oán hờn vẫn còn yên vị ngay cửa chánh điện của Chùa Thập Tháp. Dù sao, hiện tại không còn xảy ra hiện tượng kỳ bí nào nữa.

Di tích Thành Hoàng Đế

Trước nhất, cần xác định chu vi của Thành Hoàng Đế. Năm 1986, GS Phan Huy Lê cùng một số nghiên cứu sinh Đại học Tổng hợp Hà Nội khảo sát thực địa di tích Thành Hoàng Đế và công bố Thành Hoàng Đế gồm 3 vòng thành: Thành Ngoại, thành Nội và Thành Con.

TS Lê Đình Phụng thuộc Viện Khảo cổ học Việt Nam, người chủ trì 4 đợt khai quật khảo cổ thành Hoàng Đế cũng xác định thành Hoàng Đế có 3 vòng thành như trên. Các kiến trúc trong Thành Con được xây dựng với sự tính toán chính xác, kỹ lưỡng, mặt bằng phân bố chặt chẽ và lấy tính đăng đối làm chủ đạo. Các kiến trúc chính đều được đặt trên một trục trung tâm của tòa thành, còn các kiến trúc phụ trợ phân bố đăng đối ở hai bên.

Mặt khác, tường bắc Thành Con (theo GS Phan Huy Lê) là tường bắc Lăng Võ Tánh hiện nay, xây sau tường đông và tường tây. Và TS Lê Đình Phụng xác định tường bắc Thành Con là tường bắc Thành Nội theo xác định của GS Phan Huy Lê.

Như trên đã nêu, Nguyễn Nhạc xây Thành Hoàng Đế trên nền Thành Đồ Bàn, rồi Nguyễn Ánh xây Lăng Võ Tánh trên Thành Hoàng Đế. Vì thế, những miêu tả và hình ảnh trong các tài liệu thường không xác định rõ ràng di tích nào thuộc thành nào. Ví dụ như di tích trong ảnh dưới đây, mà Nguyễn Minh Hựu (2015) cho rằng đó là di tích Thành Hoàng Đế và nêu rõ: “Có nhiều người chụp hình những kiến trúc này rồi bảo rằng đó là di tích của Thành Đồ Bàn”.

Thanh Hoang De_di tich cu (Nguyen Minh Huu 2015)
Di tích Thành Hoàng Đế, nay không còn (Nguyễn Minh Hựu, 2015)

Điều dễ hiểu là nhà Nguyễn không hề muốn duy trì Thành Hoàng Đế thuộc Tây Sơn mà họ cho là “ngụy” hoặc “giặc”. Trái lại, Nguyễn Ánh cho thi hành những biện pháp trả thù không những đối với con người mà còn đối với công trình lịch sử. Vì thế mà nhà Nguyễn khai thác tận lực những vật liệu của Thành Hoàng Đế để xây Thành Bình Định và thậm chí xây Thành Phú Xuân, đến nỗi Thành Nội hầu như hoàn toàn bị san phẳng. Họ lại còn cho xây mộ Võ Tánh trên nền Điện Bát Giác xưa nơi gia đình Nguyễn Nhạc cư ngụ.

Hue xua
Hoàng thành Huế tức Thành Phú Xuân xưa

Hình dưới chỉ khu vực Thành Con của Thành Hoàng Đế nhìn từ trên cao. Từ dưới lên trên có những cấu trúc sau:

  • Cổng tam quan chính và tường nam được trùng tu
  • Kỳ đài
  • Bên phải cột cờ là Đàn tế chiến sĩ trận vong
  • Tượng nghê đá
  • Bức bình phong và tường ngăn, hai đầu có cửa vào
  • Bãi cát hình chữ nhật phủ Cung Quyền Bổng xưa
  • Đường đến Lầu Bát Giác
  • Lầu Bát Giác
  • Mộ Võ Tánh được xây trên nền Điện Bát Giác xưa
  • Hai bên mộ, trái: mái che hồ bán nguyệt được khai quật; phải: hồ bán nguyệt ngoài trời và cây bồ đề cổ thụ
  • Bức bình phong
  • Bên ngoài bức tường: Hòn giả sơn với cây sung cổ thụ hàng trăm năm tuổi.

Ngoài ra, các nhà khảo cổ còn phát hiện thêm hệ thống cống thoát nước được xây dựng khá công phu và phân bố đều trong lòng thành theo một quy hoạch hoàn chỉnh.

Thanh Hoang De_nhin tu tren cao (VHNT Binh Dinh 2019)
Thành Con của Thành Hoàng Đế nhìn từ trên cao (VHNT Bình Định, 2019)

Bên ngoài vòng Thành Con có bảng chỉ dẫn Thành Hoàng Đế, và hai tượng voi đá của Thành Đồ Bàn. Hiện giờ chỉ có thể đi vào Thành Con qua cổng chính tam quan, ngày xưa còn được gọi là Quyển Bồng Môn hoặc Nam Môn Lâu.

Thanh Hoang De_Thanh Con cong chinh panorama (Robehieu Robe)
Cổng chính Thành Con của Thành Hoàng Đế – panorama (Ảnh: Robehieu Robe)

Cổng tam quan dẫn vào di tích Thành Hoàng Đế được xây dựng sau này nên không được xem là “di tích.”

Thanh Hoang De_Thanh Con cong chinh (phongboca)
Cổng chính Thành Con của Thành Hoàng Đế, Kỳ đài ở hậu cảnh (Ảnh: phongboca)

Hình dưới chỉ đoạn tường  của Thành Hoàng Đế được trùng tu, gần cổng tam quan ở hình trên.

Thanh Hoang De_Tuong Thanh Con trung tu (Nguyen Van 2018)
Tường của Thành Con được trùng tu (Nguyễn Vân, 2018)

Kỳ đài có cột cờ hình xương cá để người dễ leo lên treo lá cờ.

Thanh Hoang De_Thanh Con Ky dai (Robehieu Robe)
Kỳ đài (gồm bục và cột cờ hình xương cá) trong Thành Con (Ảnh: Robehieu Robe)

Hình dưới là khung cảnh tổng thể của Thành Con (có Lăng Võ Tánh) phía sau kỳ đài. Tường bao được xây mới, không phải là di tích. Tường ngăn mặt trước có bình phong dạng cuốn thư ở chính giữa, hai bên có hai lối vào.

Thanh Hoang De_Thanh Con tong the sau cot co (Hoang Tuan 2015)
Thành Con sau Kỳ đài, tiền cảnh là nghê đá thế kỷ 10, hậu cảnh là Lăng Võ Tánh thế kỷ 19 (Hoàng Tuấn, 2015)

Thành Con được trùng tu trông đẹp mắt, nhưng việc trùng tu mang lại nhiều màu sắc có thể không phục dựng đúng như ngày xưa. Công việc tạo hoa mỹ vô hình trung làm sai lệnh kiến trúc lịch sử. Hãy so sánh bức bình phong và đoạn tường ngăn bên tay phải của ảnh trên với ảnh dưới đây trước cuộc trùng tu.

Thanh Hoang De_Thanh Con truoc trung tu (nghiencuulichsu.com)
Một góc Thành Con trước khi trùng tu (Ảnh: nghiencuulichsu.com)

 

Thanh Hoang De_Thanh Con binh phong (Ja Karo)
Bức bình phong sau khi trùng tu (Ảnh: Ja Karo)

Còn một di tích không được sửa sang là đàn thờ, có tên khác là Lỗ Thiêng, nơi thờ chiến sĩ trận vong nói chung chứ không định rõ chiến sĩ thuộc triều đại nào.

Thanh Hoang De_Dan te trong Cam thanh (Ja Karo)
Đàn tế chiến sĩ trận vong trong Thành Con của Thành Hoàng Đế (Ảnh: Ja Karo)

Ảnh dưới đây chỉ miếu đầu phải (từ ngoài nhìn vào) của tường ngăn.

Thanh Hoang De_Mieu canh huu (Badusuker 2019)
Miếu đầu phải trong Thành Con  (Badusuker, 2019)

Ảnh dưới đây chỉ dấu vết nền Chính điện trong Thành Con. Bậc đá ong trên nền cỏ đích thực là di tích của Thành Hoàng Đế. Bãi cát được lấp sau này, và bức tường được xây sau này. Tháp Cánh Tiên ở hậu cảnh.

Thanh Hoang De_Thanh Con chinh dien (Robehieu Robe)
Vết tích nền Chính điện trong Thành Con (Robehieu Robe)

 

Thanh Hoang De_nen chinh dien (Binh Dinh Life 2020)
Vết tích nền Chính điện nhìn từ trên cao (Binh Dinh Life, 2020)

Sân cát hình chữ nhật phía sau bình phong và tường ngăn là nền của Cung Quyền Bổng xưa.

Thanh Hoang De_Thanh Con bai cat sau binh phong (Duc-Huy guitar)
Sân cát là nền của Cung Quyền Bổng xưa, hậu cảnh là Lầu Bát giác (Ảnh: Đức-Huy guitar)

Cuộc khai quật khảo cổ học tìm thấy hệ thống nền móng Điện Bát Giác xưa chính giữa Thành Con với lớp móng bó nền bằng đá màu đen cắt gọt xây dựng quy chỉnh với mặt nền điện được lát gạch vuông đỏ rực. Nền của khu vực này bị phá hủy khá nghiêm trọng, có sự chồng lấn, đan xen của kiến trúc nhiều thời kỳ.

Thanh Hoang De_nen Dien Bat Giac (Hoang Tuan 2013)
Nền Điện Bát Giác bằng gạch bát tràng và đá trắng Champa (Hoàng Tuấn, 2013)

Bên tay phải của nền Điện Bát Giác xưa, bên ngoài hồ bán nguyệt, là hòn giả sơn hoang phế, chỉ là một đống đá ngổn ngang.

Thanh Hoang De_hon gia son (Hoang Tuan 2013)
Hòn giả sơn với đống đá ngổn ngang (Hoàng Tuấn, 2013)

Đặc biệt, bên ngoài bức tường ở đầu cuối còn có cây sung cổ thụ hàng trăm năm tuổi, phần thân gần gốc to cỡ mấy vòng tay người ôm. Dù cây có nhiều đoạn thân đã bị mục rỗng bên trong, nhưng quả sung vẫn mọc chi chít quanh thân cây.

Thanh Hoang De_cay sung co thu (DanViet.vn)
Cây sung cổ thụ hàng trăm năm tuổi ở hòn giả sơn (Ảnh: DanViet.vn)

Một đoạn tường cổ xây bằng đá ong trong Thành Con.

Thanh Hoang De_Thanh Con tuong co (Hoang Tuan 2013)
Một đoạn tường cổ xây bằng đá ong (Hoàng Tuấn, 2013)

Đàn Nam Giao

Đàn Nam Giao là một điển hình về tín ngưỡng của vương triều dưới thời phong kiến để tế Trời, Đất. Tế Giao là một lễ hội cung đình có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, mà trên hết là tinh thần hòa ái với thiên nhiên, với ước nguyện mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, thiên hạ thái bình. Đàn Nam Giao nằm ở Thôn Nam Tân, Xã Nhơn Hậu, Thị xã An Nhơn là một bộ phận quan trọng cấu thành kinh đô Hoàng đế (Ng. Thanh Quang, 2006).

Đàn Nam Giao là một hòn núi đất (nhân dân thường gọi là Hòn Chùa) có vị trí cao nhất ở vùng này, nằm ngay bên trong thành Ngoại của Thành Hoàng Đế. Đàn có cấu trúc 3 tầng, có chiều cao toàn bộ khoảng 5 m. Toàn bộ 3 tầng từ 4 hướng đều có dấu vết hệ thống bậc cấp lên xuống.

Tầng trên cùng hình tròn gọi là Viên Đàn, có đường kính khoảng 35 m, đá ong và gạch được xây bó xung quanh, một số chỗ xói lở để lộ ra đá ong và gạch. Trên mặt Viên Đàn, khi có tế lễ thường xây dựng một Thanh Ốc (một nhà tạm mái vòm màu xanh). Khi Tế Giao, trên Viên Đàn bố trí nhiều án thờ như án thờ trời, án thờ đất…

Tầng thứ hai gọi là Phương Đàn, có hình vuông, chiều dài mỗi cạnh khoảng 70 m. Ở tầng này, đá ong, ngói và gạch vương vãi rất nhiều. Khi Tế Giao, nơi đây được dựng một Hoàng Ốc (một loại nhà tạm hình vuông có mái màu vàng). Trên mặt bốn phía của Phương Đàn, bố trí các án thờ thần như: thần mặt trời, mặt trăng, các thần biển, sông, núi, đầm…

Tầng dưới cùng cũng hình vuông, có chiều dài mỗi cạnh khoảng 170 m, tầng này có bố trí lò đốt ở góc đông-nam để thiêu con bê khi tế, bố trí địa điểm để chôn trâu và dê (gọi là Ế Khảm) ở góc tây-bắc, ở góc đông-bắc có nhà Thần Khố làm kho để đồ liên quan đến tế lễ, bên cạnh là nhà Thần Trù làm nhà bếp. Cũng ở tầng này, còn có tòa nhà Đại Thử là nơi nghỉ chân của vua trong khi chờ đến giờ tế lễ. Ở phía tây-nam đàn là Trai Cung, nơi vua trai giới trước khi chính thức lên đàn tế.

Đinh Bá Hòa (2005) cho biết Đàn Nam Giao có bốn cạnh vuông vức, mỗi cạnh khoảng 30 m, hiện trên bề mặt còn vương vãi rất nhiều mảnh gạch ngói kiểu âm dương, chung quanh còn thấy một số viên đá ong còn sót lại kích cỡ 30cm x 40cm x 10cm, rất có thể đó là những đá ong dùng để kè chân móng xây bờ tường lan can. Ngoài những mảnh ngói âm dương, còn thấy dấu vết bờ tường xây bằng gạch của người Chăm, điều đó cho thấy trước khi Nguyễn Nhạc chọn lập đàn tế, trước đó đỉnh núi này dưới thời vương triều Viyaja của Champa đã cho xây một kiến trúc mang tính tín ngưỡng nào đó. So với Đàn Nam Giao của các vương triều Việt Nam còn lại, Đàn Nam Giao nhà Tây Sơn  được xây dựng dưới triều Thái Đức có quy mô không kém gì các triều đại trước. Điều đáng quan tâm là trong khi đàn Nam Giao của các vương triều trước, kể cả vương triều Nguyễn, gần như trong tình trạng bị hoang phế thì Đàn Nam Giao của triều Tây Sơn lại còn khá nguyên vẹn [?]. Đứng trên đỉnh của Đàn Nam Giao, ta mới thấy Nguyễn Nhạc quả là có con mắt nhìn của bậc đế vương, khi chọn nơi này để tế Trời–Đất cho việc định đô cho vương triều của mình.

Bài viết của Đinh Bá Hòa (2005) cho hình ảnh Đàn Nam Giao “còn khá nguyên vẹn” [?] dưới đây.

Thanh Hoang De_Dan Nam Giao (Dinh Ba Hoa 2005)
Địa điểm Đàn Nam Giao trên Hòn Chùa (Đinh Bá Hòa, 2005)

Đàn Nam Giao của nhà Tây Sơn nằm trên đỉnh đồi cao 20 m có tên là gò Chùa, rộng chừng 1.500 m2, rất bằng phẳng. Cuộc khai quật giữa tháng 9-2007 làm lộ ra một phần hai móng trong–ngoài của đàn với gạch và một ít đá ong, nhưng trên mặt đồi thì đầy những mảnh gạch ngói vụn để lại từ lâu đời.

Lăng Võ Tánh

Võ Tánh (1768–1801) là vị tướng có công giúp Nguyễn Ánh chống nhà Tây Sơn, được xếp cùng với Đỗ Thanh Nhơn (không phải “Thành Nhơn” như nhiều nguồn viết sai) và Châu Văn Tiếp là “Gia Định tam hùng”. Ông tuẫn tiết năm 1801 trong cuộc chiến với quân Tây Sơn, và được chôn cất trong nội cung xưa của Thành Bình Định tức tên mới của Thành Hoàng Đế.

Nghĩa khí của Võ Tánh động lòng người, nên nhân dân trong vùng xây lăng mộ và thờ phụng trong Thành Hoàng Đế. Lễ cúng tướng Võ Tánh diễn ra vào ngày ông mất (26/5 Âm lịch) hằng năm. Vào ngày này, mâm cơm cúng không có món thịt nướng vì gợi nhớ tới cái chết do việc tự thiêu của ông.

Nhà Nguyễn cho triệt hạ tất cả các cung điện của Thành Bình Định cũ tức Thành Hoàng Đế xưa, dỡ đá ong của thành cũ mang đi xây thành mới. Năm 1805, Nguyễn Ánh cho xây lăng mộ và Lầu Bát Giác để thờ hai tướng Võ Tánh và Ngô Tùng Châu ngay trên mặt bằng của Điện Bát Giác, nơi Hoàng đế Thái Đức thiết triều khi xưa. Thi hài Võ Tánh bị cháy hết, nên mộ ông chôn hình người bằng sáp. Năm Tự Đức thứ tư (1841), Lầu Bát Giác được đổi tên là Đền Chiêu Trung.

Ghi chú: Về sau, vua Gia Long sai lập một mộ gió cho Võ Tánh ở Sài Gòn (nay tọa lạc tại hẻm số 19 đường Hồ Văn Huê), cũng chôn hình nhân bằng sáp.

Thời Pháp thuộc, việc chăm coi không được chu đáo nên Đền Chiêu Trung dần hư hỏng. Đến triều Bảo Đại (trị vì 1924-1945), thân hào nhân sĩ Bình Định mở cuộc lạc quyên, triệt hạ đền cũ lập lại đền mới (Quách Tấn, 1965). Đền xây theo kiểu thức tân thời, trông khang trang nhưng vẫn giữ được vẻ cổ kính. Từ lúc này, Lăng Võ Tánh cũng được gọi là Đền Song Trung.

Năm 1947, chính quyền Việt Minh ra lệnh dỡ đền, phá thành, đốn cây. Chỉ còn phần mộ Võ Tánh đắp xi măng, một tiểu đình hình bát giác (tượng trưng cho Lầu Bát Giác ngày xưa) xây bằng gạch, và tam quan gồm bốn trụ ba biểu bằng vôi, đứng chơ vơ giữa khoảng gò trống trải

Ảnh dưới là khu vực Lăng Võ Tánh nhìn từ trên cao sau khi trùng tu. Từ dưới lên,

  • đường dẫn đến Lầu Bát Giác
  • Lầu Bát Giác
  • đường dẫn vào mộ trên nền Điện Bát Giác xưa
  • bệ hương án
  • mộ Nguyễn Tấn Huyên ở một bên
  • mộ Võ Tánh ở giữa
  • bức bình phong chữ “trung”
  • hai bên, trái: mái che hồ bán nguyệt được khai quật; phải: hồ bán nguyệt ngoài trời và cây bồ đề cổ thụ.
  • Bên ngoài bức tường: Hòn giả sơn với cây sung cổ thụ hàng trăm năm tuổi.
Lang Vo Tanh_nhin tu tren cao (VHNT Binh Dinh 2019).
Lăng Võ Tánh nhìn từ trên cao (VHNT Bình Định, 2019)

Lăng Võ Tánh được trùng tu nên trông còn mới. Ảnh dưới chỉ cổng vào bên phải từ ngoài nhìn vào.

Lang Vo Tanh_cong vao Lang Vo Tanh (Ja Karo)
Cổng vào Lăng Võ Tánh (Ảnh: Ja Karo)

Mặt sau bức bình phong và tường ngăn dài, qua một sân cát rộng có một lối đi dẫn đến Lầu Bát Giác tức Đền Chiêu Trung xưa, là nơi thờ Võ Tánh và Ngô Tùng Châu. Đền chỉ thu hẹp thành một tiểu đình mỗi cạnh 2m20, là di tích Lầu Bát Giác nơi Võ Tánh tự thiêu.

Lang Vo Tanh_Den Chieu Trung (Nguyen Thanh Quang 2013)
Lầu Bát Giác (Đền Chiêu Trung xưa) trước trùng tu (Nguyễn Thanh Quang, 2013a)

So sánh với ảnh sau trùng tu dưới đây, mỗi thứ còn mới, trừ mỗi bên đặt một tượng nghê đá là hiện vật của Thành Đồ Bàn, lúc đầu ở nơi khác, sau này được đặt ở đây để trang trí.

Lang Vo Tanh_Lau Bat Giac (Van Luu)
Lầu Bát Giác sau khi trùng tu (Ảnh: Văn Lưu)

 

Lang Vo Tanh_noc Lau Bat Giac (Binh Dinh Life 2020)
Nóc Lầu Bát Giác (Binh Dinh Life, 2020)

Lầu Bát Giác bên trong vòng rào mới, nhìn lên Tháp Cánh Tiên không xa.

Lang Vo Tanh_Thap Canh Tien & Lau Bat Giac (Vo Dung 2012)
Lầu Bát giác nhìn lên Tháp Cánh Tiên (Võ Dũng, 2012)

Sau Lầu Bát Giác có một lối đi dẫn đến khu mộ.

Lang Vo Tanh_loi vao mo (Robehieu Robe)
Lối vào mộ Võ Tánh (Ảnh: Robehieu Robe)

Đầu khu mộ có một bệ hương án lớn. Sau bệ hương án là mộ phần tướng Võ Tánh.

Lang Vo Tanh_Be huong truoc mo (Badusuker 2019)
Bệ hương án trước mộ Võ Tánh  (Badusuker, 2019)

 

Lang Vo Tanh_khuon vien (wikimapia)
Khuôn viên mộ Võ Tánh sau khi trùng tu (Ảnh: wikimapia)

Mộ Võ Tánh hình tròn, trên có đắp biểu tượng một con dơi.

Còn mộ hình chữ nhật kế bên được nhiều nguồn cho là mộ của Ngô Tùng Châu. Đúng thật là sau khi mất, Ngô Tùng Châu được nhà Tây Sơn an táng trong khu Thành Bình Định (Thành Hoàng Đế). Ba năm sau vào đầu thời Gia Long, năm 1804, con cháu và triều Nguyễn cải táng mộ Ngô Tùng Châu từ Thành Bình Định (Thành Hoàng Đế cũ) về Gò Tháp (Gò Lăng), dưới chân dãy Núi Bà thuộc Thôn Thái Định, Xã Cát Tài, Huyện Phù Cát, Bình Định, xây lăng và xây mộ bằng vôi khá khang trang (Hoàng Trọng, 2016a). Năm 1932, lăng bị một cơn bão tàn phá; sau đó, được các nhân sĩ Bình Định tu sửa. Tuy nhiên, không lâu sau đó, do chiến tranh, lăng trở nên tiêu điều, chỉ còn lại hai trụ cổng, bức bình phong và nền móng điện thờ. Năm 1969, chi phái Cao đài tiên thiên Tỉnh Bình Định cùng với dòng họ Ngô xây dựng lăng “Ninh Hòa quận công tự” tại địa điểm mới: Cầu Hiệu, Thôn Thái Định, Xã Cát Tài. Sau năm 1975, khu lăng được trưng dụng làm trụ sở Ủy ban nhân dân Xã Cát Tài cho đến hiện nay (Nguyễn Thanh Quang, 2013b; Song Lan, 2014).

Mặt khác, Đại Nam nhất thống chí (soạn thời Tự Đức) khi miêu tả Mộ Võ Tánh ghi: “Mộ người đội trưởng (không rõ tên) chết theo cũng ở đấy.”

Ảnh dưới là mộ Võ Tánh ngày trước trên nền đất.

Lang Vo Tanh_mo ngay truoc (Ha Dinh Nguyen 2015)
Mộ Võ Tánh trước khi trùng tu (Hà Đình Nguyên, 2015)

Nằm kề bên mộ tướng Võ Tánh là mộ Thống binh Nguyễn Tấn Huyên, tùy tướng của Ngô Tùng Châu chết theo chủ tướng. Khi trùng tu, hai mộ nằm trên nền gạch tàu. Hậu cảnh là bình phong có đắp phù điêu chữ Hán “trung”.

Lang Vo Tanh_mo Nguyen Tan Huyen & Vo Tanh (Thuy Khue 2019)
Mộ Nguyễn Tấn Huyên và Võ Tánh (Thụy Khuê, 2019)

Võ Tánh, Ngô Tùng Châu và Nguyễn Tấn Huyên còn được thờ trong Đền Hiển Trung thuộc trấn Gia Định xưa (ở vị trí “giáp mối” giữa đường Nguyễn Trãi và đường Nguyễn Cư Trinh ngày nay). Ba người được ở bàn thờ chính giữa, là vị trí trang trọng nhất, cho thấy nhà Nguyễn đánh giá cao họ cao đến thế nào. Ngày nay, Đền Hiển Trung đã bị quân Pháp phá bỏ hoàn toàn trước năm 1954.

Những dấu tích khác

Đại Nam nhất thống chí chép có hai thành cổ khác, cho đến đời Tự Đức đã đổ nát nhưng dấu cũ vẫn còn vào thời ấy:

  • An Thành, tục gọi Thành Bắc, phía đông Huyện Tuy Viễn, do người Chiêm Thành xây;
  • Phú Phong, tục gọi Thành Bách Bích cũng có tên là Thành Uất Trì, ở trên núi Thôn Phú Phong, phía tây huyện.

Văn học–nghệ thuật liên quan đến Đồ Bàn

Văn tế Võ Tánh và Ngô Tùng Châu – Đặng Đức Siêu

Than rằng:
Đạo thần tử hết lòng thờ chúa, gian nan từng giãi dạ trung thành
Đấng anh hùng vì nước quên mình, điên bái(A) chẳng sai lòng tiết nghĩa.

Ngọc dầu tan, vẻ trắng nào phai
Trúc dẫu cháy tiết ngay vẫn để.

Nhớ hai người xưa
Thao lược ấy tài
Kinh luân là chí.

[…]

Hậu quân thuở trao quyền tứ trụ(B), chữ ân uy lớn nhỏ đều phu
Lễ bộ phen làm việc chính khanh(C), bề trung ái sớm khuya chẳng trễ.

[…]

Miền biên khổn hai năm chia sức giặc(D), vững lòng tôi bao quản thế là nguy
Cõi Phú Xuân một trận thét uy trời, nặng việc nước phải lấy mình làm nhẹ.

Sửa mũ áo lạy về bắc khuyết, ngọn quang minh(E) hun mát tấm trung can
Chỉ non sông giã với cô thành, chén tân khổ(F) nhắp ngon mùi chính khí.

[…]

Nay gặp tiết thu;
Bầy tuần quý tế.

Hai chữ cương thường nghĩa nặng, rõ cổn hoa cũng thỏa chốn u minh
Nghìn thu hà nhạc khí thiêng, sắp mao việt để nền bình trị.

Hỡi ôi! Thượng hưởng!

Chú thích:

(A) điên bái: loạn lạc

(B) tứ trụ: bốn quân hàm tướng cấp cao: Tả, Hữu, Tiền và Hậu Tướng quân

(C) chính khanh: chức quan cao, trên thiếu khanh.

(D) chia sức giặc: Võ Tánh cầm chân quân Tây Sơn giúp Nguyễn Ánh chiếm được Phú Xuân.

(E) ngọn quang minh: ngọn sáng soi, chỉ ngọn lửa của Võ Tánh

(F) chén tân khổ: chén đắng cay, chỉ thuốc độc của Ngô Tùng Châu

Câu đối

Câu đối trước cửa Đền Chiêu Trung (Quách Tấn, 1965):

Sửa mũ áo lạy về bắc khuyết, ngọn lửa hồng mát mẻ tấm trung can
Chỉ nước non giã với cổ thành, chén thuốc độc ngọt ngon mùi chính khí

Hai câu tương tự có trong bài văn tế của Đặng Đức Siêu.

Câu liễn nơi Đền thờ Song Trung:

Quốc sỹ vô song, song quốc sỹ
Trung thần bất nhị, nhị trung thần
.

Câu đối của Phạm Quỳnh về cái chết của Võ Tánh và Ngô Tùng Châu:

Cô thành đương nhật nghị nhiên, vị quốc tận trung, võ tướng văn thần tranh nhất tư
Cổ mộc tà dương kiến thử, linh nhơn khí cảm, linh tư di lũng tự thiên thu
.

Dịch:

Nghĩ chuyện thành côi ngày ấy, vì nước trọn trung, văn võ tranh nhau tròn một thác
Thấy cảnh cây già nắng xế, khiến lòng bỗng nhớ, miếu mồ còn lại với nghìn thu.

Ca dao

Trước cái chết anh dũng của vị tướng Võ Tánh, người dân Bình Định lưu truyền câu hát dưới đây:

Ngó lên ngọn tháp Cánh Tiên
Cảm thương quan Hậu thủ thiền (thành) ba năm!

Ba năm quan Hậu thủ thiền
Thành cô lửa dậy tôi hiền gởi thân.

Quan Hậu: chức Hậu quân của Võ Tánh, một trong năm hàm tướng cao thời xưa: Tiền, Hậu, Tả, Hữu và Trung quân.

Thiền: thành, do tiếng địa phương nói trại ra.

Thơ

Tích vũ Huyền Trân – Ngô Thì Nhậm
Nguyễn Văn Bách dịch thơ:

Công chúa Huyền Trân tuôn lệ hận
Đêm xuân hóa những trận mưa sầu
Nước nhà tình nhạt thù son phấn
Chồng vợ duyên hèn tuổi ngọc châu

Tuong tho Huyen Tran Cong chua
Tượng thờ Huyền Trân Công chúa

Sính lễ hai châu ngàn thuở hưởng
Giai nhân muôn dặm một đời đau
Oán hờn theo với cơn trào dậy
Xóm bến đêm đêm lã chã rào

Tâm sự nàng Mỵ Ê – Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu

Điệu Vân thê

Châu Giang một dải sông dài
Thuyền ai than thở một người cung phi!

Đồ Bàn thành phá hủy
Ngọa Phật tháp thiên di
Thành tan, tháp đổ
Chàng tử biệt, thiếp sinh ly
Sinh ký đau lòng kẻ tử qui!

Sóng bạc ngàn trùng
Âm dương cách trở
Chiên hồng một tấm
Phu thê xướng tùy.

Điệu Hoa phong lạc

Ôi mây! Ôi nước! Ôi trời!
Đũa ngọc, mâm vàng, giọt lụy rơi
Nước sông trong đục
Lệ thiếp đầy vơi

Bể bể, dâu dâu, khóc nỗi đời!
Trời ơi! nước hỡi! mây trời!
Nước chảy, mây bay, trời ở lại
Để thiếp theo chàng mấy dặm khơi!

Tương truyền sau khi Vương phi Mỵ Ê của Chiêm Thành trầm mình xuống dòng Châu Giang, những buổi sáng sớm sương mù và đêm trăng thường nghe thấy có tiếng than ai oán ở khúc sông đó (cả dòng sông này chảy trọn vẹn trong Tỉnh Hà Nam ngày nay). Người dân bèn lập đền thờ cúng bên bờ sông.

Một thời gian khá lâu khi tuổi đời ngày càng chồng chất, vua Thái Tông lại có dịp ngự thuyền trên dòng Châu Giang. Khi đến địa phận Phủ Lý, nhà Vua thấy một ngôi miếu thờ xinh đẹp. Ngài bèn hỏi thì tả hữu nói đó là miếu do dân cư quanh vùng lập nên để thờ tự Vương Phi Mỵ Ê, và miếu này rất linh hiển. Vua Thái Tông ngồi lặng thinh tư lự và cảm kích, rồi ngài thốt lên rằng: “Vương phi Mỵ Ê quả là một giai nhân trung trinh tiết liệt.” Rồi phong Mỵ Ê là Hiệp Chính Hựu Thiện Phu nhân.

Sử thần Ngô Sĩ Liên viết: “Phu nhân giữ nghĩa không chịu nhục, chỉ theo một chồng cho đến chết, để toàn vẹn trinh tiết của người đàn bà. Người làm tôi mà thờ hai vua tức là tội nhân đối với phu nhân. Vua khen là trinh tiết, phong làm phu nhân để khuyến khích người đời sau là đáng lắm.”

Công chúa Huyền Trân – Hoàng Cao Khải

Đổi chác khôn ngoan cũng nực cười
Vốn đà không mất lại thêm lời
Hai châu Ô Lý vuông ngàn dặm
Một gái Huyền Trân của mấy mươi!

Lòng đỏ khen ai lo việc nước
Môi son phải giống mãi trên đời
Châu đi rồi lại châu về đó
Ngơ ngẩn trông theo mấy chú Hời

(Văn đàn bảo giám, Trần Trung Viên và Hư Chu, Mặc Lâm xuất bản, 1976)

Ngày xưa có một nhóm thơ rất nổi tiếng hình thành trên đất Bình Định gồm bốn thành viên Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Yến Lan và Chế Lan Viên. Nhóm thơ này lấy tên “Bàn Thành tứ hữu” nghĩa là bốn người bạn ở Thành Đồ Bàn. Trong số này, Chế Lan Viên sáng tác tập thơ Điêu tàn.

Đợi người Chiêm nữ – Chế Lan Viên

Tối hôm nay chị Hằng nghiêm nghị quá
Dãy cây vàng đợi mộng, đứng im hơi
Không một mối trăng ngà rung muôn lá
Không một làn mây bạc vẩn chân trời

Thành Đồ Bàn cũng thôi không nức nở
Trong sương mờ huyền ảo, lắng tai nghe
Từ một làng xa xôi bao tiếng mõ
Tan dần trong im lặng của đồng quê

Bên cửa tháp ngóng trông người Chiêm nữ
Ta vẩn vơ nhìn không khí bâng khuâng
Vài ngôi sao lẻ loi hồi hộp thở
Một đôi cành tơ liễu nhúng trong trăng!

Nàng không lại, và nàng không lại nữa!
Cả thân ta dần tan trong hơi thở
Ôi đêm nay, lòng hỡi, biết bao sầu!
Kìa trời cao, trên mãi chín từng cao

Hồn ta bay trong một làn khói tỏa
Chẳng biết rồi lưu lạc đàn nơi nao?

Miền vu quy – Trương Thị Kim Dung

Gắt nắng Chiêm Thành chết mưa Ô Lý
Sóng Bồng Nga ngân cát lệ Huyền Trân
Đồ Bàn hưng phế bao lần
Gái ngoan xứ Bắc cung tần những ai …

Nhạc xuân – Nguyễn Bính

Hôm nay là xuân, mai còn xuân
Xuân đã sang đò nhớ cố nhân
Người ở bên kia sông cách trở
Có về Chiêm Quốc như Huyền Trân?

Hôm nay là xuân, mai còn xuân
Phơi phới mưa sa nhớ cố nhân
Phận gái ví theo lề ép uổng
Đã về Chiêm Quốc như Huyền Trân?

Hôm nay là xuân, mai còn xuân
Lăng lắc đường xa nhớ cố nhân
Nay đã vội quên tình nghĩa cũ
Mà về Chiêm Quốc như Huyền Trân?

Hôm nay là xuân, mai còn xuân
Một cánh đào rơi nhớ cố nhân
Cung nữ như hoa vườn thượng uyển
Ai về Chiêm Quốc với Huyền Trân?

Hôm nay là xuân, mai còn xuân
Rượu uống say rồi nhớ cố nhân
Đã có yêu nhau là đến thế
Đừng về Chiêm Quốc nhé Huyền Trân!

Đừng về Chiêm Quốc nhé Huyền Trân!
Ta viết thơ này gửi cố nhân
Năm mới tháng giêng mồng một tết
Còn nguyên vẹn cả một mùa xuân.

Huyền Trân ơi!
Mùa xuân, mùa xuân, mùa xuân rồi
Giờ đây chín vạn bông trời nở
Riêng có tình ta khép lại thôi!

Viếng Trà Bàn – Vân Đình

Đô kỳ hai nước dấu còn đây
Dâu bể bao lần cuộc đổi thay
Tiên Tháp đồi cao ngơ ngẩn bóng
Song Trung miếu quạnh thẫn thờ cây
Mưa sa há quản lòng voi đấy
Nắng dãi nài chi dạ nghễ này
Thành quách ngàn năm trời man mác
Bùi ngùi dạ khách bước khôn nguôi.

Âm nhạc

Ca khúc Hận Đồ Bàn của Xuân Tiên. Về hoàn cảnh sáng tác của ca khúc này, nhạc sĩ Xuân Tiên chia sẻ rằng thời trẻ ông đã nghiên cứu về âm điệu của các miền đất nước, trong đó có vùng Quy Nhơn, Bình Định. Sau này khi đã vào Sài Gòn, làm trong đài phát thanh, ông muốn sáng tác một ca khúc với chủ đề khác với chủ đề tình yêu đôi lứa của các nhạc sĩ khác nên mới tìm hiểu lại lịch sử của vùng đất Bình Định, về dân tộc Cham và lịch sử Champa mấy trăm năm trước đó để sáng tác thành ca khúc Hận Đồ Bàn, nói thay lời của người dân nước Cham bị vong quốc.

Hận Đồ Bàn – Xuân Tiên

Rừng hoang vu vùi lấp bao nhiêu uất căm hận thù
Ngàn gió ru muôn tiếng vang trong tối tăm mịt mù
Vạc kêu sương buồn nhắc đây bao lúc xưa quật cường
Đàn đóm vương như bóng ai trong lúc đêm trường về.

Rừng trầm cô tịch đèo cao thác sâu
Đồi hoang suối reo hoang vắng cheo leo
Ngàn muôn tiếng âm tháng, năm buồn ngân
Âm thầm hòa bài hận vong quốc ca.

Người xưa đâu? Mà tháp nghiêng cao đứng như buồn rầu
Lầu các đâu? Nay thấy chăng rừng xanh xanh một màu? …

Video trình diễn sống, Bảo Tuấn (ASIA 16), với múa minh họa:
https://www.youtube.com/watch?v=c0iCnAMiJ0g

MV, Huỳnh Phi Tiễn:
https://www.youtube.com/watch?v=4r4OetcVklc

Nước non ngàn dặm, làn điệu Nam Bình của Văn Lang:

Theo Vương Hồng Sển (1994), bài theo điệu Nam Bình này xuất xứ từ thời Tự Đức, chứ không phải do Huyền Trân Công chúa sáng tác như một số người lầm tưởng.

Bản ghi âm, Quế Trân:
https://bcdcnt.net/dan-ca/hue-nuoc-non-ngan-dam-541.html

Đoản khúc Nước non ngàn dặm ra đi, trường ca Con đường cái quan – Phạm Duy

Nước non ngàn dặm ra đi
Nước non ngàn dặm đi
Dù đường thiên lý xa vời
Dù tình cố lý chơi vơi
Cũng không dài bằng lòng thương mến người

Bước đi vào lòng muôn dân
Bước đi vào lòng muôn dân
Bằng hồn trinh nữ mơ màng
Bằng tình say đắm ơi chàng
Ước nuôi dần hòa bình trong ái ân

Nhưng ánh tháp vàng
Cây quế giữa rừng
Chỉ một mùa tang là hương là sắc tan
Tàn cả tình yêu
Vì hận còn gieo
Đất nước cháy theo với ngọn lửa thiêu

Mới hay tình nhẹ như tơ
Mới hay tình nhẹ như tơ
Mộng ngoài biên giới mơ hồ
Chẳng ngăn được sóng vỡ bờ
Với đêm mờ hồn về trên tháp ma

Video, Quang Lê & Mai Thiên Vân:  https://www.google.com/search?q=N%C6%B0%E1%BB%9Bc+non+ng%C3%A0n+d%E1%BA%B7m+ra+%C4%91i&rlz=1C1AVFA_enVN874VN874&oq=N%C6%B0%E1%BB%9Bc+non+ng%C3%A0n+d%E1%BA%B7m+ra+%C4%91i&aqs=chrome.0.69i59l2j35i39j69i59j69i60.1358j0j8&sourceid=chrome&ie=UTF-8

Truyện

Am mây ngủ, Chương 2 – Thích Nhất Hạnh (1982)

Đối với một người như Phụ vương nàng, Huyền Trân không thể kể lể dài dòng. Trúc Lâm đại sĩ từng thăm viếng Chiêm Thành và lưu lại kinh đô Trà Bàn của nước này hơn bảy tháng trời. Trong thời gian đó, ngài làm thượng khách của Vua Chàm. Ngài tìm hiểu về nếp sống văn hóa và phong tục của vương quốc này và đem lòng yêu mến ông Vua Chàm còn trẻ tuổi và can trường ấy. Harijit là một ông vua thông minh. Hồi phụ vương nàng gặp chàng. Harijit mới có ba mươi bảy tuổi. Vương hiệu của chàng là Jaya Simhavarman đệ tam, người Đại Việt thường gọi chàng là Chế Mân. Chính nhờ vào đảm lược của chàng mà Chiêm Thành phá vỡ được âm mưu xâm lăng của quân đội Hốt Tất Liệt.

Phụ vương nàng mở đầu chuyến du Chiêm vào tháng ba năm Tân Sửu, tức là bảy năm về trước. Ngày từ biệt kinh đô Phật Thệ, ngài đã hứa với Harijit là sẽ gả Huyền Trân, đứa con gái yêu quý của ngài cho chàng. Hồi đó Công chúa mới mười bốn tuổi. Ngài đã nói với Harijit rằng Công chúa còn bé lắm, và chàng hãy đợi tới lúc Công chúa lên mười tám mới nên cho phái bộ về Thăng Long để làm lễ vấn danh. Huyền Trân còn nhớ cái ngày Thượng hoàng đi Chiêm Thành về. Đó là vào tháng mười một năm Sửu, khí trời đã rét lắm. Trước khi về Núi Yên Tử, Thượng hoàng ghé lại kinh sư đàm đạo thật lâu với Vua Anh Tông, anh cả của nàng. Có lẽ hai người đã nói nhiều về chính sách ngoại giao Chiêm Việt.

Hôm huynh vương mở tiệc chay cúng dường Thượng hoàng, Công chúa và anh nàng là Huệ Võ Vương Quốc Chẩn cùng được vời đến tham dự. Anh Chẩn của nàng hồi đó đã hai mươi tuổi rồi nên đi đứng khá chững chạc. Sau bữa cơm, Thượng hoàng gọi riêng nàng lại và cho nàng biết ngài đã hứa gả nàng cho vương quốc họ Chế. Hồi đó, tuy đã mười bốn tuổi rồi mà Công chúa vẫn còn trẻ con lắm. Nàng đã đón nhận cái tin đó như một cái tin không có liên hệ trực tiếp tới mình. Nàng chỉ cúi đầu vâng dạ, và cho rằng chuyện chồng con là một chuyện xa vời, không cần nghĩ tới lúc đó.

Ai ngờ thời gian đi vùn vụt như một mũi tên, và vào lúc bất ngờ nhất, phái bộ của nước Chiêm Thành đến. Phái bộ này đông hơn một trăm người, do sứ thần Chế Bồ Đài cầm đầu, đem theo không biết bao nhiêu là bảo vật trân quý để làm lễ cầu hôn. Đó là vào đầu tháng hai năm Ất Tỵ, khi chiếc bánh chưng cuối cùng trong cung vừa ăn hết và nàng vừa mới lên mười tám tuổi. Bất thần đứng trước một tình thế cấp bách, Công chúa sinh hoảng. Nàng không biết tỏ cùng ai. Mẹ nàng, Hoàng hậu Khâm Từ, đã mất năm nàng lên sáu tuổi. Bà dì của nàng là Hoàng hậu Tuyên Từ, em ruột của mẹ nàng, thì tính tình nghiêm nghị quá, không bao giờ Công chúa nghĩ là có thể bộc lộ tâm tình với bà.

Nước Chiêm Thành đối với Công chúa là một cái gì hoàn toàn xa lạ. Từ nhỏ đến giờ, ngoài chuyến đi về thăm quê nội ở Hải Dương, nàng chưa từng được đi đâu cả. Chính nước Đại Việt là nước của mình mà Công chúa còn chưa biết rõ thì làm sao nàng biết được thế nào là nước Chiêm Thành. Từ lúc còn bé thơ, Công chúa đã thuộc lòng câu: “Nước Đại Việt, bắc giáp Tống, tây giáp Lão Qua, nam giáp Chiêm Thành, đông giáp biển Nam Hải” do thầy học của nàng là Văn Túc Vương Đạo Tái dạy. Vị giáo sư này cũng đã từng dạy anh nàng là Quốc Chẩn. Ông nói là từ xưa đến nay Chiêm Thành và Đại Việt đã từng có can qua với nhau nhiều lần rồi, và phần đất miền Nam của Đại Việt bây giờ ngày xưa vốn thuộc về lĩnh thổ nước Chiêm.

Ngay chiều hôm sứ thần Chiêm Thành cùng phái bộ dâng lễ vật cầu hôn của Vua Chàm, Vua Anh Tông đã về Cung Thánh Từ báo liền cho Thái hậu Tuyên Từ biết.

Lúc đó Công chúa đang đứng hầu ngay bên Thái hậu mà cũng không được anh mình ban cho lấy một lời. Công chúa biết đây là việc đại sự quốc gia, mình không có quyền lạm bàn, dù việc có liên quan tới thân mạng mình đi nữa. Vua chỉ nhìn nàng hồi lâu mà không nói gì. Một lát sau, thu hết can đảm, Công chúa hỏi: “Vậy huynh vương đã nhận lời chưa?” Hỏi xong câu hỏi, Công chúa ngước nhìn Thái hậu thì gặp hai con mắt rất đỗi nghiêm nghị của bà. Nàng sợ sệt cúi đầu, nhưng Vua Anh Tông đã dịu dàng nói: “Chưa, việc này trọng đại lắm, ta phải hỏi ý quần thần mới được”.

Sáng hôm sau, Vua Anh Tông thiết triều để nghị luận về việc cầu hôn của vua Chàm. Buổi trưa hôm ấy Huệ Võ Vương Quốc Chẩn về cung và báo tin cho dì và em gái biết là triều đình đã quyết định nhận sính lễ của Vua Chàm. Anh Chẩn thuật lại những chi tiết của buổi chầu.

Ban đầu, nhiều người chống đối việc chấp nhận sính lễ. QuanTham tri Chính sự Đoàn Nhữ Hài là một trong những người chống đối mạnh mẽ nhất. Ông này đã từng đi sứ Chiêm Thành và cũng đã từng đề nghị việc sứ thần Việt không nên lạy Vua Chàm mỗi khi vào bệ kiến, nhưng Văn Túc Vương Đạo Tái đã đứng dậy nói rằng ông hoàn toàn tán đồng việc gả Công chúa cho Vua Chàm. Ông nói: “Thượng hoàng là người trông xa nghĩ rộng, và một khi ngài đã có chủ định về vấn đề nào tức là ngài đã cân nhắc và suy xét kỹ càng. Tại miền Bắc, giặc Nguyên vẫn lăm le muốn trở lại Đại Việt; nếu ở miền Nam hai nước Chiêm và Việc không chung sống hòa bình với nhau thì cả hai đều có thể trở thành mồi ngon của họ. Công chúa về Chiêm là để thắt chặt tình hữu nghị giữa hai nước và để xây dựng một nền hòa bình Chiêm Việt lâu dài, đâu phải là một chuyện gả bán thông thường. Vả lại, một lời hứa của Thượng hoàng, ta không thể xem như là có thể xóa bỏ một cách dễ dàng được. Đó là danh dự của cả một nước. Xin Hoàng thượng và triều thần suy xét”.

Sau khi Văn Túc Vương nói thế, quan Nhập nội Hành khiển là Trần Khắc Chung cũng đứng dậy tán thành. Trước hết quan Hành khiển nhấn mạnh về sự quan trọng của lời hứa Thượng hoàng. Sau đó ông nói đến việc Vua Chiêm đề nghị nhượng đất hai Châu Ô và Ri làm lễ dẫn cưới. Ông nói rằng việc gả bán này rất có lợi vì nó giúp ta mở rộng bờ cõi về phía Nam mà không tốn một giọt máu viễn chinh.

Luận cứ của ông đã thuyết phục được quan Tham tri Chính sự Đoàn Nhữ hài và những người đứng về phía chống đối. Có nhiều biện tài cho nên ông đã thuyết phục được vua và triều thần, nhất là khi Hoàng đế Anh Tông là một người con chí hiếu. Cuối cùng, cả triều thần đều đồng ý việc chấp nhận sính lễ và định ngày mai sẽ báo tin cho phái bộ Chiêm thành là lễ cưới được tổ chức vào tháng sáu sang năm.

Nghe anh Quốc Chẩn thuật tới đó. Huyền Trân liền rút lui về phòng nàng. Số phận công Chúa như thế là đã định. Hết rồi những ngày thơ ấu. Hết rồi những ngày vô tư cười đùa dưới mái cung quen thuộc. Hết rồi những mơ ước thường tình. Một nàng công chúa sinh ra là để đền trả công ơn đất nước. Cũng không khác gì một vị hoàng tử phải can đảm ra gánh vác trách vụ của một ông vua. Trước kia, khi hầu chuyện với Thượng hoàng, nàng thấy việc về Chiêm của nàng là một cử chỉ đẹp đẽ, phù hợp với nguyện vọng của hai dân tộc Việt Chàm. Bây giờ đây nghe thuật lại những lời của quan Hành khiển, nàng lại có cảm tưởng nàng là món hàng đem đi đổi chác. Công chúa gục đầu trong hai tay và khóc nức nở một hồi lâu.

Tối hôm đó, Công chúa được Vua Anh Tông gọi đến vỗ về và khích lệ. Công chúa nghiêng đầu chăm chú nghe những lời dạy bảo của anh. Chưa bao giờ Vua Anh Tông dành cho nàng nhiều thì giờ như thế. Vua nói sang năm, đến ngày Công chúa vu quy, Vua sẽ cho phép nàng đem theo bất cứ người hầu cận nào mà nàng ưng ý và Vua cũng sẽ chọn nàng một thị nữ gốc Chàm để lo việc thông dịch cho nàng trong những tháng đầu. Vua khuyên nàng từ ngày mai nên bắt đầu học tiếng Chiêm Thành và hứa sẽ tìm cho nàng một vị giáo thọ trong số những người học sĩ Chàm có mặt ở kinh đô. Vua lại nói rằng thế nào những liên lạc ngoại giao Chiêm Việt cũng sẽ trở thành khắn khít trong tương lai và có thể Thượng hoàng sẽ có dịp đi vân du sang Chiêm trong vài năm tới.

Công chúa hỏi anh về chuyện nhượng địa. Vua nói rằng việc vua Chàm có ý định dâng hai châu Ô và Ri là do từ ý vua ấy đề nghị để bày tỏ thiện chí muốn xây dựng tình hữu nghị giữa hai nước, chứ không phải chuyện mua bán. Việc này không ảnh hưởng gì đến quyết định của Thượng hoàng ngày trước, cũng không ảnh hưởng gì đến quyết định hôm nay của Vua. Trong triều có người vì tham đất nên tán thành chuyện thông gia giữa hai nước, nhưng riêng Vua, Vua không nghĩ như họ. Vua rất quan tâm đến hạnh phúc của Công chúa và nghĩ rằng cuộc nhân duyên này có thể mở ra một chân trời ngoại giao mới, có rất nhiều hứa hẹn.

Nghe Vua nói thế, Huyền Trân nhìn Vua với cặp mắt biết ơn. Mấy năm gần đân, anh Thuyên của nàng thường bận rộn vì việc nước, ít khi có dịp nói chuyện tâm tình với các em. Một lần, cách đây hơn sáu tháng, Vua có gọi Huyền Trân vào và cho nàng xem tập Thủy Vân tùy bút của vua, trong đó toàn là những bài thơ và những bức họa thủy mặc do chính Vua ngự chế sau những buổi chầu và vào những ngày tương đối nhàn nhã. Tập này Vua chưa từng cho ai xem hết, ngoài nàng, và Vua dặn đừng cho ai hay biết là Vua có vẽ và có làm thơ.

Anh Thuyên của nàng vừa thông minh vừa thận trọng nên rất được Thượng hoàng tin cậy. Hồi trẻ, anh chỉ có một cái tật là ưa rượu xương bồ, giấu Thượng hoàng mà uống, và một lần Thượng hoàng bắt gặp. Việc này xảy ra vào năm Ất Mùi, lúc Huyền Trân mới được tám tuổi. Năm đó, Thượng hoàng đang tập sự xuất gia ở hành cung Vũ Lâm. Một hôm, bất thần ngài về kinh sư mà các quan trong triều không ai hay biết cả. Trong lúc ấy, Vua Anh Tông uống rượu xương bồ say quá. Thượng hoàng thong thả đi quan sát trong cung điện từ giờ Thìn đến giờ Tỵ mà cũng không thấy Vua đâu. Nghe ngài hỏi, cung nhân liền đánh thức Vua, nhưng lúc ấy Vua say quá dậy không nổi. Thượng hoàng lập tức đi về Phủ Thiên Trường, xuống chiếu cho các quan ngày mai về họp tại Phủ Thiên Trường. Mãi đến quá trưa Vua mới tỉnh. Nghe cung nhận thuật lại cớ sự, Vua sợ quá vội đi ra thì không thấy bóng ai cả. Qua tới Chùa Tư Phúc, Vua gặp một người học trò đại tập tên là Đoàn Nhữ Hài, liền nhờ anh này thảo cho một tờ biểu tạ tội, rồi hai vua tôi lấy thuyền đi về Phủ Thiên Trường. Sáng hôm sau Đoàn Nhữ Hài thay Vua đội mưa quỳ trước sân từ sáng đến chiều để dâng biểu. Đọc biểu thấy lời lẽ khẩn thiết, Thượng hoàng cảm động gọi Vua và bảo:

– Ta còn sống đây mà người còn dám làm như thế, thì khi ta chết đi cớ sự sẽ như thế nào?

Vua dập đầu tạ tội. Từ đó trở đi Vua không động đến rượu xương bồ.

Những năm mới làm vua, anh Thuyên của nàng cũng còn ham chơi lắm. Ban ngày bận việc triều chính, cho nên anh chỉ đi chơi ban đêm. Cũng như Quốc Chẩn và nàng, Vua không ưa bị tù túng. Ban đêm vua thường đi chơi bằng kiệu, thăm viếng hết mọi nơi trong kinh kỳ. Thường thường Vua có đem theo mấy người thị vệ. Có một lần đi chơi đến quân phường, Vua gặp một bọn vô lại đang ném đá vào nhau. Một đứa ném đá vào đầu Vua chảy máu. Người hầu la lên:

– Đây là kiệu của vua, bọn bay đừng xâm phạm.

Bọn vô lại chạy tứ tán. Hôm sau Thượng hoàng thấy vết thương ở trán, hỏi. Vua cứ thực thà tâu lại cớ sự. Hôm ấy Vua cũng bị Thượng hoàng quở cho một hồi.

Anh Thuyên của nàng sinh vào năm Tí, làm vua từ lúc mười tám tuổi. Lên ngôi hồi tháng ba thì tháng chín mẹ mất. Phủ phục bên linh sàng của Hoàng Thái hậu Khâm Từ, anh khóc đến đỏ cả hai mắt. Huyền Trân lúc ấy cũng khóc, nhưng Công chúa cứ tin là mẹ mình có thể sống lại bất cứ lúc nào. Anh Quốc Chẩn khóc to lớn hơn ai hết. Anh gào thét đến nỗi Thượng hoàng phải tới nắm vai anh thật chặt và nhẹ nhàng bảo anh khóc nhỏ lại.

Hoàng Thái hậu Khâm Từ là một bà mẹ rất ngọt ngào, thông minh và nhân từ. Đối với kẻ dưới, bà rất rộng lượng cho nên ai cũng yêu mến bà. Bà lại nổi tiếng là người can đảm không ai bằng. Có một hôm bà ngồi trên vọng lâu cùng với Thượng hoàng xem võ sĩ đánh thi với cọp thì có một con cọp nhảy được lên lầu khiến tất cả đều hoảng sợ bỏ chạy. Lúc ấy bà thản nhiên lấy một chiếc chiếu lên che cho Vua và mình. Con cọp gầm lên nhưng không động đến hai người, và cuối cùng nhảy xuống. Một lần khác ngự ở Điện Thiên An với Thượng hoàng để xem tập voi ở Long Trì, cũng có một con voi xông vào, định lên trên điện. Quân hầu chạy tứ tán, chỉ có một mình bà ngồi lại với Thượng hoàng. Con voi cuối cùng rồi không xông lên điện. Bà thật xứng đáng là con gái của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, người có công đầu trong việc đánh bại cuộc xâm lăng của quân Nguyên.

Sau khi mẹ của Công chúa mất thì bà dì của nàng được phong làm Thái hậu Tuyên Từ. Liền sau đó, anh Quốc Chẩn cũng được phong làm Huệ Võ Đại Vương. Anh mới mười ba tuổi, Công chúa nhớ rất rõ ngày lễ phong vương của anh Chẩn. Súng sính trong bộ áo mão lịch kịch và nặng nề, anh Quốc Chẩn của nàng tập đi từng bước chậm rãi và đường bệ, trông tức cười làm sao. Mặt anh ấy bí xị gần như muốn khóc. Anh Chẩn chỉ ưa chạy nhảy, leo trèo và đánh nhau với các vương tôn cùng lứa. Thái hậu Tuyên Từ rất nghiêm khắc. Tuy bà có thương yêu ba anh em nàng thật nhưng không ai dám dễ ngươi với bà. Anh Thuyên đã làm vua mà cũng sợ bà thin thít; bà nói gì anh cũng vâng lời răm rắp. Có lần Thượng hoàng nói với anh:

– Ngày trước quần thần thường xưng tụng ta là một ông hiếu hoàng, thực ra quan gia mới xứng đáng danh hiệu đó.

Thượng hoàng gọi Vua là “quan gia”. Có một bữa Huyền Trân hỏi “quan gia” là gì, ngài nói:

– Quan gia là người biết xem đất nước là của công chứ không phải là của riêng mình, và xem cả thiên hạ là nhà của mình.

Mặc dù Thái hậu Tuyên Từ dạy dỗ rất nghiêm, Huyền Trân vẫn không bỏ được tính nết tinh nghịch của mình. Vắng mặt bà, nàng vẫn cứ đùa giỡn thỏa thích. Tuy tinh nghịch nhưng không bao giờ nàng rắn mắt cho nên các cung nhân thường cưng quý nàng và không bao giờ mách lại với Thái hậu. Anh Quốc Chẩn của nàng cũng thường hay kéo nàng tới tham dự những cuộc chơi mà anh tổ chức với các vương tôn công tử cùng lứa tuổi. Anh thường rủ nàng sang sân chùa Từ Phúc chơi, và ngoài thì giờ học hành hai anh em thường tìm tới dưới bóng mát của những cây tùng, cây bách phía sau chùa để nô đùa cùng các bạn.

Năm Huyền Trân được mười ba tuổi thì Hoàng tử Mạnh sanh. Hoàng tử Mạnh là con Vua Anh Tông. Mẹ của Hoàng tử là Hoàng hậu Thuận Thánh, con gái đầu của Hưng Nhượng Vương Quốc Tảng. Bà đã sinh đến hai hoàng nam rồi nhưng đều không nuôi được, cho nên kỳ này bà bàn với Vua giao phó Hoàng tử Mạnh cho thúc phụ của Thượng hoàng là Chiêu Văn Vương Nhật Duật nuôi. Nhờ vậy mà Huyền Trân thường có dịp cùng anh Quốc Chẩn đến chơi nhà ông chú để thăm cháu mình. Mỗi lần đến nhà ông chú, Huyền Trân lại được phép ẵm Hoàng tử Mạnh. Đứa cháu mà nàng ôm trong tay, nàng nghĩ, sẽ trở thành một ông vua sau này, và nàng tinh nghịch lấy một ngón tay đưa vào nách cháu để nhìn ông vua tí hon cười lên sằng sặc trong tay mình.

Năm sau Thượng hoàng đi du hóa ở Chiêm Thành. Khi trở về ngài, cho Huyền Trân biết là ngài đã hứa gả nàng cho Vua Chiêm. Ngài nói là ba bốn năm nữa Vua Chiêm mới cho người sang dâng sính lễ. Ở xứ nàng, con gái lớn lên cha mẹ đặt đâu thì con ngồi đấy. Công chúa cúi đầu vâng dạ, nhưng trong thâm tâm vẫn nghĩ rằng ba bốn năm sau còn là chuyện xa vời.

Cho đến buổi trưa ngày anh Quốc Chẩn nhận sính lễ, Huyền Trân mới thấy rõ đời mình đã thực sự chuyển sang một hướng mới. Nàng khóc, nhưng chiều hôm đó, Vua Anh Tông ôn tồn dạy bảo cho nàng, với tất cả tình thương của một người anh cả cho đứa em út. Đêm đó, Huyền Trân thao thức không ngủ. Nàng đợi cho đến sáng để vào hầu Thái hậu Tuyên Từ, xin phép bà để về núi Yên Tử thỉnh huấn Thượng hoàng hiện đang tu hành trên ấy. Thái hậu truyền lấy kiệu cho nàng đi và cho Thị Ngọc đi theo nàng để hầu cận. Thị Ngọc suýt soát tuổi nàng và dáng người cũng dong dỏng cao như nàng.

Ngồi trên kiệu, Huyền Trân nghĩ đến thầy học của nàng là Văn Túc Vương Đạo Tái. Theo anh Quốc Chẩn thuật lại thì Văn Túc Vương là người đầu tiên đã đứng lên tán thành chuyện hôn nhân của nàng và vua Chiêm. Ông là người nổi tiếng bậc nhất về văn học ở kinh sư. Ông thương yêu Huyền Trân rất mực, và thường nói với Thượng hoàng rằng Công chúa là một cô gái thông minh. Văn Túc Vương không phải như quan Hành khiển Trần Khắc Chung. Nếu ông có tán đồng về việc nhân duyên này thì không phải là vì ông đã tính toán chuyện được mất theo lẽ thường tình. Chắc chắn là ông đã nghĩ tới ý nguyện của Thượng hoàng và hạnh phúc của Công chúa. Huyền Trân rất mến thương ông. Phụ vương của nàng cũng tỏ ra có biệt nhãn đối với ông. Thượng hoàng yêu mến ông hơn hết trong số các em chú bác khác của ngài. Văn Túc Vương là con của Thượng tướng Trần Quang Khải, người đã sáng tác thi tập Lạc Đạo, và cũng là người có công lớn trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên từ năm Nhâm Ngọ cho đến năm Mậu Tý. Công trạng của ông có thể nói là ngang hàng với công trạng của Hưng Đạo Vương Quốc Tuấn, ông ngoại của Công chúa, bởi vì ông văn vũ toàn tài. Văn Túc Vương cũng thừa hưởng khí chất văn tài đó của ông và không biết do một nhân duyên mầu nhiệm nào đó, được Thượng hoàng yêu mến đặc biệt. Có một lần Công chúa thấy Thượng hoàng vời ông vào cung, truyền sai làm những món hải vị hiếm có để thết đãi ông, rồi ngồi nhìn ông ăn. Thượng hoàng lúc đó đang tập sự xuất gia cho nên đã ăn chay.

Thành Đồ Bàn mộng và thực qua cảm nhận tập thơ Điêu tàn của Chế Lan Viên

Con là ai? Từ đâu tới? Và vì sao lại muốn nương nhờ cửa Phật? Hãy chậm rãi kể cho ta nghe.

Dạ thưa:

Năm 1287 con được sinh ra vào một chiều cuối hạ, mưa vần vũ hơn mười ngày qua, đã làm nước Sông Hồng dâng cao (lại thêm một trận chiến bất phân thắng bại của Sơn Tinh và Thủy Tinh), trong bọc điều nhung gấm. Phụ hoàng là một vị vua anh minh Trần Nhân Tông, Mẫu hậu là Hoàng hậu Trần Thị Sinh, Anh trai con là thái tử sau nối nghiệp vua cha có tên Trần Anh Tông.

Vẫn tưởng sinh ra trong gia đình hoàng tộc, con sẽ được hưởng hạnh phúc sung sướng hết đời, nhưng không phải vậy.

Tuổi thơ con là những ngày êm ấm hạnh phúc, vui chơi, học chữ, học thêu thùa, được vua cha và hoàng hậu cưng chiều. Năm con 12 tuổi, do lời hứa gả của vua cha (lúc này đã nhường ngôi cho vua anh) nên sứ thần của Vương quốc Champa mang lễ vật sang cầu hôn. Vì con còn nhỏ và vì nhiều lí do khác nữa nên quan lại trong triều phản đối, chỉ có quan Nội chính Trần Khắc Chung và một người nữa đồng ý gả, nên vua anh đã không gả con. Thời gian thấm thoát trôi…. năm năm sau vị vua nước Chiêm vẫn chưa từ bỏ ý định. Con lúc này đã là một cô gái trưởng thành, tài sắc vẹn toàn. Con vẫn sống trong sự sợ hãi về một ngày kia mình sẽ phải rời bỏ nơi này…

Rồi đến một hôm nước Chiêm lại cho sứ giả tới, lần này kèm theo lời cầu hôn là một cuộc đổi chác làm vua anh và tất cả quan lại trong triều thay đổi quyết định. Vua Chiêm mang hai châu là Châu Ô và Châu Rí ra làm sính lễ để cưới con. Vậy là lễ vu qui của con nhanh chóng được định đoạt và tổ chức.

Vào một ngày đẹp trời năm 1306.

Vua cha và Hoàng hậu căn dặn con:

– Con là phụ nữ, nay theo chồng nhớ phải giữ đạo hạnh tam tòng tứ đức, phu xướng phụ tùy.

– Dạ, thưa vâng.

Con mang theo lời cha mẹ dặn dò, từ biệt cha mẹ và anh em hoàng tộc bước lên thuyền hoa, cùng đoàn tùy tùng do thầy dạy con cũng là quan trong triều, đưa con đi về một đất nước hoàn toàn xa lạ.

Đoàn thuyền đưa dâu xuôi dòng Hồng Hà ra biển lớn và theo hướng nam giương buồm. Sau nhiều ngày lênh đênh trên biển, đoàn thuyền cập bến thành Thị Nại. Đây là kinh đô cũ của Vương quốc Champa. Thành Thị Nại được xây trên một dải đất nằm giữa hai nhánh của sông Côn là Sông Cầu Đun và Sông Gò Tháp, hình chữ nhật chạy dài theo hướng đông-tây. Mặt thành phía bắc chạy dọc theo Sông Gò Tháp, lấy sông làm hào chắn tự nhiên.Tường thành phía nam chạy dọc theo nhánh Sông Cầu Đun. Tường thành phía đông xây dọc theo một hào nước được đào thông giữa hai nhánh sông tự nhiên. Nhìn từ biển lên con thấy thấp thoáng những đền đài, lầu các nguy nga cao vút trong thành.

Nhìn tòa thành con có chút yên tâm hơn với ý nghĩ đây là kinh đô cũ thì chắc kinh đô mới sẽ không phải là những ngôi nhà nhỏ giữa rừng, như những lời đồn trong dân gian con nghe được khi còn ở nhà.

Đón con ở bến thuyền là đoàn voi, ngựa, xe cờ hoa rợp trời. Dẫn đầu đoàn người đó, và tiến về phía thuyền của con, là một người cao lớn, nước da sạm nắng,mái tóc gợn sóng bồng bềnh, mũi cao, mắt sáng thoáng nét đa tình, dáng vẻ hào hoa,phong nhã nhưng không kém phần uy nghi. Người đội một chiếc mũ hình trụ trên đỉnh có gắn một viên đá lớn tỏa ra ánh sáng nhiều màu sắc rực rỡ. Mặc một bộ quần áo lụa trắng , đường viền cổ áo, tay áo, lai áo,và hai hàng khuy lớn bằng vàng, bên ngoài khoác một chiếc áo long bào bằng vàng. Chân mang đôi hia màu đen có thêu hình con chim garuda màu đỏ. Theo lời của quan dẫn đoàn, đó là Chế Mân, ông vua của Vương quốc Champa và cũng là vị hôn phu của con.

Con bước lên bờ với sự hộ tống của cung nữ, mà không hiểu sao lúc đưa tay ra để chàng đỡ lên bờ, con bị vấp và may là cung nữ đỡ kịp chứ không con đã bị té ngã. Con trộm nghĩ không biết đây có phải là điềm báo gở cho mình hay không? Con được đưa lên ngồi trên kiệu voi cùng với chàng, theo sau là đoàn người hộ tống. Suốt dọc hai bên đường đi, người dân ra vẫy chào hăm hở.

Khoảng một canh giờ sau, đoàn người đưa rước về tới Thành Đồ Bàn. Một tòa thành nguy nga tráng lệ nằm ẩn hiện giữa những cánh rừng xanh ngút ngàn, thành được xây bao quanh bằng những bức tường đá, chỉ để 4 cổng ra vào, có quân sĩ canh gác.

Đoàn người tiến vào thành từ cửa phía đông. Khi đã vào bên trong thành, con thấy những tòa tháp cao vút lộng lẫy, những đền đài nguy nga tráng lệ. Nổi bật trên nền trời là tòa cung điện nơi vua và hoàng tộc ở, nguy nga tráng lệ không thua mấy so với kinh thành Thăng Long.

Huyen Tran Cong chua (Trung Dung)Thành Đồ Bàn do tổ tiên của Phu quân con là Chiêm Vương Ngô Nhật Hoan xây dựng vào năm 999 với kiến trúc độc đáo và kiên cố. Đền đài, lầu các đều lớn hơn thành Thị Nại (kinh đô cổ). Đường đi trong thành lát bằng đá hoa cương. Những ngôi tháp trong thành thường đứng một mình chứ không thành cụm. Khi con đến đây thì những ngôi tháp này đã khoảng hai trăm tuổi rồi. Mỗi góc tháp đều trang trí tượng hình rắn bằng đá trắng.Trong thành có rất nhiều tượng voi, và tượng các loại quái vật bằng đá trắng mà khi ở quê nhà con chưa từng thấy bao giờ.

Cổng thành phía đông-bắc có mười ngôi tháp, được xây trên một gò đất dùng để yểm hậu. Cổng thành phía tây có dãy đồi Kim Sơn án ngữ, Phía đông có Núi Long Cốt làm tiền án, phía nam có Nhạn Tháp…

Chủ nhân của Vương quốc Champa và tòa thành này chính là Chế Mân, phu quân của con. Đây là một vị quân vương anh hùng, nhân hậu. Chính người đã chỉ huy đoàn quân nước Chiêm đánh bại đại quân Nguyên Mông do Hốt Tất Liệt dẫn đầu. Sau khi thua trận, quân Nguyên Mông để lại cơ man nào là xác chết trên Thành Thị Nại. Người cho quân đi nhặt từng xác chết thiêu, lấy tro cốt cho vào hũ. Cấp thuyền và lương thực cho những tù binh sống sót trở về quê.

Không những anh hùng và nhân hậu mà người còn là một vị quân vương đạo nghĩa. Minh chứng rõ nhất cho điều này là việc người tha chết cho một viên tướng của đạo quân Champa, đã câu kết với quân Nguyên Mông làm phản. Người chỉ thu hết quân và đuổi về quê làm ruộng.

Con về sống trong Thành Đồ Bàn với ngôi hoàng hậu mang tên Paramecvari. Được sống trong nhung lụa, trong tình yêu thương của phu quân. Đêm đêm hưởng tiệc dạ yến, có cung nữ múa hát giúp vui. Thời gian này chỉ kéo dài được gần một năm, sau một cơn bạo bệnh phu quân của con qua đời…

Đời người phụ nữ như hạt mưa sa, trong nhờ đục chịu. Con chịu cảnh góa bụa vào lúc chưa tới hai mươi…

– Thôi đủ rồi, con đứng dậy đi.

Khi tôi vừa chớm đứng dậy thì dẫm vào vạt áo và trượt ngã…

Trời ơi! thì ra nãy giờ tôi sống trong một giấc mơ. Người tôi ướt đẫm mồ hôi. Tôi ngồi dậy và phải mất một lúc tôi mới thoát khỏi ý nghĩ mình là Huyền Trân Công Chúa… Hôm qua tôi đi thăm Khu phế tích Thành Đồ Bàn và tu viện Nguyên Thiều nơi có cụm tháp Bánh Ít. Vào thắp nhang cho vị tổ sư Nguyên Thiều và lạy Phật xong, nơi tôi tìm đến đầu tiên là dưới chân Thích Ca Phật Đài, dưới bóng mát của bức tượng tỏa ra.

Nắng chiều xuống như chậm hơn khi bước chân của cảm xúc đầy vơi, đưa tôi tới mấy ngọn tháp Champa thuộc Làng Tri Thiện, Xã Phước Quang, Tuy Phước, Bình Định, có tên gọi Tháp Bánh Ít (giống hình chiếc bánh ít). Đây là quần thể tháp Champa còn nguyên vẹn nhất trên đất Bình Định. Vậy mà:

Ai tưởng đến tháp Chàm kia trơ trọi
Tháng ngày luôn rộng cửa đón ma Hời
Ai nhìn đến làn rêu thương lở lói
Trên thịt hồng nứt nẻ gạch Chàm tươi (Chế Lan Viên)

Thap Banh It (My South Vietnam)
Tháp Bánh Ít chính (Ảnh: My South Vietnam)

Bốn ngọn tháp còn lại ngự trên đồi kế bên Tu viện Nguyên Thiều, đều có của chính quay về hướng đông và có nhiều cửa giả với lối kiến trúc độc đáo của người Champa. Tháp chính cao 22 m, sừng sững tọa lạc trên đỉnh đồi. Xung quanh còn ba ngọn tháp nhỏ hơn. Với lối kiến trúc đa dạng và phong phú của người Champa. Hai ngọn tháp có hình dạng chiếc bánh ít ngọt trần và một ngọn có hình bánh ít mặn đã lột vỏ. Trải qua hơn một ngàn năm bốn ngọn tháp vẫn còn gần như nguyên vẹn, trước nghiệt ngã của thời gian.Tất cả cũng đã chứng kiến dưới chân mình biết bao dâu bể của cuộc đời cũng như những lời tỏ tình, lời thề ước, của biết bao đôi trai gái yêu nhau.

Thành Đồ Bàn giờ đây không còn được như cụm Tháp Bánh Ít, chỉ còn là phế tích đánh dấu rằng nơi đây đã có sự hiện diện của một tòa thành, kinh đô của vương quốc hùng mạnh một thời. Nhìn vài pho tượng voi đá, sư tử đá, mấy bậc tam cấp, và một ngôi Tháp Cánh Tiên trơ trọi, gợi nên trong tôi những dòng thơ của Chế Lan Viên:

Đây những tháp gầy mòn vì mong đợi
Những đền xưa đổ nát dưới thời gian
Những sông vắng lê mình trong bóng tối
Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than

Đây những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn
Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi
Những rừng thẳm bóng chiều tan hỗn độn
Lừng hương đưa rộn rã tiếng từ qui (Chế Lan Viên)

Tôi nhớ tới bài hát Hận Đồ Bàn của Xuân Tiên mà chạnh lòng :

Cả dĩ vãng là chuỗi ngày vô tận
Cả tương lai là chuỗi huyệt chưa thành
Cũng đương chôn lặng lẽ những ngày xanh (Chế Lan Viên)

Thành Đồ Bàn giờ đây:

Vẻ rực rỡ đã tàn theo năm tháng
Bao năm sau còn dội tiếng kêu thương (Chế Lan Viên)

Tôi thơ thẩn bên những di tích, nào Chùa Nhạn Tháp phía nam thành, Chùa Thập Tháp phía đông-bắc thành cổ. Ngôi chùa này được xây trên nền của mười ngôi tháp Chăm và bằng gạch cũ của chính mười ngôi tháp đó. Đứng trước bậc tam cấp chùa Thập Tháp, lòng tôi dâng tràn biết bao cảm xúc…

Từ khi gặp và đồng cảm với tập thơ Điêu tàn của nhà thơ Chế Lan Viên, tôi rất thích tìm hiểu về những di tích, phế tích và cả những truyền thuyết gắn với Vương quốc Champa. Day dứt trong tôi nhiều nhất chính là chuyện tình của công chúa Huyền Trân và ông vua Chế Mân khi nghe câu:

Tiếc thay cây Quế giữa rừng
Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo (ca dao)

Hoặc :

Tiếc thay hạt gạo trắng ngần
Đã vo nước đục lại vần lửa rơm (ca dao)

Huyền Trân ngọc ngà kiều diễm thì không có gì phải bàn, nhưng Chế Mân một ông vua thời ấy làm chủ Vương quốc Champa hùng mạnh và rộng lớn, chủ nhân của tòa thành mà phía nam:

Đây chiến thuyền nằm mơ trên sông lặng
Bầy voi thiêng trầm mặc dạo quanh thành (Chế Lan Viên)

phía tây thành:

Nơi ngựa hí chuông rền vang trong gió (Chế Lan Viên)

còn vào trong thành:

Đây điện các huy hoàng trong ánh nắng
Những đền đài tuyệt mỹ dưới trời xanh (Chế Lan Viên)

vậy thì cớ sao ông lại bị ví với “thằng Mán”, “thằng Mường” hay chỉ là “nước đục” nhỉ? Tôi cứ hỏi mình và tự đi tìm câu trả lời. Cuối cùng vẫn phải chấp nhận rằng:

Thành Đồ Bàn cũng thôi không nức nở
Trong sương mờ huyền ảo lắng tai nghe
Từ một làng xa xôi bao tiếng mõ
Tan dần trong yên lặng của đồng quê (Chế Lan Viên)

Tây Sơn bi hùng truyện, trích đoạn – Lê Đình Danh (2010)

Khi ấy Thành Bình Định bị quân Tây Sơn vây khốn. Võ Tánh và Ngô Tùng Châu chờ mãi không thấy quân cầu viện. Đang lúc lo âu chợt võ sĩ dẫn một tên quân vào báo: “Thưa tướng quân, tên lính này vừa ra khỏi trại cướp của dân, quân binh bắt được trình tướng quân xử tội.”

Võ Tánh vỗ án đáp: “Quân lệnh của ta là xâm phạm của dân phải tội bêu đầu, ngươi đã biết chưa?”

Tên lính quỳ lạy đáp: “Thưa, tôi có biết.”

Tánh hỏi: “Thế sao còn cướp bóc của dân?”

Tên lính khóc đáp: “Thưa tướng quân, lương trong thành hết sạch mấy ngày nay, quân ta phải làm thịt ngựa mà ăn. Nay ngựa đã hết, chúng tôi đói không chịu được nên bất đắc dĩ mới ra ngoài cướp của dân tìm cái ăn lót dạ. Xin tướng quân thương tình tha mạng.”

Võ Tánh sai võ sĩ mở trói tha cho tên lính. Tùy tướng Võ Văn Lượng hỏi: “Nếu không thi hành quân lệnh thì còn đâu quân kỷ. E trong quân loạn mất, thưa tướng quân.”

Tánh bảo: “Để quân đói khát là tội của ta.”

Nói rồi Tánh đi xem xét quân tình. Quân sĩ trông thấy chủ tướng bèn xúm lại kêu khóc rằng: “Tướng quân ơi! Chúng tôi không còn hơi sức để chiến đấu nữa, xin tướng quân tìm kế để thoát thân.”

Nhìn quân sĩ lớp chết, lớp kiệt sức nằm ngổn ngang, Tánh ứa nước mắt nói: “Các ngươi chớ lo, ta đã có kế, ngày mai các người sẽ được cơm gạo mà ăn.”

Đoạn Võ Tánh quay gót về dinh rồi bảo Võ Văn Lương: “Ngươi hãy sai quân đem củi khô chất quanh lầu Bát Giác, rồi đổ thuốc súng vào củi khô chờ lệnh của ta.”

Võ Văn Lượng ngạc nhiên hỏi: “Tướng quân định làm gì vậy?”

Tánh đáp: “Ấy là kế của ta cứu được vạn quân sĩ. Hãy lập tức thi hành, không được hỏi lôi thôi.”

Võ Văn Lượng vừa đi thì Ngô Tùng Châu đến hỏi Tánh: “Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng cảnh phong cẩn mật, Thượng vương không giải vây được cho ta. Tình thế rất nguy cấp, Võ đệ đã có kế gì chăng?”

Tánh dẫn Ngô Tùng Châu ra ngoài chỉ Lầu Bát Giác đã được Võ Văn Lượng cho chất đầy cúi khô, rồi nói: “Tôi thần làm võ tướng cùng đường chỉ có kế ấy mà thôi! Diệu, Dũng đều là đấng anh hùng, Ngô huynh là quan văn ắt họ không làm hại. Vương huynh liệu mà xử sự.”

Ngô Tùng Châu cười đáp: “Tôi trung kể gì văn hay võ! Đệ có cách của đệ thì huynh cũng có cách của huynh.”

Nói xong, Ngô Tùng Châu đứng dậy ra về.

Hôm sau quân hầu hớt hải chạy vào báo cùng Võ Tánh rằng: “Thưa tướng quân, hôm qua quan Hiệp trấn Ngô đại nhân về đến nhà đã uống thuốc độc mà chết rồi.”

Võ Tánh thở dài nói: “Ngô huynh đã đi trước ta rồi. Quân bay, mau để thư này gửi cho Trần Quang Diệu.”

Quân lãnh thư đi xong. Võ Tánh lại bảo: “Võ Văn Lượng mau lên mặt thành kéo cờ trắng xin hàng!”

Văn Lượng bịn rịn một hồi rồi mới tuân lệnh mà đi.

Võ Tánh cầm một cây đuốc leo lên Lầu Bát Giác. Đến nơi, Tánh ngồi ngay ngắn giữa lầu rồi quăng cây đuốc đang cháy xuống lầu. Đuốc rơi vào đống củi khô đã được rắc thuốc súng. Lầu Bát Giác bùng cháy. Võ Tánh vẫn ngồi bất động trong ngọn lửa. Đến lúc Võ Tánh ngã ra, Lầu Bát Giác lầu sụp đổ!

Quân Gia Miêu [nhà Tây Sơn] mở cổng thành lũ lượt ra hàng. Trần Quang Diệu kéo quân vào thành, sai người mai táng Võ Tánh và Ngô Tùng Châu theo lễ công hầu. Diệu lại lệnh quân phát lương thực cho hàng binh Gia Miêu.

Hôm sau, Diệu tập hợp một vạn hàng binh ở bãi cát bên cửa Thị Nại. Quân Gia Miêu thấy vậy khóc rống lên: “Tướng Tây Sơn chắc là muốn giết bọn ta rồi lùa xác xuống biển mới đưa ta ra bãi cát này chứ gì.”

Trần Quang Diệu đứng trên núi Sơn Chà nói vọng xuống rằng: “Tướng quân Võ Tánh xin ta tha chết cho các ngươi. Nay ta đem các ngươi đến đây cấp cho thuyền bè, ai muốn về quê quán làm ăn hoặc theo Nguyễn vương Phúc Ánh đánh ta là tùy các ngươi.”

Hàng binh Gia Miêu cũng quỳ lạy Quang Diệu, đồng thanh nói: “Xin đáp ơn tướng quân mở lượng hiếu sinh.”

Lạy rồi bước xuống thuyền mà đi. Tả hữu hỏi Diệu: “Bọn chúng không theo Tây Sơn ta thì nên giết đi. sao tướng quân lại thả chúng để sau này chúng lại đánh ta?”

Diệu đáp: “Họ không theo ta là do nhà Tây Sơn ta đã mất lòng dân. Nếu giết họ thì lại càng mất lòng dân hơn nữa. Được thua là ở lòng trời, sinh linh có tội tình gì, ta nỡ đâu giết hại.”

Bút ký

Ký ức thành cổ Bình Định – Huỳnh Kim Bửu (2012)

Ít có đâu như An Nhơn, một miền đất nhỏ mà hai lần là kinh đô của hai vương triều và một lần là thủ phủ của một tỉnh. Thành Đồ Bàn là kinh đô của Chiêm Thành, kể từ thời vua Ngô Nhật Hoan (thế kỷ thứ X). Tám thế kỷ sau thành này được đổi tên là Thành Hoàng Đế, làm đế kinh của Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc, triều Tây Sơn. Tới thời nhà Nguyễn với chủ trương trả thù, xóa bỏ tàn tích cũ của nhà Tây Sơn, Thành Hoàng Đế bị triệt hạ để lấy gạch nung và đá ong xây thành mới là Thành Bình Định ở phia Nam, cách chừng năm cây số, để làm thủ phủ của Tỉnh Bình Định. Thủ phủ này kéo dài cho tới khi Nguyễn Hy làm Tổng đốc Bình Định (khoảng 1934–1935) mới được dời về Quy Nhơn (1).

Thành Bình Định trong ký ức tuổi thơ của tôi là một ngôi thành bị đập phá từ hồi nào, đã trở thành hoang phế. Trong thành không còn hành cung, dinh thự nhà cửa gì hết, nền cũ, thềm xưa còn trơ ra mấy nếp, mấy bậc lở lói… Đường trong thành còn để lại dấu tích là các ô đường bàn cờ, nhưng đã bị trùm lấp bởi các loại dây leo và giống cỏ dại, có sức lan tỏa rất nhanh; kế đến là những hàng cây gòn thân cao, đứng thẳng, xòe tán rộng trên cao, thường có chim chóc bay về… Cũng có một ngôi chùa cổ là Chùa Bửu Long ở gần Cửa Tiền (còn gọi là Cửa Nam), dành riêng cho các quan chức và gia đình của họ đi lễ Phật. Khi ngôi thành trở thành hoang phế, tiếng chuông chùa sớm chiều vẫn ngân nga xuống phố, nhưng dường như có vẻ u trầm hơn, thường gợi cho người mộ đạo hiểu sâu xa thêm cái lẽ vô thường nơi cõi trần thế.

Cây gòn ở đây nhiều lắm và còn được trồng lan ra ở cả ngoài phố chợ nữa. Tán gòn giao nhau trùm mát các lối đi, nhiều khoảng đất rộng rãi trong thành, nó tạo nên một vùng xanh um cổ thụ. Hiếm thấy ở bất kỳ  đâu như ở Thành Bình Định, khi vô số những trái gòn kia đến mùa nở bông và sẵn sàng tung lên bầu trời, thả bay theo chiều gió những chùm bông sợi màu trắng tinh anh, trông rất mênh mông, phiếu diểu. Bạn đang đi trên đường phố, một mảng bông gòn thình lình đáp nhẹ lên mũ, lên đầu, lên mặt bạn…Bạn vừa đi vừa gỡ mảng bông gòn tinh nghịch ấy, cũng thấy vui vui.

Thành còn để lại tường cao, hào sâu vây bọc xung quanh và ba cửa thành mở ra ba hướng khác nhau.

Tường cao cho những người chăn thả trâu bò lên đó ăn cỏ, và người ta cũng thích leo lên cao để tìm cái “bát ngát xa trông” ở quang cảnh trời đất bốn bên. Hào sâu thì mọc đầy bèo lục bình, cho cá quẫy, cũng có chỗ cho người ta thả những dề rau muống nước nở hoa màu tím trên cái nền rau xanh ngắt trải ra dưới nắng.

Thực ra là có bốn cửa thành.

Cửa Tây mở ra cho người các làng phía Tây thành như Kim Châu, Hòa Cư đi chợ Bình Định. Cửa Đông cho dân phố chợ, dân làng An Ngãi, người các nơi khu Đông thành đi lên ga xe lửa Bình Định, đi đất võ An Thái ở phía cực tây huyện, non mươi cây số. Thỉnh thoảng có những chuyến xe ngựa ngược xuôi, chở hành khách chạy qua thành, chui vào các cửa Đông, Tây, thường được nghe mùi ẩm ướt và rêu mốc từ vách đá ong của cửa thành tỏa ra. Tựa vào cửa Tây, có ông lão chuyên trồng hoa và bán kẹo kéo dựng nhà tranh vách lá ở tạm. Không ai biết ông lão từ đâu đến, một người ngụ cư, cô độc. Ngày ngày, ông làm kẹo kéo, mang đi bán rong ngoài phố huyện với chiếc bàn xếp quay số trên vai; thì giờ còn lại ông trồng hoa và chăm hoa. Ông có những chậu hoa nở tứ thời, rồi cứ mỗi độ đến Tết thì vườn hoa của ông nở rộ. Những chậu hoa cúc, mai, hồng, thược dược… khoe hương sắc từ bàn tay ông trồng, được người trong phố huyện Bình Định và các vùng phụ cận đua nhau đến mua, đem về thưởng xuân.

In đậm trong ký ức tôi là Cửa Tiền của Thành Bình Định. Mặc dù cửa này đã sụp đổ, hoang phế mà bóng kỳ đài với trụ cờ hình xương cá cao chót vót vẫn còn đó, người trong thành đứng đâu cũng nhìn thấy. Và còn nữa, trước mặt Cửa Tiền thành là một bến sông hằng ngày vẫn nghe được tiếng mái chèo khua nước và tiếng gọi đò vọng tới – bến Trường Thi. Cách bờ bên kia bến sông không xa (trong Làng Hòa Nghi – quê ngoại của nhà thơ Yến Lan) là trường thi Hương Bình Định được lập ra để tuyển chọn cử nhân cho mấy tỉnh trong vùng Nam Trung Kỳ. Bến Trường Thi sẽ mãi gắn liền với lịch sử khoa cử, còn bến “My Lăng” của nhà thơ Yến Lan (trong nhóm Bàn Thành tứ hữu: Quách Tấn – Hàn Mạc Tử – Chế Lan Viên – Yến Lan) thì cùng với nhà thơ mà lưu danh mãi:

Bến My Lăng nằm không thuyền đợi khách
Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu
Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách
Ông lái buồn để gió lén mơn râu

Cửa Đông thành Bình Định mở ra cho thông thương với khu phố thương mại và chợ Bình Định (Còn gọi là chợ Gò Chàm) với phố xá và cảnh bán buôn. Cửa Đông cũng là cửa để đón các quan trên về kinh lý. Cửa Đông sẽ mãi gắn liền với lịch sử đấu tranh chống Pháp và triều đình Huế bằng cuộc nổi dậy đòi giảm sưu thuế, bị đàn áp đẫm máu, hồi năm 1908. Nhà ở của các nhà thơ Yến Lan, Chế Lan Viên cạnh cửa Đông. Cho nên, đây cũng là nơi nhóm “Bàn thành tứ hữu” thường hội tụ lại để ngâm vịnh và gắn kết keo sơn thêm tình thi hữu bền vững hiếm có. Cách nay mấy năm, người ta xây dựng lại cửa Đông với ý tưởng phục hồi lại cửa này, nhưng đã không thành, vì cửa mới là cửa lầu, hoành tráng và hiện đại quá, không giống chút gì với Cửa Đông cũ đơn sơ mà đậm nét cổ xưa. Đường phố không rộng, nhà phố lợp ngói âm dương, mái hiên thấp, trồi sụt khác nhau. Nhà nào cũng mở tiệm, tiệm người Việt, người Hoa san sát nhau. Người Việt buôn bán hàng trống, hàng vải, hàng đồng, hàng đường; người Hoa bán thuốc Bắc, trà Tàu, hàng mã, nước tương …Con phố sầm uất nhất là đoạn Quốc lộ số 1 chạy ngang qua, trên phố này có nhà Bưu điện và mấy tiệm bán sách, báo. […]

Còn cửa Bắc là cửa dẫn giải tù nhân bị án tử hình đi xử chém. Cửa này bị lấp kín lại từ lâu lắm, không để lại một dấu tích gì, ngoài các cụ già kể lại.

Đứng trên mặt tường thành bao bọc bốn bên, nhìn bao quát, sẽ thấy phía đông với bốn ngôi cổ tháp có tên là Tháp Bánh Ít như bốn dấu chấm than chấm lên vòm trời xanh lơ. Phía Nam là Hòn Ông, Hòn Bà hùng vĩ, uy nghi. Tương truyền Hòn Ông là núi đá nam châm, cho nên người ta đồn rằng, thời kháng chiến chống Pháp, máy bay Pháp không dám bay ngang qua, vì sợ “núi hít”! Phía Tây, dòng Sông Côn chảy lững lờ giữa ruộng đồng mênh mông, bát ngát. Có một ngã ba sông với cái đập nước Phụ Ngọc thường đổ nước ầm ào cũng bát ngát, mênh mông, và hay nhuộm màu ráng đỏ mỗi chiều về. Phía Bắc xa xa, một quần thể danh lam thắng cảnh: Thành Hoàng Đế, Núi Bà, Hòn Mò O (còn được gọi là Hòn Mù U), Tháp Cánh Tiên, Tháp Phốc Lốc, Chùa Thập Tháp A Di Đà… Nó có cái kỳ vĩ, cẩm tú, hữu tình của nước non, nhưng cũng chứa chan vị ngậm ngùi của mấy lớp phế hưng, dâu bể trong chiều dài lịch sử.  Có câu ca dao cũng là câu hát ru em của vùng nầy:

Ngó lên hòn núi Mù U
Thấy ba ông cọp đội dù nấu cơm
Một ông xách chén đi đơm
Hai ông ứ hự nồi cơm mới vần.

Người ta vẫn bảo, đó là câu ca tả việc bếp núc, ăn uống của đạo quân ông Nhạc khi về tập luyện và dưỡng quân ở đây. Lại có chuyện kỵ binh Tây Sơn tập trận ở Tháp Bánh Ít. Sau mỗi buổi tập, đàn voi ngựa  xuống bến Sông Tân An (dưới chân tháp) tắm mát và uống nước:

Nước Tân An có bao giờ cạn
Dẫu trăm voi, ngàn ngựa uống tối ngày
Nghĩ người Nhạc, Huệ tài thay
Cờ đào áo vải mà dày nghĩa nhơn.

Má tôi thường đọc “Vè ông Tiến sĩ”, tả cảnh ông Tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo thủ lĩnh phong trào kháng thuế năm 1908 ở Bình Định bị bắt giam, cùng với các đồng chí của ông, cho anh em tôi nghe. Bị ám ảnh bởi tiếng kèn trong mấy câu vè

Đêm năm canh kèn thổi tò toe
Ngày sáu khắc đứng ngồi chẳng tiện
Thiếu chi kẻ thiên kinh vạn quyển
Lâm cảnh tù hiền giả hóa ngu

cho nên khi đi học tiểu học ở trưòng huyện lỵ Bình Định, tôi thường thơ thẩn trong thành vào những buổi nghỉ học để tìm xem đâu là dấu tích còn lại của đồn lính, trại giam ngày xưa, nơi Tổng đốc Bình Định giam cầm những người đi biểu tình. […]

Mảng mầu Văn hóa Chăm Pa trong Văn hóa Hà Nam – Nguyễn Minh San (1015)

[…]

Về chủ thể đầu tiên thờ phụng bà Mỵ Ê và vua Sạ Đẩu – những người Chăm Pa trên đất Hà Nam

… từ thời Lý, có một bộ phận tù binh Chăm Pa đã được bố trí sinh sống ở vùng đất nay thuộc một số xã nằm ở phía nam Huyện Lý Nhân. … Số người Chăm này được gọi bằng cái tên “người Man” (người Chăm được người Việt gọi với cái tên người Hời).  Bộ phận “người Man” này không được ở trong đê (Sông Hồng) – nơi người Việt đã lập làng, sinh sống ổn định từ lâu, mà phải ở ngoài đê, khai phá vùng đất bãi bồi Sông Hồng dọc dài theo chân đê này. Bằng chứng là, sách Địa chí Hà Nam, căn cứ vào các nguồn sử liệu (như Khâm định Việt sử thông giám cương mục), đã viết: “Năm Tân Tỵ, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 22, vua Lê Hiển Tông (1761), triều Lê–Trịnh, lệnh cho lấy đất bãi của Xã Nễ Độ, Huyện Nam Xang (nay thuộc Huyện Lý Nhân) và Xã Yên Lệnh (nay thuộc Huyện Duy Tiên) ở Sơn Nam Thượng lộ, trích cấp cho người Man cày cấy, đặt làm Sở Tuy Viễn” (Địa chí Hà Nam – Nxb KHXH, H, 2005, tr 246).

Một bằng chứng nữa là tên địa danh “Trục Mãn” đã từng tồn tại là đơn vị hành chính của Huyện Lý Nhân. Theo Địa chí Hà Nam (tr 1201 – 1202): vào đầu thế kỷ XIX, huyện Nam Xang nằm trong phủ Lý Nhân, trấn Sơn Nam Thượng, bao gồm 10 tổng, 80 xã, thôn, phường,  trang, trại, sở. … Tôi chú ý tới tên “sở Trục Mãn”. Sau nhiều lần tách ra, nhập vào và thay đổi tên gọi, hiện nay khu vực thuộc “sở Trục Mãn” nằm trong địa phận xã Phú Phúc, với tên gọi là Xóm 8 / Phúc Mãn.

Trong một lần điền dã, tôi gặp ông Đỗ Văn Thiều (sinh năm 1943) người Làng Phúc Mãn cũ, tên cổ là Chục Mãn (không phải là Trục Mãn), nay là Xóm 8, Xã Phú Phúc, nguyên cán bộ điện lực về hưu, hiện đang trông coi mộ bà Mỵ Ê. Ông kể rằng, lăng mộ Bà Mỵ Ê xuất hiện từ năm 1044. Khi phu nhân Mỵ Ê bị bắt làm tù binh đưa ra Bắc, Bà có 10 người hầu, 3 nữ, 7 nam giới. Khi Bà trẫm mình ở khúc Sông Tuần Vường, cách mộ hiện nay khoảng 7km, nhưng lạ kỳ, xác bà lại trôi ngược vè khu vực mộ hiện nay. Khi vua Lý cho người đi tìm, không có xác, vì bị mối đùn, chỉ để lòi ra một dải yếm. 10 người hầu của Bà được vua Lý cho lên bờ trông coi ngôi mộ bà Mỵ Ê. Họ lập làng ở đây, đầu tiên lấy tên là Làng Chục Mãn, lấy chung một họ là họ Đỗ, với nghĩa là đỗ lại / dừng chân lại đây. Rồi 3 người phụ nữ Chăm đi lấy chồng, ở đâu không rõ. Còn 7 người đàn ông người Chăm còn lại lập Làng Chục Mãn. …

Khi vua về thấy dải yếm, cầm giữ làm kỷ niệm. Mỗi khi cầm dải yếm, nhà vua lại nhớ về chuyện cũ, lại cho Làng Chục Mãn một đám đất để làm đất tắm gội. Dấu ấn của sự việc trên là tên gọi Cao Đà có Phúc Mãn trên, Phúc Mãn dưới. Khu Chuông ở Hà Đông, bãi Phúc Xasd (Hà Nội) cũng là đất nhà vua cho dân làng Phúc Mãn gọi là đất tắm gội.

Hiện ở cửa ngôi đền dựng trên khu đất tương truyền là mộ Bà Mỵ Ê, có đôi câu đối:

Phách tại Châu Giang hoài Phật Thệ
Hồn lưu Phúc Mãn vọng Chiêm bang.

Trên đất Lý Nhân còn có một địa danh nữa là “Thôn Chàm”, nay là 2 xóm  Lam Cầu 1 và Lam Cầu 2, thuộc Xã Nhân Thịnh. Theo tôi, tên Thôn Chàm, là cách gọi kiểu duy danh quen thuộc của người Việt, nghĩa là thôn toàn người Chàm/Chăm sinh sống. Dân thôn này thờ Mỵ Ê. Ngài được 37 sắc phong của nhiều triều đại, sắc phong sớm nhất là của Vua Lý Thái Tông năm thứ 3 (1044) phong là Hựu thiện hiệp chính phu nhân Thượng đẳng tối linh thần, trùng với thời điểm bà Mỵ Ê tuẫn tiết. Theo đó, tôi cho rằng, khởi thủy, bà Mỵ Ê và vua Sạ Đẩu được thờ chính tại Thôn Chàm này, do chính những người Chăm/Chàm – mà dân địa phương gọi là “người Man” sinh sống ở đây thờ phụng vị Hoàng hậu và Vua của mình.

Một lý do nữa để khẳng định việc thờ Bà Mỵ Ê ở Hà Nam do chính người Chàm – những tù binh của Đại Việt bắt về, thờ phụng, đó là các tục hèm, kiêng cữ trong việc thờ Mỵ Ê và Vua Chiêm Thành Sạ Đẩu. Ví như, ở Thôn Lê, Xã Liêm Sơn, dân thôn thờ Minh Châu Oánh Ngọc Đại vương hiển ứng chi thần (húy là Sạ Đẩu), Hiệp chính hựu thiện phu nhân (húy là Mỵ Ê), dân thôn khi đọc và nói phải kiêng chữ “Đẩu” và chữ “Ê”. Ai vi phạm lệ thôn qui định phải sửa trầu, rượu tạ thần. (Thần tích, thần sắc Hà Nam – Nxb KHXH, H. 2004, tr 886 – 888). Những kiêng cữ này nói lên một điều là chỉ có thể là những người Chàm mới tôn kính hai vị thần của mình như vậy. Và, luật lệ này do chính họ đề ra trong những đồng bào của họ cùng sinh sống trong ngôi làng trên đất Bắc. Với tâm lý của những kẻ chiến thắng, người Việt không phải kiêng dè, kính nể tên của vị thần bại trận kia đến như vậy.

Do quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hóa giữa làng người Chăm Pa và làng người Việt bản địa ở Lý Nhân, dần dà, người Việt tôn phong và thờ phụng bà Mỵ Ê tại làng mình, hoặc kế thừa và tiếp tục thờ phụng Bà tại chính những nơi mà người Chăm đã lập nên trên đất Hà Nam. Đây chính là người Việt đã tiếp thu cái hay, cái giá trị trong việc thờ phụng Bà Mỵ Ê của người Chăm, mà không coi là hành động thờ “vợ giặc”. Xuất phát của việc làm này chính là bắt nguồn từ sự đồng điệu trong việc đề cao, quý trọng những người phụ nữ trinh tiết của người Việt và người Chăm Pa. Từ bao đời nay, người Hà Nam vẫn đinh ninh dòng sông Châu Giang trong xanh kia là dòng sông đầy nước mắt. Nước mắt của nàng Mỵ Ê trước đêm tuẫn tiết đã chảy thành dòng, rồi nước mắt của dân chúng bao đời thương khóc cho số phận nàng, ngày càng nhiều, ngày càng đầy lên:

Sông Châu uốn khúc mơ màng
Đầy vơi nước mắt của nàng Mỵ Ê
(thơ Bắc Môn).

Trinh tiết là thứ quí ngàn vàng mà phụ nữ dân tộc nào, Việt cũng như Chăm Pa cũng đề cao, bảo vệ. Sự tôn trọng ấy không chỉ trong lớp bình dân lao động đầy lòng nhân ái, mà cả ở trong các đấng quân vương. Bà Mỵ Ê là vị nữ thần được các triều đại phong kiến Việt Nam ban tặng nhiều sắc phong nhất (37 đạo), trong đó có rất nhiều mỹ từ đẹp. Bà Mỵ Ê là một người phụ nữ dân tộc Chăm Pa thuộc vương quốc Chiêm Thành, ngoại bang của Đại Việt gần một nghìn năm trước, được kẻ thù của dân tộc mình ngợi ca, thờ phụng. Bà là một tù binh bị chính vị vua vừa hủy diệt đất nước mình, giết hại chồng mình đã khiến cho kẻ chiến thắng trên chiến trường lại bị thất bại trong việc chiếm đoạt trinh tiết của Bà, phải tôn vinh Bà vào hạng tối linh Thượng đẳng thần.

Những vùng đất thiêng: Hòn đá oan hồn  – dương lam (2015)

Trước khi Thượng tọa Thích Hồng Phương cung thỉnh hòn đá từng được Nguyễn Ánh dùng làm vật kê đầu tướng sĩ nhà Tây Sơn để cho voi giậm về chùa Hương Quang nằm trên địa bàn thôn Bính Đức, Xã Tây Vinh (Huyện Tây Sơn, Bình Định), người dân sống quanh thành Hoàng Đế thuộc Xã Nhơn Hậu (TX An Nhơn), nơi đặt hòn đá, luôn phải sống trong nơm nớp lo sợ vì sự linh thiêng của hòn đá này.

Hòn đá linh thiêng

Tương truyền, khi Nguyễn Ánh đánh chiếm thành Hoàng Đế, liền sau đó ông ta mở cuộc trả thù tàn khốc. Nơi máu tràn như suối chính là chốn kinh đô xưa, Thành Hoàng Đế. Khi ấy, Nguyễn Ánh dụ những người trong hoàng tộc, tướng sĩ nhà Tây Sơn ra đầu thú với lời hứa sẽ không trả thù, ai phạm trọng tội thì đày vào miền Nam khai khẩn đất mới, ai có tài được trọng dụng. Để không phải sống lưu vong chui lủi, rất đông người trong hoàng tộc và tướng sĩ nhà Tây Sơn rời nơi ẩn nấp ra đầu thú.

Lời hứa gió bay, ngay sau đó Nguyễn Ánh giết tất những người chiêu hồi, bất kể già trẻ. Ông sai người lên núi đào về 6 hòn đá vuông vức, đặt ở vùng đất gọi là pháp trường. Tù binh nhà Tây Sơn lần lượt được dắt đến pháp trường, binh sĩ thì kê đầu xuống những hòn đá để đao phủ chém.

Trong 6 hòn đá ở pháp trường có một hòn được dành riêng để hành hình những người trong hoàng tộc và các tướng lĩnh cao cấp nhà Tây Sơn. Hòn đá này dùng để kê đầu các tù binh thuộc loại trọng tội, sau đó cho voi giẫm đạp đến nát, nhằm kéo dài sự đau đớn. Mỗi hòn đá ở pháp trường thấm đẫm máu của cả ngàn người.

Dâu bể đổi thay, 6 hòn đá ở pháp trường của Nguyễn Ánh giờ chỉ còn 2 hòn, một hòn dùng để kê chém đầu (gọi là Hòn Đá Chém) và một hòn kê đầu để voi giẫm.

Theo các lão niên ở Xã Nhơn Hậu, hòn đá voi giẫm nằm khuất lấp trong bụi rậm ở chân một ngọn đồi từ trăm năm nay. Cách đây khoảng hơn 15 năm, một người tự xưng là thầy pháp ở Nhơn Hậu cho rằng mình có khả năng điều khiển âm binh, đã thuê người đưa hòn đá về nhà mình. Đưa hòn đá về nhà buổi sáng, buổi chiều ông thầy pháp nói trên lên cơn tai biến lăn đùng ra chết. Sau khi lo ma chay cho cha, con trai ông thầy pháp lập tức tìm cách đưa hòn đá ra khỏi nhà, đặt ở gò đất thấp, cạnh con đường dẫn về Tháp Cánh Tiên. Sau cái chết của ông thầy pháp, dân Xã Nhơn Hậu càng thấy sợ hòn đá voi giẫm.

Cụ Phạm Thứng (79 tuổi) ở xóm 10, Thôn Bính Đức, Xã Tây Vinh (Huyện Tây Sơn), người trực tiếp cung thỉnh hòn đá voi giẫm về Chùa Hương Quang, kể:

Lúc tôi xuống Nhơn Hậu tìm hiểu về hòn đá voi giẫm, nghe dân tình nói nhiều về sự kỳ bí của nó. Họ kể, cứ đến 14, rằm, 30, mùng một âm lịch là có 5 cô gái có độ tuổi từ 15 đến 20 từ hòn đá bước ra, rồi đi lững thững về phía Ga Vân Sơn. Đi theo 5 cô là 5 luồng ánh sáng rực rỡ. Chuyện này xảy ra thường xuyên nên người dân địa phương luôn cảm thấy bất an.

Oan hồn được giải thoát

Để tìm hiểu thêm về hòn đá voi giẫm, chúng tôi tìm về Chùa Hương Quang nằm trên địa bàn Thôn Bính Đức, Xã Tây Vinh để gặp Thượng tọa trụ trì Thích Hồng Phương, người có nhiều nghiên cứu tâm linh về hòn đá này.

Thượng tọa Thích Hồng Phương cho hay, mỗi năm hòn đá này chỉ linh ứng một vài lần, thậm chí có năm chỉ 1 lần, mỗi lần vài tiếng đồng hồ. Thượng tọa khẳng định, với những hòn đá chứa nhiều năng lượng âm, những bậc chân tu hoặc người đủ đầy tâm đức có thể cảm nhận bằng sự nhạy cảm của cơ thể mình khi nó linh ứng. Mặc dù hòn đá rất to, nhưng năng lượng chỉ tụ ở 1 điểm nhất định.

Theo Thượng tọa Thích Hồng Phương, mặc dù có cả ngàn người bị hành quyết trên hòn đá này một cách man rợ, nhưng các linh hồn đều đã siêu thoát, chỉ còn 5 oan hồn là các nữ nhi trinh tiết vẫn ngụ ở hòn đá này, không siêu thoát được.

Cuối năm 2007, từ sự khẩn thiết của nhà sư Vạn Toàn đang trụ trì ở một ngôi chùa ở Xã Nhơn Hậu, Thượng tọa Thích Hồng Phương tiến hành công cuộc cung thỉnh hòn đá voi giẫm về chùa Hương Quang.

Cụ Phạm Thứng, Trưởng ban Hộ tự Chùa Hương Quang kể, bằng phương pháp tâm linh, Thượng tọa Thích Hồng Phương tiên tri được vào 4 giờ chiều ngày 14 tháng Chạp âm lịch năm 2007, hòn đá voi giẫm sẽ linh ứng. Thượng tọa Thích Hồng Phương triệu tập Ban hộ tự chùa Hương Quang gồm 5 người và nói: “Nhân dịp hòn đá linh ứng, trong ban hộ tự nếu ai có tâm thì tham gia việc cung thỉnh hòn đá voi giẫm từ Xã Nhơn Hậu về Chùa Hương Quang để giải thoát cho những oan hồn”.

Nghe hòn đá này rất linh thiêng, không ai dám mở lời. Sau đó, Hòa thượng Thích Hồng Phương chỉ định cụ Phạm Thứng chủ trì cuộc cung thỉnh, vì: “Tôi biết cụ Thứng là người đủ tâm đủ đức làm việc này”.

Cụ Thứng cho biết: “Sau khi báo cáo với chính quyền địa phương về việc cung thỉnh, đúng giờ, tôi xoa bàn tay 1 vòng quanh điểm linh ứng mà hòa thượng Thích Hồng Phương đã chỉ thì thấy nơi ấy như có điện, hít chặt bàn tay. Khi ấy tôi thấy trong người lạnh toát, run bần bật. Tôi liền khấn Phật Bà thì bàn tay rời được khỏi hòn đá. Sau đó tôi tiến hành việc cung thỉnh hòn đá về chùa Hương Quang”.

Do Ban_hon da bi an Chua Huong Quang
Ông Phạm Thứng bên cạnh “hòn đá bí ẩn” trong Chùa Hương Quang (Ảnh: Hoàng Trọng)

Theo lời kể của cụ Thứng, ngay buổi chiều cụ tiến hành việc cung thỉnh hòn đá, cụ thuê xe khắp Thị trấn Đập Đá nhưng không xe nào dám chở vì sợ sự hòn đá thiêng, cụ phải thuê một chiếc xe lam 4 bánh tận Thôn Mỹ Yên (Xã Tây Bình), nơi người dân không biết gì về hòn đá voi giẫm họ mới chịu chở. Đồng thời cụ thuê 1 xe cẩu ba-lan ở gần tháp Dương Long để cẩu hòn đá lên xe.

“Khi hòn đá được cẩu gần tới thùng xe thì tôi nghe sợi dây xích kêu rọc rọc, hòn đá cứ muốn trì xuống lại. Khi ấy tui liền khấn 5 cô nếu vong hồn linh thiêng cho tôi cung thỉnh hòn đá này về Chùa Hương Quang để mười phương chư Phật gia hộ các cô được siêu độ về Tây phương cực lạc. Sau khi khấn, cần cẩu đưa hòn đá lên xe nhẹ tênh”, cụ Thứng cho hay.

Cũng theo cụ Thứng, sáng hôm cung thỉnh hòn đá voi giẫm về Chùa Hương Quang trời mưa to, nên đất trơn, chân của chiếc cần cẩu đưa hòn đá lên xe cứ bị trượt. Lúc ấy người dân địa phương đi chợ rất đông, nhưng khi cụ Thứng nhờ họ giữ hộ chân ba-lan thì không ai dám giúp, vì sợ sự linh thiêng của hòn đá ứng vào mình.

Sau khi được đưa về chùa Hương Quang, hòn đá voi giẫm vẫn còn cho thấy sự linh thiêng. Cụ Thứng kể tiếp:

Sát cạnh Chùa Hương Quang có nhà của ông sĩ quan quân đội thuộc Sư đoàn 3 Sao Vàng về hưu, tên Sáu Long. Đêm đầu tiên hòn đá về chùa, đang nằm trên võng thì ông Sáu Long thấy từ hòn đá bay ra 5 luồng sáng xanh trông như lửa hàn.

Sau đó, nếu ai về chùa mà có ý không tin về sự linh thiêng của hòn đá là lập tức bị trừng phạt ngay. Những người bị trừng phạt đang khỏe mạnh bỗng nằm vật ra giữa chùa như người bị trúng gió, đến khi Thượng tọa Thích Hồng Phương đến can thiệp mới khỏi.

Khí tác sơn hà – Đặng Châu Long (2015)

Qua kỳ đài để bước vào Thành Con với chu vi chỉ vỏn vẹn mỗi bề 150 mét, tôi nghe như có một luồng không khí lạnh chạy thấu xương da. Đồ Bàn là đây ư? Nhỏ nhoi thay thành quách vua chúa ngày xưa! Tử cấm thành của Trung ương Hoàng đế Nguyễn Nhạc là đây ư? Vuông đất khiêm tốn chật hẹp. Tôi có thể mường tượng ra cảnh tù túng của họ trong sinh hoạt hàng ngày, còn thua xa dân thường ngày nay. Chẳng khác chi con chim bị giam lỏng. Quyền uy thanh thế làm chi! Trải mấy trăm năm nội chiến Trịnh–Nguyễn, rồi tới nội chiến Tây Sơn–chúa Nguyễn dân tình khốn khổ lao đao. Anh hùng hào kiệt nay đã vùi sâu đáy mồ, chỉ còn những cọng lau lách xào xạc theo gió ngàn đẩy đưa trong hiu quạnh đồng trơ. Đứng nhìn tứ phía trong vuông đất chưa đầy 2,5 hectare, nhìn bên phải, những nấm mồ của thân cận Võ Tánh vốn tuẫn tiết theo ông, cô quạnh như chưa từng quạnh quẽ hơn, bao nhiêu du khách ghé qua và bao nhiêu hương khói thắp lên cho người trọn đạo!

Thanh Hoang De_Thanh Con tong the tich lieu

Theo đường dẫn vào nơi thờ tự Song Trung, một ngôi đền bát giác với những chữ trung ở tám mặt cửa. Chính giữa là tấm liễn thờ năm Bảo Đại 19, do Tổng đốc Bình Thuận là Bửu Trưng phụng cúng, khắc 4 chữ khí tác sơn hà (tạm dịch: bừng lên hào khí núi sông).

Qua khỏi Đền Song Trung là hai ngôi mộ giả, một tròn trên có khắc con dơi của Võ Tánh, một hình chữ nhật của Ngô Tùng Châu. Hình như hai ngôi mộ này đã được nâng cao chưa bao lâu vì khi tôi bước ra khỏi điện xuống dưới, thấy lộ ra những dấu tích nền cũ bát giác và những dấu nền đá bọc dài dưới khu lăng mới trên cao. Tất cả chỉ còn như vậy. Hai hồ bán nguyệt đối xứng với Điện Bát Giác chỉ phát lộ 1 cái và nằm ngoài khuôn viên lăng Song Trung.

Hưng phế cứ như những đợt sóng phủ lên lịch sử. Ai sống trăm năm, triều đại nào muôn năm! Chiêm Thành đã chìm trôi vào quên lãng, Hoàng đế Thái Đức được nhớ đến bằng cuộc chiến nồi da xáo thịt cùng anh em Nguyễn Huệ. Riêng tôi, đứng trên phế tích nhiều tầng hưng phế này cảm thấy những con người thật sự đáng khâm phục dù thắng cuộc dù bại vong. Bại tướng Võ Tánh không tròn bổn phận giữ thành, thà tự thiêu cho đối phương không thấy mặt, ủi an văn tướng bảo toàn tính mệnh, di thư gởi gắm an toàn quân dân mình cho tướng thắng cuộc. Trung quân Ngô Tùng Châu thể hiện tinh thần nghĩa khí, uống độc dược quyên sinh chia sớt trách nhiệm cùng bạn đồng liêu. Kẻ thắng cuộc Trần Quang Diệu ngời tính ái nhân, giữ đúng lời hứa với người bại tướng trước lúc ra đi: Bảo toàn tính mệnh cho quân dân khi cuộc chiến đã tàn. Cờ tàn mới biết tay cao thấp, nghĩa nhân quần, đồng bào vẫn được thượng tôn. Ôi, người xưa vẫn ngời gương soi rọi! Những tên đường Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Trần Quang Diệu ngày xưa vẫn đan xen nhau như nhắc nhở mọi người một câu chuyện thương tâm và kết thúc vẹn toàn.

Thanh Hoang De_chinh dien truoc trung tu

Tôi đúng trầm ngâm bên rào nhìn chiếc hồ bán nguyệt với đường cung ước khoảng năm mét. Nhìn hồ bán nguyệt đọc trong sách cũ nghe ra lãng mạn, chẳng bõ bèn cho tôi đủ rung động nên thơ. Có chăng chỉ là chút hồn thu thảo cũ, bùi ngùi nhớ thuở binh đao mà ngao ngán cho kiếp thường dân trong hoạn nạn.

Do Ban_ho ban nguyet reu phong

Ngày nào vợ Võ Tánh là Công chúa Ngọc Du khóc ông bằng bài thơ:

Những tưởng ra tay giúp nước nhà
Ai dè bình địa nổi phong ba
Xót người vị quốc liều thân ngọc
Khiến thiếp cô phòng ủ mặt hoa.

Gối mộng mơ màng duyên nợ cũ
Đài mây xiêu lạc phách hồn xa
Lửa trung đốt đỏ gương hào kiệt
Nóng ruột thuyền quyên giọt lệ sa.

Có lẽ trong nhung lụa nàng không mường tượng ra chính những người dân thường cũng là những bậc anh hùng, họ cắn răng đọa đày theo vận nước mà không thể oán than.

Chiêm quốc giờ đâu, Triều Tây Sơn lẫy lừng giờ đâu, Triều Nguyễn giờ đâu? Chỉ để tán dương hay dẻ bĩu trên chót lưỡi đầu môi những lúc nhàn đàm. Dân vẫn là vạn đại. Muôn năm chỉ là phù phiếm bởi lời xu phụ mà thôi!

Kết luận và Đề xuất

Trong thời đại Internet tiến bộ, thông tin lại càng loạn! Ví dụ như chỉ một ngôi mộ kế bên mộ Võ Tánh mà các nguồn ghi người nằm dưới mộ khác nhau, thậm chí nói Võ Tánh nằm ở nơi khác trong Thành Hoàng Đế! Và nhiều nguồn cho những chu vi thành cổ khác nhau, trong khi thông tin quan trọng hơn như niên đại và ý nghĩa của các di tích thì không được nêu ra rõ ràng. Một số ví dụ: hồ bán nguyệt, hồ hình lá bồ đề là của Thành Đồ Bàn hay của Thành Hoàng Đế? Cung Quyền Bổng được dùng vào mục đích gì? Nền Chánh Điện chính xác ở vị trí nào?

Cần có biện pháp bảo vệ các di tích. Ví dụ như cần đưa hai tượng voi đá – loại di tích niên đại Đồ Bàn khá hiếm hoi – lên bệ cao, chung quanh có vòng rào, có biển ghi đặc tính và ý nghĩa… Ai biết được, trẻ em nghịch ngợm hoặc kẻ say rượu một ngày nào đó có thể làm hư hại hiện vật nghìn năm tuổi này! Cũng nên có biển giải thích về lịch sử, ý nghĩa và niên đại của những di tích quan trọng như Đền tế chiến sĩ, Cung Quyền Bổng, nền Điện Bát Giác, tên và niên đại các cây cổ thụ… Một phần là nhằm tránh những người nghiệp dư làm video thuyết minh mỗi người một ý, kể cả khi trình chiếu một hình ảnh nhưng nhìn nhận không biết đó là cái gì.

Hiểu thêm đôi điều có ý nghĩa, người ta sẽ cảm thấy gắn bó hơn với lịch sử và con người, thay vì chỉ nhìn qua di tích và hiện vật một cách hững hờ!

Nguồn tham khảo

Anon. (2014). Giải ảo lịch sử về Huyền Trân công chúa. https://tiasang.com.vn/-van-hoa/giai-ao-lich-su-ve-huyen-tran-cong-chua-7957

Bùi Phong Khê (1988). Lịch sử Qui Nhơn Bình Định. https://www.maxreading.com/sach-hay/binh-dinh/lich-su-qui-nhon-binh-dinh-bui-phong-khe-31141.html

Doãn Công (2016). Chuyện huyền bí về 2 pho tượng khổng lồ Ông Đỏ, Ông Đen. http://www.phatgiaoninhthuan.com.vn/index.php/vi/phat-hoc/Phat-hoc/Chuyen-huyen-bi-ve-2-pho-tuong-khong-lo-Ong-Do-Ong-Den-22/

Dominique Nguyen (2008). “700 năm cuộc tình Chế Mân và Huyền Trân Công chúa”, Champaka, số 9. http://dev.champaka.info/images/stories/CHAMPAKA/TAPSAN/Champaka9/09%20che%20man%2041-56.pdf

dương lam (2015) Những vùng đất thiêng: Hòn đá oan hồn. https://nongnghiep.vn/nhung-vung-dat-thieng-hon-da-oan-hon-d149024.html

Đặng Châu Long (2015). Khí tác sơn hà. https://dangchaulong.wordpress.com/2015/12/28/khi-tac-son-ha/

Đinh Bá Hòa (2005). Tìm hiểu Đàn Nam Giao nhà Tây Sơn ở Bình Định. http://www.baobinhdinh.com.vn/datnuoc-connguoi/2005/8/15038/

Đức-Huy guitar (2019). Thành Hoàng Đế – Bình Định. https://www.youtube.com/watch?v=RfVnfKOffzw

Hoa Lộc Bình (2019). Chuyện Tâm Linh HÒN ĐÁ CHÉM ở CHÙA THẬP THÁP tỉnh Bình Định | Một dòng lịch sử tối của Việt Nam. https://www.youtube.com/watch?v=LFLp3cICh4o

Hoàng Trọng (2013). Những di tích kỳ bí – Kỳ 2: Chuyện ông Đỏ, ông Đen. https://thanhnien.vn/van-hoa/nhung-di-tich-ky-bi-ky-2-chuyen-ong-do-ong-den-12317.html

Hoàng Trọng (2016a). Người xưa qua thư tịch: Đệ nhất môn sinh của thầy Võ Trường Toản. https://thanhnien.vn/van-hoa/nguoi-xua-qua-thu-tich-de-nhat-mon-sinh-cua-thay-vo-truong-toan-755458.html

Hoàng Trọng (2016b). Thành Cha được đắp từ thế kỷ thứ 4-9. https://thanhnien.vn/van-hoa/thanh-cha-duoc-dap-tu-the-ky-thu-4-9-777269.html

Hoàng Tuấn (2013). Thăm Thành Hoàng Đế xưa tại Bình Định. http://www2.danviet.vn/net-viet/tham-thanh-hoang-de-xua-tai-binh-dinh-153853.html

Hoàng Tuấn (2015a). Ngắm cây sung cổ xum xuê trong Thành Hoàng Đế. https://danviet.vn/ngam-cay-sung-co-xum-xue-trong-thanh-hoang-de-7777646149.htm

Hoàng Tuấn (2015b). “Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân…” https://danviet.vn/xay-ho-ban-nguyet-cho-nang-rua-chan-7777530109.htm

Hồng Phượng (no date). Tháp Cánh Tiên. http://thegioidisan.vn/vi/thap-canh-tien.html

Huỳnh Kim Bửu (2012). Ký ức thành cổ Bình Định. http://www.chuabuuminh.vn/PrintView.aspx?Language=vi&ID=7A5042

Huỳnh Văn Mỹ (2007). Đàn Nam Giao và tử cấm thành. https://tuoitre.vn/dan-nam-giao-va-tu-cam-thanh-225083.htm

Lan Phương (2015). BÌNH ĐỊNH – Thành cổ Hoàng Đế (Thành Đồ Bàn). http://toquoc.vn/binh-dinh-thanh-co-hoang-de-thanh-do-ban-99235466.htm

Lê Đình Danh (2010). Tây Sơn bi hùng truyện. Nhà Xuất bản Văn học.

Lê Văn Hưu et al. (1697). Đại Việt sử ký toàn thư, Mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18, Viện Khoa học–Xã hội Việt Nam dịch, Nhà Xuất bản Khoa học–Xã hội, Hà Nội, 2001.

Minh Vượng (2016). Về Thành Cha – dấu tích cổ của kinh đô Vijaya xưa. http://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3096/18954/ve-thanh-cha-dau-tich-co-cua-kinh-djo-vijaya-xua.html

Mỹ Bình (2020). Bình Định: Hai tượng Hộ pháp chùa Nhạn Sơn là bảo vật quốc gia. https://baotainguyenmoitruong.vn/binh-dinh-hai-tuong-ho-phap-chua-nhan-son-la-bao-vat-quoc-gia-298399.html

Ng. Thanh Quang (2006). Đàn Nam Giao đầu tiên của nhà Tây Sơn. http://www.baobinhdinh.com.vn/datnuoc-connguoi/2006/1/21782/

Ngô Sĩ Liên, Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên et al. (1697). Đại Việt sử ký toàn thư. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam dịch, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993.

Ngô Văn Doanh (2002). Văn hóa cổ Chămpa. Nhà Xuất bản Văn hóa Dân tộc

Nguyễn Giang (2020). Trận Vân Đồn và tham vọng của Nguyên chúa. https://www.bbc.com/vietnamese/forum-44382730

Nguyễn Minh Hựu (2015). Thành Đồ Bàn và cuộc diệt vong bi thảm của dân tộc và quốc gia  Chiêm Thành. http://www.chimvenuinhan.com/2015/09/nhung-goc-khuat-trong-lich-su-vn-3.html

Nguyễn Minh San (1015). Mảng mầu Văn hóa Chăm Pa trong Văn hóa Hà Nam. https://vanhien.vn/news/Mang-mau-Van-hoa-Cham-Pa-trong-Van-hoa-Ha-Nam-35952

Nguyễn Thanh Mừng & Trần Thị Huyền Trang (2005). Tâm sự nhân một cuốn sách được tái bản. http://www.baobinhdinh.com.vn/vanhoa-nghethuat/2005/10/16753/

Nguyễn Thanh Quang (2012). Thành Hoàng Đế và những tồn nghi. https://xunauvn.org/tag/thanh-d%E1%BB%93-ban/

Nguyễn Thanh Quang (2013a). Thành Hoàng Đế và những tồn nghi. https://xunauvn.org/tag/vo-tanh/

Nguyễn Thanh Quang (2013b). Tìm hiểu nhân vật lịch sử Ngô Tùng Châu. http://www.baobinhdinh.com.vn/viewer.aspx?macm=26&macmp=26&mabb=6133&no_redirect=true

Nguyễn Thanh Quang (2014a). Thành Hoàng Đế – một di sản kiến trúc quân sự đặc biệt. http://www.baobinhdinh.vn/viewer.aspx?macm=46&macmp=46&mabb=16778

Nguyễn Thanh Quang (2014b). Từ việc thờ phụng Võ Tánh và Ngô Tùng Châu: Một góc nhìn vào tâm hồn người Bình Định. http://baobinhdinh.com.vn/viewer.aspx?macm=18&macmp=18&mabb=30656

Nguyễn Văn Hiển (1860). Tây Sơn Nguyễn Thị ký. Phần trích dịch của Nguyễn Đình Diệm mang tựa Đồ Bàn Thành ký, bản microfilm tại Viện Khảo cổ Sài Gòn. http://nonnuocbinhkhe.blogspot.com/2015/08/o-ban-thanh-ky.html

Nguyễn Vân (2018). Thành cổ hơn 1.000 năm mang dấu ấn ba thời kỳ đại [sic] ở Bình Định. https://baogialai.com.vn/channel/12382/201809/thanh-co-hon-1000-nam-mang-dau-an-ba-thoi-ky-dai-o-binh-dinh-5601459/

Người Việt TV (2017). Những ngôi tháp Chăm Bình Định. https://www.youtube.com/watch?v=aLtb_o22_OM

Như Hà (2014). Dấu xưa thành Đồ Bàn. https://thethaovanhoa.vn/gallery/bong-da/dau-xua-thanh-do-ban-n20140802151836747.htm

Phạm Trường Giang (2017). Huyền Trân công chúa làm vợ Chế Mân. https://plo.vn/van-hoa/ho-so-phong-su/huyen-tran-cong-chua-lam-vo-che-man-732339.html

Phi Phi (2012). Thành Cha – dấu tích cổ bị lãng quên. https://baophapluat.vn/dan-sinh/thanh-cha-dau-tich-co-bi-lang-quen-125154.html

Putra Podam (2018). Danh xưng nào đúng: Cham, Chăm, Chàm, Chiêm, Thổ, Mọi hay Hời? https://kauthara.org/article/109

Quách Tấn (1965). Nước non Bình Định. Nhà Xuất bản Nam Cường.

Quốc sử quán Triều Nguyễn (no date). Đại Nam nhất thống chí; Bản đời Tự Đức. Phạm Trọng Điềm phiên dịch và Đào Duy Anh hiệu đính, Viện Sử học, Nhà Xuất bản Thuận Hóa, Huế, 2006.

Quốc sử quán Triều Nguyễn (1909). Đại Nam thực lục. Viện Sử học,  Nhà Xuất bản Giáo Dục, 2001.

Quỳnh Trần (2018). Dấu tích thành cổ hơn 1.000 năm của người Chăm ở Bình Định. https://vnexpress.net/dau-tich-thanh-co-hon-1-000-nam-cua-nguoi-cham-o-binh-dinh-3562942.html

Song Lan (2014). Vị thủ khoa đầu tiên ở Tiền Giang hồi cuối thế kỷ XVIII. https://vannghetiengiang.vn/news/Ly-luan-phe-binh/Vi-thu-khoa-dau-tien-o-Tien-Giang-hoi-cuoi-the-ky-XVIII-7774/

Tấn Vịnh (2017). Đi tìm gốm Chăm cổ ở Thành Đồ Bàn. http://baoquangnam.vn/van-hoa/di-tim-gom-cham-co-o-thanh-do-ban-54959.html

Thi Viện. Văn tế phò mã chưởng hậu quân Võ Tánh và lễ bộ thượng thư Ngô Tùng Châu. Thơ » Việt Nam » Nguyễn » Đặng Đức Siêu. https://www.thivien.net/%C4%90%E1%BA%B7ng-%C4%90%E1%BB%A9c-Si%C3%AAu/V%C4%83n-t%E1%BA%BF-ph%C3%B2-m%C3%A3-ch%C6%B0%E1%BB%9Fng-h%E1%BA%ADu-qu%C3%A2n-V%C3%B5-T%C3%A1nh-v%C3%A0-l%E1%BB%85-b%E1%BB%99-th%C6%B0%E1%BB%A3ng-th%C6%B0-Ng%C3%B4-T%C3%B9ng-Ch%C3%A2u/poem-pyI1G7cHh6lJJLeKxj1_Tg

Thích Nhất Hạnh (1982). Am mây ngủ. Lá Bối, Paris.

Thuận Ninh (2020). Di tích khảo cổ học quốc gia Thành Cha bị “cày xới”:  “Của chung” không ai khóc! http://baovanhoa.vn/nhip-song-so/artmid/2065/articleid/27522/di-tich-khao-co-hoc-quoc-gia-thanh-cha-bi-cay-xoi%E2%80%9D160160%E2%80%9Ccua-chung%E2%80%9D-khong-ai-khoc

Trần Hồng Phong (2017). Chùa Thập Tháp – nhớ về 10 ngôi tháp cổ và kinh đô xứ Chiêm Thành xưa. https://dandensg.blogspot.com/2017/06/chua-thap-thap-nho-ve-10-ngoi-thap-co.html

Trần Hưng (2020). Câu chuyện trung nghĩa đằng sau cuộc chiến tại thành Bình Định. https://trithucvn.net/van-hoa/cau-chuyen-trung-nghia-tai-thanh-binh-dinh.html

Trần Ngọc Vương & Trần Trọng Dương (2014). Quan hệ Đại Việt–Champa nhìn từ sự kiện Huyền Trân–Chế Mân. https://www.baodanang.vn/bao-da-nang-xuan-2014/201401/quan-he-dai-viet-champa-nhin-tu-su-kien-huyen-tran-che-man-2303964/

Trần Thị Huyền Trang (2003). Tản mạn xung quanh thành Hoàng Đế. http://www.baobinhdinh.com.vn/568/2003/9/5871/

Trần Trọng Kim (1971). Việt Nam sử lược. Trung tâm Học liệu, Bộ Giáo dục. Sài Gòn.

tungvk1781 (2011). Thông tin về thành lũy cổ ở Việt Nam. https://www.phuot.vn/threads/thong-tin-ve-thanh-luy-co-o-viet-nam.19635/page-2

Tư Hương (2019). Ngôi tháp cổ đẹp như tên gọi “Cánh Tiên”. http://www.baodaklak.vn/channel/9803/201705/ngoi-thap-co-dep-nhu-ten-goi-canh-tien-5533186/

Tường Linh (2012). Sự thực vụ oan tình của danh tướng Trần Khắc Chung. https://www.nguoiduatin.vn/su-thuc-vu-oan-tinh-cua-danh-tuong-tran-khac-chung-a62331.html

Từ Nguyên Thạch (no date). Hồ tắm cổ nhất Việt Nam. https://vaitrongcanh.wordpress.com/2009/10/27/h%E1%BB%93-t%E1%BA%AFm-c%E1%BB%95-nh%E1%BA%A5t-vi%E1%BB%87t-nam/

VHNT Bình Định (2019). THÀNH HOÀNG ĐẾ (Lăng Võ Tánh) | Nhơn Hậu – TX An Nhơn. https://www.youtube.com/watch?v=BRKeJ8BoWvs

Vietnamtourism (no date). Thành cổ Hoàng Đế. http://www.vietnam-tourism.com/index.php/tourism/items/2064

Võ Dũng (2012). Về thăm Lăng Ông Võ Tánh và trùng tu Tử cấm thành tại thành Bình Định (Đồ Bàn). http://vovidu.blogspot.com/2012/07/ve-tham-lang-ong-vo-tanh-va-trung-tu-tu.html

Vũ Đình Thung (no date). Ly kì Hòn Đá Chém chùa Thập Tháp. https://giacngo.vn/PrintView.aspx?Language=vi&ID=7EF051

Vương Hồng Sển (1994). Về tác giả bài “Non nước ngàn năm ra đi”, Tạp chí Cửa Việt số 2, tháng 7. http://www.tapchicuaviet.com.vn/index.asp?main=ndd&Browser=mobile&TL=VHTD&ID=9369

Wikipedia_Thành Hoàng Đế: https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A0nh_Ho%C3%A0ng_%C4%90%E1%BA%BF

Wikipedia_Trần Quang Diệu. https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Quang_Di%E1%BB%87u

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *