Thú Việt Nam quý hiếm

Thú Việt Nam quý hiếm
Diệp Minh Tâm
2020

Phân hạng bảo tồn chủng loài

Nghị định 03/VBHN-BTNMT
Nghị định 06/2019/NĐ-CP
Công ước về Buôn bán Quốc tế động thực vật hoang dã nguy cấp (CITES)
Phân hạng bảo tồn của IUCN
Phân hạng bảo tồn của Sách Đỏ Việt Nam

Thú quý hiếm

  1. báo gấm – clouded leopard (Pardofelis nebulosa)
  2. báo hoa mai – leopard (Panthera pardus)
  3. báo lửa, beo lửa, beo vàng – Asiatic golden cat (Catopuma temmimckii)
  4. bò rừng – banteng (Bos javanicus)
  5. bò tót – gaur (Bos gaurus)
  6. cáo lửa – red fox (Vulpes vulpes)
  7. cầy gấm – spotted linsang (Prionodon pardicolor)
  8. cầy giông – large Indian civet (Viverra zibetha)
  9. cầy giông đốm lớn – large-spotted civet (Viverra megaspila)
  10. cầy giông Tây Nguyên – (Viverra tainguensis)
  11. cầy hương – small Indian civet (Viverricula indica)
  12. cầy mực, cầy đen – binturong (Arctictis binturong)
  13. cầy vằn Bắc – Owston’s civet (Chrotogale owstoni)
  14. cầy vòi hương – Asian palm civet (Paradoxurus hermaphroditus)
  15. cầy vòi mốc – masked palm civet (Paguma larvata)
  16. cheo lưng bạc – silver-backed chevrotain (Tragulus versicolor)
  17. cheo Nam Dương, cheo Java – lesser mouse-deer (Tragulus javanicus)
  18. chó rừng – jackal (Canis aureus)
  19. chồn bay, cầy bay – flying lemur (Galeopterus variegatus)
  20. cu li lớn – Bengal slow loris (Nycticebus bengalensis)
  21. cu li nhỏ – pygmy slow loris (Nycticebus pygmaeus)
  22. dơi ngựa lớn – large flying-fox (Pteropus vampyrus)
  23. dơi ngựa nhỏ – Lyle’s flying fox (Pteropus lylei)
  24. gấu chó – sun bear (Ursus malayanus)
  25. gấu ngựa – Asiatic black bear, moon bear (Ursus thibetanus)
  26. hổ – Indochinese (Panthera tigris)
  27. hươu vàng – Indochinese hog deer (Axis porcinus annamiticus)
  28. hươu xạ – forest musk deer (Moschus berezovskii)
  29. khỉ đuôi dài – Nicobar crab-eating macaque (Macaca fascicularis)
  30. khỉ đuôi lợn – Northern pig-tailed macaque (Macaca leonina)
  31. khỉ mặt đỏ – stump-tailed macaque (Macaca arctoides)
  32. khỉ mốc – Assam macaque (Macaca assamensis)
  33. khỉ vàng – Rhesus monkey (Macaca mulatta)
  34. mang lớn – large-antlered muntjac (Megamuntiacus vuquangensis)
  35. mang Pù Hoạt – Puhoat muntjac (Muntiacus puhoatensis)
  36. mang Trường Sơn – Annamite muntjac (Muntiacus truongsonensis)
  37. mèo cá – fishing cat (Prionailurus viverrinus)
  38. mèo gấm – marbled cat (Pardofelis marmorata)
  39. mèo ri – jungle cat (Felis chaus)
  40. nai – sambar deer (Rusa unicolor)
  41. nai cà tông – Eld’s deer, brown-antlered deer (Rucervus eldii)
  42. rái cá lông mũi – hairy-nosed otter (Lutra sumatrana)
  43. rái cá lông mượt – smooth-coated otter (Lutrogale perspicillata)
  44. rái cá thường – Eurasian otter (Lutra lutra)
  45. rái cá vuốt bé – Asian small-clawed otter (Aonyx cinereus)
  46. sao la – saola (Pseudoryx nghetinhensis)
  47. sóc bay Côn Đảo – gray-cheeked flying squirrel (Hylopetes lepidus)
  48. sóc bay đen trắng – particolored flying squirrel (Hylopetes alboniger)
  49. sóc bay lông tai – hairy-footed flying squirrel (Belomys pearsonii)
  50. sóc bay nhỏ – Indochinese flying squirrel (Hylopetes phayrei)
  51. sóc bay sao – spotted giant flying squirrel (Petaurista elegans)
  52. sóc bay trâu – red giant flying squirrel (Petaurista petaurista)
  53. sóc đen – black giant squirrel (Ratufa bicolor)
  54. sói đỏ, chó sói lửa – dhole (Cuon alpinus)
  55. sơn dương – Chinese serow (Naemorhedus milneedwardsii)
  56. tê tê Java – Sunda pangolin (Manis javanica)
  57. tê tê vàng – Chinese pangolin (Manis pentadactyla)
  58. thỏ vằn – Annamite striped rabbit (Nesolagus timminsi)
  59. triết chỉ lưng – stripe-backed weasel (Mustela strigidorsa)
  60. voi – Asian elephant (Elephas maximus)
  61. voọc bạc Đông Dương – Indochinese silvered langur (Trachypithecus germaini)
  62. voọc bạc Trường Sơn – Annamese langur (Trachypithecus margarita)
  63. voọc Cát Bà, voọc đen đầu vàng – Cat Ba hooded black leaf monkey (Trachypithecus poliocephalus)
  64. voọc chà vá chân đen – black-shanked douc langur (Pygathrix nigripes)
  65. voọc chà vá chân đỏ, voọc chà vá chân nâu – red-shanked douc langur (Pygathrix nemaeus)
  66. voọc chà vá chân xám – grey-shanked douc (Pygathrix cinerea)
  67. voọc đen Hà Tĩnh, voọc gáy trắng – Hatinh langur (Trachypithecus hatinhensis)
  68. voọc đen má trắng – François’ langur (Trachypithecus francoisi)
  69. voọc mông trắng – Delacour’s langur (Trachypithecus delacouri)
  70. voọc mũi hếch – Tonkin snub-nosed monkey (Rhinopithecus avunculus)
  71. voọc xám – Indochinese grey langur (Trachypithecus crepusculus)
  72. vượn đen má hung, vượn đen má vàng – yellow-cheeked gibbon (Nomascus gabriellae)
  73. vượn đen má trắng – Northern white-cheeked gibbon (Nomascus leucogenys)
  74. vượn đen tuyền Đông-Bắc, vượn cao vít – cao-vit gibbon (Nomascus nasutus)
  75. vượn đen tuyền Tây-Bắc – black crested gibbon (Nomascus concolor)
  76. vượn má vàng Trung Bộ – Northern yellow-cheeked crested gibbon (Nomascus annamensis)
  77. vượn siki – Southern white-cheeked gibbon (Nomascus siki)
  78. vượn tay trắng – Lar gibbon (Hylobates lar)

Thú biến mất hoàn toàn ở Việt Nam

  1. bò xám – kouprey (Bos sauveli)
  2. heo vòi – Malayan tapir (Tapirus indicus)
  3. hươu sao – sika deer (Cervus nippon)
  4. tê giác hai sừng – Sumatran rhinoceros (Dicerorhinus sumatrensis)
  5. tê giác một sừng – Javan rhinoceros (Rhinoceros sondaicus)
  6. trâu rừng – wild water buffalo, Asian buffalo (Bubalus arnee)

Loài không tồn tại

  1. cầy rái cá (Cynongale lowei)

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Vì một số lý do, người tổng hợp cáo lỗi không thể xin phép tác giả các mô tả và hình ảnh sử dụng trong bài này. Trang web không có tính thương mại này nhằm tạo một cầu nối trong lĩnh vực sinh thái, đặc biệt là ngành động vật học. Nếu bạn đọc xem qua bài này rồi yêu thương các chủng loài động vệt nhiều hơn và qua đó yêu môi trường hơn, thì cái tội sử dụng chất liệu mà không xin phép của người tổng hợp hẳn sẽ được dung thứ.

Phân hạng bảo tồn chủng loài

Nghị định 03/VBHN-BTNMT

Nghị định 03/VBHN-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 11 tháng 5 năm 2020 “Về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” có Phụ lục I “Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ”, cũng liệt kê một số giống vật nuôi.

Nghị định 06/2019/NĐ-CP

Nghị định 06/2019/NĐ-CP về “quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp” nhằm luật hóa việc bảo vệ chủng loài nguy cấp, quý hiếm. Các loài động, thực vật rừng được chia thành các nhóm chính sau:

  • Nhóm I: Những loài đang có nguy cơ tuyệt chủng, vì thế nghiêm cấm mọi hành vi khai thác và sử dụng với mục đích thương mại. Nhóm IA là thực vật, còn Nhóm IB là động vật.
  • Nhóm II: Những loài chưa bị đe dọa tuyệt chủng nhưng nhưng có nguy cơ bị đe dọa nếu không được quản lý chặt chẽ, vì thế cần được bảo vệ, hạn chế khai thác và sử dụng với mục đích thương mại. Nhóm IIA là thực vật, còn Nhóm IIB là động vật.

Công ước về Buôn bán Quốc tế động thực vật hoang dã nguy cấp (CITES)

22 trong tổng số 25 loài rùa cạn và rùa nước ngọt Việt Nam được liệt kê trong phụ lục II và III của Công ước về Buôn bán Quốc tế Động Thực vật Hoang dã Nguy cấp (The Convention on International Trade in Endangered Species of Wild Fauna and Flora – CITES). Việc buôn bán các loài này qua biên giới quốc gia bị cấm nếu không có giấy phép của cơ quan quản lý CITES. Các loài bị cấm buôn bán qua biên giới được liệt kê trong 3 Phụ lục dưới đây, được tổng hợp năm 2019.

  • Phụ lục I: Những loài nguy cấp nhất. Việc buôn bán những loài này phải tuân theo quy chế nghiêm ngặt và chỉ có thể thực hiện được trong những trường hợp ngoại lệ.
  • Phụ lục II: Những loài hiện chưa nguy cấp nhưng có nguy cơ dẫn đến tình trạng này. Cần tuân theo quy chế nghiêm ngặt nhằm tránh việc sử dụng không phù hợp với sự tồn tại của chúng.
  • Phụ lục III: Những loài mà mỗi nước thành viên quy định theo luật pháp của họ nhằm ngăn chặn hoặc hạn chế việc khai thác và cần thiết phải có sự hợp tác với các nước thành viên khác để kiểm soát việc buôn bán.

Việc xuất khẩu bất kỹ mẫu vật (sống hay chết) thuộc ba Phụ lục trên phải được cho phép trước, theo những điều kiện từ nghiêm nhặt ít đến nghiêm nhặt tối đa.

Việt Nam tham gia Công ước CITES từ năm 1994. Phiên bản CITES tham khảo cho bài này ghi ngày 26-11-2019; tham khảo online https://checklist.cites.org/ tháng 7-2020.

Phân hạng bảo tồn của IUCN

Nhằm nhận định đặc tính quý hiếm trên toàn cầu của các chủng loài, ta có thể tham khảo hệ thống phân hạng bảo tồn của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (International Union for Conservation of Nature and Natural Resources, viết tắt là IUCN) đối với các chủng loài chưa tuyệt chủng, tóm tắt như sau.

  • Rất nguy cấp (Critically Endangered – CR): đang có nguy cơ tuyệt chủng rất cao trong hoang dã.
  • Nguy cấp (Endangered – EN): đang có nguy cơ tuyệt chủng cao trong hoang dã, kém hơn mức CR.
  • Sẽ nguy cấp (Vulnerable – VU): đang có nguy cơ tuyệt chủng khá cao trong hoang dã.
  • Sắp bị đe dọa (Near-Threatened – NT): có nguy cơ tuyệt chủng khá cao trong hoang dã trong tương lai không xa.
  • Ít lo ngại (Least Concern – LC): ít có nguy cơ tuyệt chủng.
  • Thiếu dẫn liệu (Data Deficient – DD): chưa đủ thông tin về hiện trạng, có thể chuyển đổi thành cấp khác khi có đủ thông tin này.

CR, EN và VU là ba mức độ nguy cấp khác nhau.

Phân hạng bảo tồn của Sách Đỏ Việt Nam

Hệ thống phân hạng bảo tồn của Sách Đỏ Việt Nam 2007 cho các chủng loài ở Việt Nam – để tham khảo theo ý nghĩa khoa học – tương tự như hệ thống phân hạng của IUCN.

Thú quý hiếm

báo gấm – clouded leopard (Pardofelis nebulosa)

Thuộc Họ Mèo (Felidae), gồm các loài mèo lớn như sư tử, hổ, báo gấm, báo hoa mai… (dù chúng có kích thước lớn nhưng vẫn là hậu duệ của những loài mèo nhỏ đã tồn tại trước đây), và các loài mèo nhỏ hơn như mèo nhà, mèo cá, mèo ri, mèo rừng.

Các loài động vật Họ Mèo có đặc điểm chung là thú sống trên cạn và ăn thịt. Một số đặc điểm phân biệt với các loài thú ăn thịt khác thể hiện ở răng, nanh, móng vuốt và khả năng săn đêm thông qua đặc điểm của mắt. Chúng có cấu trúc cơ thể uyển chuyển và thích hợp với chiến lược săn mồi mai phục, đây cũng là các loài nổi tiếng tinh ranh và có ý thức lãnh thổ cao, sự tò mò và phần lớn là các loài động vật sống đơn độc (trừ sư tử).

Báo gấm có thân dài 60-110 cm, nặng 11-20 kg. Lông màu nâu hay hung, điểm hoa văn lớn hình elip, hình dạng không đều, gờ màu sẫm trông giống như những đám mây, vì thế tên khoa học và một số tiếng nước ngoài đều nhắc tới “mây”. Con non: đốm có màu sẫm.

_bao gam

Thân hình săn chắc và cân đối, răng nanh thuộc loại nanh dài nhất trong số các loài mèo hiện còn tồn tại, dẫn đến giả thuyết là chúng săn bắt những động vật có vú lớn sống trên mặt đất. Báo gấm chủ yếu săn bắt các loài động vật có vú sống trên cây, như vượn và khỉ, thêm các động vật có vú khác như nai, nhím hay chim chóc và gia súc.

Vì nguồn thức ăn chủ yếu là các động vật sống trên cây, báo gấm giỏi leo trèo. Với bốn chân ngắn và khỏe, lòng bàn chân rộng với đủ móng vuốt sắc đều nhau, tài leo cây của báo mây khó con vật nào khác bì kịp. Để giữ thăng bằng khi trên tàn cây cao, báo gấm có cái đuôi với chiều dài xấp xỉ bằng cả thân. Đáng ngạc nhiên là chúng có thể di chuyển khi treo mình lộn ngược đầu xuống, phía dưới các cành cây và thân cây nghiêng.

Báo gấm cái đẻ một lần từ 1-5 con sau khi mang thai 85-93 ngày. Con non yếu ớt và chưa mở mắt, giống như con non của các loài mèo khác. Sau khi sinh khoảng 10 ngày, chúng có thể nhìn được và hoạt động được sau khoảng 5 tuần, có thể sau khoảng 10 tháng tuổi thì chúng trở thành các cá thể độc lập. Báo gấm đạt đến độ tuổi sinh sản sau 2 năm và con cái có thể mang thai mỗi năm một lần. Báo gấm trong nuôi nhốt có thể sống tới 17 năm: tuổi thọ thấp hơn trong hoang dã.

Sinh cảnh: rừng nhiệt đới và cận nhiệt đới với cao độ lên tới 2000 mét, đôi khi ở ven đầm lầy có đước mọc hay đồng cỏ. Hoạt động cả ngày lẫn đêm. Số lượng đang giảm khắp nơi. Thậm chí theo PV/Báo Tin tức (2020), được xem là đã biến mất hoàn toàn hoặc không còn khả năng phục hồi ngoài thiên nhiên ở Việt Nam.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục I; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN; IUCN hạng VU.

báo hoa mai – leopard (Panthera pardus)

Còn được dân gian gọi là báo hoa, báo đốm. Thuộc Họ Mèo (Felidae). Có 8 phân loài phân biệt chủ yếu qua DNA, phân loài báo Đông Dương có tên khoa học là Panthera pardus delacouri.

Dài từ 1 đến gần 2 mét, cân nặng 30-90 kg. Con cái có kích thước bằng khoảng 2/3 con đực. Bộ lông mềm và dầy (các sợi lông dài hơn ở vùng lạnh), màu nâu (cá thể sống ở vùng khô có màu nhạt hơn và sống trong rừng rậm và đồi núi có màu đậm hơn), có những hoa văn hình hoa mai màu đen, bụng có màu trắng bạc. Đầu, thân, đuôi kể cả bụng có nhiều đốm đen. Những đốm ở lưng có hình hoa mai (giữa đốm màu vàng chấm đen như nhụy hoa), đốm ở đầu nhỏ, phần nửa gốc đuôi đốm đen lớn hơn.

_bao hoa mai

Còn có dạng báo đen toàn thân mầu đen, đốm hoa mai lặn trong nền lông, dưới ánh sáng mặt trời mới có thể thấy hoa văn hình hoa mai lờ mờ. Đó là một dạng biến dị di truyền do gien có tính lặn liên quan đến quá trình chuyển hóa melanin. Không phải là một loài riêng biệt vì không có sự cách ly giao phối với các nhóm khác. Trong một lứa của cặp báo bố mẹ bình thường có thể sinh ra một vài con báo đen.

Tuy thân hình tương đối nhỏ so với các loại mèo lớn khác nhưng báo hoa mai là những con vật săn mồi đáng sợ. Chúng có thể chạy với tốc độ 58 km/giờ. Khả năng rình mò huyền thoại và có thể ăn được bất cứ động vật nào từ kích cỡ bọ hung trở lên làm cho chúng trở thành loài Họ Mèo sinh tồn thành công nhất.

Sinh thái: sống trong rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh và trảng cây bụi gần rừng. Chỗ ở không cố định, vùng hoạt động rộng ở nhiều độ cao khác nhau. Có thể leo trèo lên cây lớn ở độ cao 2-3m. Hoạt động chủ yếu từ lúc chạng vạng đến rạng đông và nghỉ ngơi vào ban ngày ở bụi rậm, giữa những mỏm đá hoặc thường nằm nghỉ trên các cành cây, ngủ chủ yếu trên cây.

Báo hoa mai Đông Dương hoạt động đơn lẻ, chỉ sống thành đôi vào mùa sinh sản. Báo mẹ mang thai 90–105 ngày, mỗi lứa đẻ 2-3 con. Sau khoảng 1 năm tuổi báo con tách khỏi mẹ để sống độc lập. Theo người Mường thì chúng là loài rất hung dữ, cực khỏe, có thể giết bò trong chớp mắt, nó có móng vuốt sắc lẹm, bộ hàm khỏe cùng răng nhọn, nên bò có thể bị nó giết trong nháy mắt với cú đớp đứt họng, cú bẻ gẫy cổ. Khác với hổ có thể ăn thịt thối, báo lại chỉ ăn thịt tươi, nên nó giết bò xong, chỉ ăn no bụng, rồi bỏ lại con mồi. Khi đói, nó lại săn con mồi khác để ăn thịt.

Ăn nhiều thứ đa dạng: côn trùng như bọ hung, chim, ếch nhái, thú gặm nhấm, khỉ, voọc, lợn rừng, cả đến thú lớn hơn như gia súc, hươu, nai. Từng xâm nhập vào khu dân cư để bắt gia súc, gia cầm, đặc biệt thích thịt chó và sẵn sàng liều lĩnh xông vào nhà dân để giết chó nuôi.

Tình trạng: từng hiện diện ở Lai Châu, Bắc Kạn, Quảng Trị, Thừa Thiên–Huế, Quảng Nam, Lâm Đồng. Diện tích phân bố bị thu hẹp rất nhiều. IUCN cho rằng một số lượng rất ít báo hoa mai có lẽ còn hiện diện ở Việt Nam. Thậm chí theo PV/Báo Tin tức (2020), được xem là đã biến mất hoàn toàn hoặc không còn khả năng phục hồi ngoài thiên nhiên ở Việt Nam.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục I; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng CR; IUCN 2016 hạng VU. Có nguy cơ lớn biến mất hoàn toàn ở Việt Nam.

báo lửa, beo lửa, beo vàng – Asiatic golden cat (Catopuma temmimckii)

Còn được gọi là beo vàng Châu Á hay beo vàng Temminck, thuộc Họ Mèo (Felidae).

Kích thước trung bình: thân dài 90 cm, đuôi dài 50 cm, cân nặng 12-16 kg. Bộ lông không có hoa văn hoặc đốm sọc; nếu có, là 2 sọc mờ dọc lưng và đốm mờ trên ngực. Lông đồng màu: hoặc đỏ da bò hoặc xám tro hoặc nâu hung; phía dưới có thể có đốm, thỉnh thoảng có những đốm mờ trên toàn bộ phần lông. Mặt có 2 sọc trắng từ khoé mắt lên đỉnh đầu, 2-3 vạch trắng ở mép môi trên. Mầu lông lưng và bụng ít tách biệt. Đặc điểm quan trọng nhất là đuôi có 2 màu rõ rệt: mặt trên cùng màu thân, mặt dưới sáng. Con non: da dày hơn và sẫm hơn, nhưng duy trì màu lông đến cuối đời.

_bao lua

Trong điều kiện nuôi nhốt báo lửa sống tới 20 năm, nhưng tuổi thọ trung bình của chúng trong hoang dã có lẽ ngắn hơn nhiều.

Sinh thái: sống ở rừng tiếp giáp với khu vực núi đá, rừng lá xanh quanh năm cận nhiệt đới hay rừng mưa nhiệt đới, đôi khi trong khu vực có địa hình bằng phẳng, rộng rãi. Cao độ phân bố của chúng từ vùng đất thấp tới 3000 mét. Hay lẩn tránh con người, nên phần lớn thông tin về chúng là trong điều kiện nuôi nhốt.

Kiếm ăn ban đêm, săn mồi chủ yếu trên mặt đất., nhưng khi cần thiết vẫn trèo cây. Khi đi săn chúng sử dụng các phương thức tấn công của một con mèo điển hình. Chúng săn chủ yếu chim, thằn lằn, động vật gặm nhấm, các loài động vật có vú nhỏ như hoẵng, cheo, khỉ, lợn rừng non, thỏ, chuột, chim, gà, và thỉnh thoảng cả hươu hay nai non. Báo lửa được coi là đi săn thành đôi khi săn đuổi những con mồi lớn. Chúng nhổ lông của chim lớn trước khi ăn thịt. Người ta cũng quan sát thấy chúng dọn dẹp thức ăn, một hành vi không có ở Họ Mèo nói chung. Thỉnh thoảng chúng cũng săn gia cầm gần khu dân cư.

Làm ổ trong các lỗ hổng trên cây, kẽ nứt đá và có thể trong các lỗ hổng và các nơi có chỗ ẩn nấp dưới đất. Mỗi lần thường chỉ đẻ một con. Dựa trên những gì quan sát được trong điều kiện giam cầm, người ta cho rằng con bố đóng vai trò quan trọng trong việc nuôi dạy con non.

Tình trạng: từng hiện diện ở Lai Châu, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Yên Bái, Hà Tây, Thanh Hoá, Quảng Trị, Thừa Thiên–Huế, Gia Lai, Kontum, Lâm Đồng. Hiện nay số lượng bị giảm sút nghiêm trọng. Một số báo lửa được nuôi trong các vườn thú, nhưng chúng sinh đẻ rất kém.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục I; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN; IUCN 2014 hạng NT.

bò rừng – banteng (Bos javanicus)

Còn được gọi là bò banteng, thuộc Họ Trâu bò (Bovidae), gồm các loài có vú guốc chẵn nhai lại như bò rừng bison, trâu rừng châu Phi, trâu nước, linh dương, cừu, dê, trâu bò gia súc… Có 143 loài còn tồn tại và 300 loài đã bị tuyệt chủng được biết đến.

Loài động vật Họ Trâu bò to lớn nhất có thể cân nặng trên 1 tấn và cao 2 m (tính từ vai), trong khi loài nhỏ nhất chỉ cân nặng khoảng 3 kg và không cao hơn một con mèo nhà lớn. Một số loài có cơ thể đầy cơ bắp và to béo, những loài khác có cơ thể nhẹ nhõm và chân dài. Nhiều loài tụ tập lại thành các bầy lớn với cấu trúc và trật tự xã hội phức tạp, nhưng những loài khác lại ưa thích sống cô độc. Chúng chiếm lĩnh một khoảng rộng các loại môi trường sống, từ các sa mạc tới lãnh nguyên, từ rừng nhiệt đới rậm rạp tới khu vực núi cao.

Phần lớn các thành viên của họ này là động vật ăn cỏ. Tất cả các loài trong họ đều có dạ dày 4 ngăn (túi), cho phép phần lớn trong chúng có thể tiêu hóa và hấp thụ các loại thức ăn nghèo dinh dưỡng đối với nhiều loài thú khác, chủ yếu trong đó là các loại cỏ. Không có động vật bậc cao nào có thể trực tiếp tiêu hóa cellulose, nhưng tương tự như kangaroo, mối và một số loài khác, các loài họ Trâu bò dựa vào vi sinh vật sinh sống trong dạ dày của chúng để phân hủy cellulose bằng cách lên men.

Do kích thước và trọng lượng của hệ tiêu hóa phức tạp nên nhiều loài Họ Trâu bò có cơ thể to và rắn chắc; các loài thanh mảnh hơn có xu hướng có thức ăn mang tính chọn lọc hơn và chúng thường bứt lá thay vì gặm cỏ. Hàm trên không có răng nanh và răng cửa, được thay thế bằng tấm đệm dạng chất sừng và cứng để răng hàm dưới cọ xát vào khi cắt đứt lá hay cỏ.

Tất cả các loài họ này có 4 ngón chân trên mỗi chân – chúng đi bằng hai ngón (guốc) trung tâm, trong khi 2 ngón ngoài (móng huyền) ít khi chạm vào mặt đất. Tất cả các con đực và nhiều con cái có sừng (ngoại trừ ở một vài giống thuần hóa); kích thước và hình dạng các sừng này không đồng nhất nhưng cấu trúc cơ bản luôn luôn là phần lồi ra đơn bằng chất xương không có nhánh và được che phủ bằng lớp vỏ bao vĩnh cửu chứa keratin.

Bò rừng có thân dài 1,9-2,2 m, trọng lượng 600–800 kg. Mông trắng. Cẳng chân trắng. Có các đường viền trắng xung quanh mắt và mõm, tuy nhiên hình thái phụ thuộc giới tính rõ rệt. Con đực có lông màu hạt dẻ sẫm. Sừng màu vàng, dài cong về hướng trên, gốc sừng tròn. Đỉnh đầu phẳng, da trần. Có bướu trên lưng gần vai. Con cái có lông màu nâu ánh đỏ, sừng nhỏ, cong vào phía trong ở chóp sừng và không có bướu.

_bo rung

Sinh thái: sống trong rừng thưa, thoáng, có trảng cỏ; rừng khộp. Hoạt động cả ngày lẫn đêm, nhưng ở gần khu dân cư quen với hoạt động ăn đêm hơn. Ăn cỏ, lá tre, quả cây, lá và cành non. Sống theo bầy đàn, mỗi đàn thường có từ 5-25 con gồm 1 bò đực, còn lại là bò cái và bê; đầu đàn là một bò cái già. Con cái chửa 9,5-10 tháng, đẻ 1-2 con. Trong điều kiện thuận lợi có thể sinh sản năm một. Tuổi thọ 20-25 năm.

Tình trạng: trước đây phổ biến ở Tây Nguyên, hiện tại do tình trạng săn bắn trái phép nên số lượng đàn và cá thể đã suy giảm đến mức báo động. Còn hiện diện một ít đàn nhỏ ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên (Khu BTTN) Ea Sô (Đắk Lắk), VQG Phong Nha–Kẻ Bàng, VQG Yok Đôn.

Được thuần hóa ở một vài nơi trong khu vực Đông Nam Á.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục I; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN; IUCN 2016 hạng EN.

bò tót – gaur (Bos gaurus)

Thuộc Họ Trâu bò (Bovidae).

Tại Việt Nam, bò tót được người dân tộc thiểu số gọi là con min, nghĩa là trâu rừng, do chúng có hình dáng tương tự loài trâu. Bò tót lai bò nhà và được thuần hóa có tên khoa học là Bos frontalis.

Phân loài bò tót Đông Dương hay bò tót Đông Nam Á (Bos gaurus readei, Bos gaurus laosiensis) có tầm vóc to lớn nhất: con đực có thể cao tới 2,2 m và nặng trên 2 tấn. Vì thế, bò tót ở Việt Nam được xếp vào hàng to nhất thế giới, to hơn cả trâu rừng Châu Á và bò rừng bison Bắc Mỹ.

Bò tót nhìn giống như trâu ở phía trước và giống như bò ở phía sau. Cẳng chân trắng. Bò đực có màu đen bóng, lông ngắn và gần như trụi hết khi về già. Bò cái có màu nâu sẫm, những cá thể sống ở địa hình khô và thưa còn có màu hung đỏ. Bò đực và cái đều có sừng. Sừng to, chắc, màu vàng, uốn cong về phía trước; gốc sừng dẹt, có những lằn rãnh nằm ngang gọi là răng; mũi sừng có màu xanh xám, chuyền dần sang xám đen rồi đen bóng ở bò già. Chiều dài trung bình của sừng thường 80–85 cm ở bò đực, sừng bò cái ngắn, nhỏ hơn và uốn cong hơn. Đỉnh đầu dô, có phủ lông thường có màu vàng. Đuôi chỉ dài ngang đến khuỷu chân sau. Con đực còn có 1 luống cơ bắp chạy dọc sống lưng đến quá bả vai, và một cái yếm lớn trước ngực, tạo ra một dáng vẻ rất kỳ vĩ.

_bo tot

Trong hoang dã, bò tót sống thành từng đàn 8-10 cá thể. Bò đực già thường sống đơn độc hoặc hợp với nhau thành từng nhóm nhỏ. Bò tót thích ăn lá non, mầm tre non, cỏ non mới mọc ở nương rẫy cháy. Có thai khoảng 270 ngày, đẻ mỗi năm một lứa, mỗi lứa một con. So với bò rừng, bò tót dữ hơn, nguy hiểm cho người hơn. Khi bị bắn, bò rừng phân tán chạy trốn nhưng bò tót sẵn sàng tấn công kẻ thù. Bò tót khá hung dữ, chúng hay húc tung những chướng ngại vật và có thể húc chết người.

Một số bò tót xâm nhập khu dân cư và giao phối với bò nhà. Trong giai đoạn 2009-2015 tại vùng đệm Vườn quốc gia Phước Bình (Ninh Thuận) thường xuyên xuất hiện một con bò tót đực. Con bò này nhập vào đàn bò nhà của người dân và kiếm ăn chung trên cánh đồng cỏ ven rừng, giao phối với 20 bò cái là bò nhà và để lại 20 hậu duệ F1 gồm cả đực và cái, to lớn hơn bò nhà. Những con F1 bất thụ khi giao phối với nhau. Nhưng con cái F1 khi giao phối với bò đực nhà thì sinh sản bình thường. Bò F2 lai giữa bò tót lai F1 với bò cái nhà có khả năng tiếp tục sinh sản, và đã sinh đến thế hệ F3. (Mai Vinh, 2017). Trong điều kiện nuôi tập trung phù hợp, bò lai F2 có trọng lượng lớn và cho khối lượng thịt hơn hẳn bò nhà.

Phân bố ở Vườn Quốc gia (VQG) Mường Nhé (Điện Biên), vùng rừng núi Hướng Hóa, Đakrông của (Quảng Trị), VQG Chư Mom Rây (Kon Tum) và VQG Cát Tiên (Lâm Đồng), có lúc đi lạc vào Sân bay Phú Bài, Huế (Bùi Ngọc Long & Gia Tân, 2012).

Bò tót bị tàn sát dữ dội vì những giá trị của chúng, một cái mật bò tót giá lên tới 50–60 triệu đồng, bộ sừng từ 5-7 triệu đồng, thịt bò tót có giá gấp đôi, gấp ba lần thịt bò nhà.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục I; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN; IUCN 2016 hạng VU.

Xem thêm: Hảo Hảo Media (2018); Vườn Quốc gia Cát Tiên (2020).

cáo lửa – red fox (Vulpes vulpes)

Còn được gọi là cáo đỏ, thuộc Họ Chó (Canidae). Họ này bao gồm các loài như chó, sói, cáo, sói đồng cỏ và chó rừng. Chúng đều có mõm dài, tai nhọn, đuôi có nhiều lông, nanh khá sắc, khứu giác nhạy, thân hình cao gầy và nhanh nhẹn, chân dài, đi bằng đầu ngón chân. Là động vật ăn thịt có kích thước trung bình, chó là động vật rất thích nghi với cuộc sống săn mồi trên đồng cỏ và các sinh cảnh trống trải khác.

Cáo lửa có một lịch sử lâu dài gắn với con người, trong nhiều thế kỷ bị con người săn bắt nhiều để diệt trừ do gây hại đối với vật nuôi và để lấy lông, cũng như được thể hiện trong văn hóa dân gian của con người và trong thần thoại.

Cáo lửa là loài lớn nhất trong Chi Cáo (Vulpes): thân dài 45-90 cm, đuôi dài 32-53 cm, nặng 5-7 kg, con cái nhẹ hơn con đực 15–20%. Có hình dáng giống chó nhà nhưng mõm nhọn hơn. Mặc dù có tên là cáo lửa, màu lông có nhiều biến dị theo cá thể và vùng địa lý, có thể đỏ, vàng-nâu hoặc phớt đen, cũng bao gồm bạch tạng và hắc tố. Tai to vểnh cao, chân cao. Cáo lửa có bàn chân lớn, gan bàn chân phủ lông, dài duôi quá nửa dài thân, lông đuôi không xù. Cơ thể thuôn dài với các chi tương đối ngắn. Lưng thường có màu nâu, nâu pha đỏ hoặc nâu pha xám; bốn chân màu sẫm hơn; họng và bụng trắng ngà. Đuôi phủ lông và chỉa xuống đất khi ở vị trí đứng. Đồng tử hình trái xoan. Chân trước có năm ngón, trong khi chân sau chỉ có bốn ngón. Rất nhanh nhen, có thể nhảy qua hàng rào cao hơn 2 mét, và bơi giỏi. Con cái thường có bốn cặp núm vú, mặc dù con cái có bảy, chín hoặc mười núm vú không phải là hiếm.

_cao lua

Sinh thái: sống ở nhiều dạng sinh cảnh khác nhau: rừng, trảng cây bụi, đất canh tác nông nghiệp, thậm chí gần khu dân cư. Sống theo cặp hoặc trong gia đình, chẳng hạn như một cặp cáo bố mẹ và các con của chúng, hay một cáo đực với một số cáo cái có quan hệ họ hàng. Các cáo con ở lại với bố mẹ của chúng để được huấn luyện kỹ năng săn mồi.

Cáo lửa chủ yếu ăn các loài gặm nhấm nhỏ, mặc dù chúng cũng có thể bắt thỏ, gà, loài bò sát, động vật không xương sống, và động vật móng guốc nhỏ, xác động vật. Đôi khi chúng cũng ăn trái cây và các loại rau. Thính giác rất tốt, có thể nghe tiếng chuột kêu cách 100 mét. Khứu giác cũng tốt, nhưng yếu hơn những giống chó chuyên đánh hơi.

Sinh để quanh năm, mang thai 49-55 ngày. Cả bố và mẹ cùng chăm sóc con. Con non trong 3 tháng đầu sau khi sinh chỉ sống trong hang, sau 1 năm tuổi mới rời bố mẹ sống độc lập.

Sống được 10 năm hay hơn trong điều kiện nuôi nhốt.

Phân bố hẹp ở Việt Nam: Cao Bằng.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IIB; CITES không phân hạng; IUCN 2016 hạng LC, số lượng ổn định.

cầy gấm – spotted linsang (Prionodon pardicolor)c

Còn được gọi là cầy sao, cầy báo, thuộc Họ Cầy (Viverridae), gồm 38 loài có vú cỡ nhỏ đến trung bình, thân hình mềm mại, chủ yếu sống trên cây. Bề ngoài chúng giống như mèo, nhưng mõm rộng và thường nhọn. Thân dài 40–100 cm, đuôi dài 12–90 cm, cân nặng 1–5 kg. Tuổi thọ 5-15 năm.

_cay gam

Môi trường sinh sống ưa thích của chúng trên hết là rừng mưa nhiệt đới, cũng sống ở vùng núi.

Cầy ăn tạp, bổ sung cho các thức ăn từ thịt (cả do chúng săn được lẫn xác chết) là hoa quả, trứng và có thể là cả rễ cây. Một trong những thức ăn khoái khẩu của cầy vòi đốm là quả cà phê. Hạt cà phê thường do cầy thải ra được thu gom lại để bán dưới dạng cà phê chồn tại Việt Nam.

Cầy cũng là một trong những nguồn cung cấp xạ có giá trị cao, được dùng làm chất ổn định trong công nghiệp sản xuất nước hoa. Mặc dù các loài cầy đã từng có thời bị giết để lấy xạ, nhưng gần đây người ta đã “tái sinh” chúng cho mục đích này. Các chất tiết ra của cầy được lấy ra từ các tuyến xung quanh hậu môn của chúng thông qua một quy trình mổ. Cả cầy đực lẫn cầy cái đều tiết ra chất nặng mùi này. Ít nhất có một trang trại nuôi cầy ở Ethiopia cho mục đích lấy xạ, mặc dù kiểu lấy xạ này đang tàn lụi dần đi do ngành sản xuất nước hoa đang chuyển sang sử dụng hóa chất tổng hợp.

Cầy gấm có dáng nhỏ, vóc khá thấp, mảnh mai, thân dài 35-60 cm, đuôi dài 30-50 cm trọng lượng 0,5-0,6 kg, đầu nhọn, tứ chi nhỏ. Bộ lông màu vàng đất, có nhiều đốm đen hình bầu dục lớn nhỏ xen nhau nhưng không nối với nhau từ cổ đến gốc đuôi và đùi, cùng 4 sọc dọc từ cổ đến bả vai. Đuôi có 9 khoang đen xen với 9 khoang vàng nhạt hoặc xám nhạt. Phần bụng và họng sáng hơn phần lưng. Cả con đực và con cái đều có tuyến xạ. Đặc biệt, khác với các loài khác trong Họ Cầy, cầy gấm chỉ có một răng hàm ở hàm trên.

Sinh sản quanh năm; thời gian mang thai 60-81 ngày. Một số loài có thể sinh đẻ hai lần trong năm. Mỗi lứa đẻ 1-6 con non phủ đầy lông từ khi mới sinh.

Sinh thái: sống chủ yếu ở rừng thứ sinh có nhiều dây leo vùng cao nguyên. Thức ăn bao gồm chuột, rắn, sóc, ếch nhái, chim nhỏ và trứng chim, côn trùng; không ăn quả. Cầy gấm leo trèo rất giỏi. Hoạt động về đêm, chủ yếu ở các cây thấp cách mặt đất từ 1-1,5 mét, đôi khi chúng cũng xuống mặt đất. Sống đơn độc và thầm lặng, chỉ khi đến mùa động dục và nuôi con thì mới sống thành nhóm. Đẻ con trong hốc cây; mỗi lứa đẻ hai con.

Tình trạng: từng hiện diện ở Lào Cai, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Lạng Sơn, Bắc Giang, Quảng Ninh, Hoà Bình, Hà Tĩnh, Gia Lai, Lâm Đồng. Hiện nay số lượng và vùng phân bố bị suy giảm nhiều.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục I; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng VU; IUCN 2008 hạng LC, số lượng đang giảm.

cầy giông – large Indian civet (Viverra zibetha)

Còn được gọi là cầy giông, thuộc Họ Cầy (Viverridae).

Thân dài 50-95 cm, đuôi dài 38-59 cm, cân nặng 5-11 kg. Bộ lông màu xám-nâu hoặc xám-đen. Thân có nhiều vệt xám trắng không đều. Cổ họng có 2-3 vạch lớn đen trắng chạy từ gốc tai qua cổ họng sang tai bên kia. Đuôi có 6-7 ngấn màu trắng xen đen, mõm trắng. Dọc sống lưng có bờm lông đen dài chaỵ từ cổ đến gốc đuôi, khi gặp nguy hiểm chúng dựng lên để đe dọa kẻ thù. Con đực to hơn con cái chút ít. Cả con đực và con cái đều có tuyến xạ nằm gần cơ quan sinh dục, khi gặp kẻ thù chúng sẽ tỏa mùi xạ để đánh lạc hướng.

_cay giong

Sinh thái: có khả năng thích nghi với nhiều môi trường khác nhau. Hoạt động đơn lẻ ban đêm chủ yếu trên mặt đất, mặc dù leo trèo tốt. Ban ngày, ngủ trong hang hốc dưới đất của các loài động vật khác đã bỏ hoang ở rừng, nương rẫy, ven suối hoặc thung lũng. Đánh dấu lãnh thổ bằng các chất xạ từ tuyến hậu môn. Lãnh thổ rộng khoảng 1,7 đến 5,4 km2.

Chủ yếu ăn thịt động vật nhỏ như chim, ếch nhái, rắn, thú nhỏ, trứng, cua, cá; cũng ăn thêm quả mềm.

Con cái mang thai trong thời gian bất kỳ của năm, thường đẻ 2 lứa mỗi năm, mỗi lứa thường đẻ 4 con trong một lỗ trên mặt đất hoặc trong bụi cây rậm rạp. Con non mở mắt sau 10 ngày và cai sữa sau một tháng tuổi.

Tình trạng: phân bố ở các khu rừng còn tốt từ Bắc Bộ đến Trung Bộ. Do thịt cầy giông là một loại thực phẩm ngon, mật có tác dụng chữa bệnh cho phụ nữ khi sinh đẻ, da và lông để sản xuất hàng may mặc, tuyến xạ được dùng trong công nghệ sản xuất nước hoa, nên chúng thường xuyên đối mặt với việc bị săn bắt.

Giá trị: do cầy giông ăn cả động vật và thực vật nên chúng là loài có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái, hạn chế những con vật nhỏ có vai trò phân tán thảo mộc.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IIB; CITES Phụ lục III; IUCN 2015 hạng LC, số lượng đang giảm.

cầy giông đốm lớn – large-spotted civet (Viverra megaspila)

Còn được gọi là cầy giông sọc, thuộc Họ Cầy (Viverridae).

Cỡ lớn trong Họ Cầy: thân dài 76–77 cm, đuôi dài 33–39 cm, trọng lượng 6.6–8.4 kg. Đầu lớn, mõm dài, có một dải lông bờm cao màu đen dọc sống lưng đến mút đuôi, hai bên sườn bắp đùi và chân sau có các đốm đen lớn rõ rệt trên nền sáng, các đốm đen này có thể tách rời hoặc tạo thành dải. Vòng đuôi bị cắt bởi bờm lông màu đen ở mặt trên thành hình bán nguyệt, rõ nhất ở vòng màu trắng. Đuôi có 4 vòng đen, trắng ở nửa phần gốc đuôi, còn nửa phần mút đuôi thì hoàn toàn màu đen và không có vòng. Có tuyến xạ cạnh hậu môn.

_cay giong dom lon

Sinh thái: sống ở vùng đồi núi cây bụi cạnh rừng, nương rẫy, dọc sông suối, ao hồ và kể cả rừng tràm, đước. Sống đơn độc, làm tổ ở hốc cây, bụi rậm. Kiếm ăn vào ban đêm. Ăn các loài thú nhỏ, chim, cá, ếch nhái, côn trùng, giun đất và một số quả cây. Đôi lúc chúng còn ăn cả gia cầm và gia súc nhỏ. Sinh sản quanh năm, mỗi năm đẻ 2 lứa, mỗi lứa đẻ 2-4 con.

Tình trạng: phân bố ở các tỉnh vùng Tây Nguyên và Nam Bộ. Rất ít gặp. Vùng phân bố và số lượng giảm sút nhiều do bị mất rừng và săn bắt bởi giá trị kinh tế của bộ lông. Một số còn hiện diện trong rừng tràm và Khu BTTT Phong Điền.

Vào tháng 6/2016, IUCN cho rằng cầy giông sọc có thể đã biến mất hoàn toàn ở Trung Quốc và Việt Nam. Tuy nhiên, vào tháng 9/2016, bẫy ảnh bố trí ở Khu BTTN Phong Điền phát hiện sự có mặt của cầy giông sọc (Đại Dương, 2016).

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IIB; CITES không phân hạng; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng VU; IUCN 2016 hạng EN, số lượng đang giảm.

cầy giông Tây Nguyên – (Viverra tainguensis)

Loài được phát hiện và mô tả cho khoa học năm 1997, thuộc họ Cầy (Viverridae). Theo IUCN (2015a), tính chính danh của loài này bị phản bác nghiêm trọng năm 2001, và bây giờ người ta xem loài này đồng nghĩa với cầy giông (Viverra zibetha).

cầy hương – small Indian civet (Viverricula indica)

Còn được gọi là chồn hương hay chồn mướp, thuộc họ Cầy (Viverridae).

Thân dài 55–75 cm, đuôi dài 35–50 cm, cân nặng 2–4 kg. Bộ lông từ hung nâu vàng tới xám bẩn là chủ đạo. Hai tai và mõm hơi đen. Dọc sống lưng có các vệt màu đen, phần hông có các vệt (hay đốm) đen mờ xếp thành hàng chạy dọc từ vai xuống mông (phần mông rõ nét hơn). Đuôi có các vòng đen trắng xen kẽ nhau (7-10 vòng mỗi loại). Bốn chân ngắn, màu đen. Con đực có tuyến xạ nằm giữa hai tinh hoàn. Nhờ chất xạ này mà con đực dễ dàng hấp dẫn, kêu gọi con cái trong những mùa sinh sản.

_cay huong

Sinh thái: sống trong các khu vực rậm cỏ hay cây bụi thấp như nương rẫy ven suối. Thường sống đơn độc. Hoạt động trên mặt đất vào ban đêm. Bắt mồi (chim, chuột, rắn…) rất giỏi. Thức ăn ưa thích là côn trùng, chuột, chim nhỏ, thằn lằn, sâu bọ, trứng… Ngoài ra, còn ăn nhiều loại củ, quả và rễ cây… Nếu sống gần khu vực nông thôn, cầy hương còn có thể vào chuồng để bắt gà, vịt, ăn gà con và trứng,

Một đặc điểm khá độc đáo của cầy hương là bản tính ưa sạch sẽ, không thích nơi ẩm ướt, có mùi hôi và bụi bặm. Chúng sống ở nơi khô ráo và đi vệ sinh thường đúng một điểm cố định. Chính vì thế mà người trồng cà phê có thể đi nhặt phân cầy sau khi chúng ăn cà phê để về làm sạch và chế biến thành cà phê cứt chồn. Cầy chỉ lựa ăn những quả cà phê chín, có vị ngọt, sau khi vào cơ thể sẽ tiêu hóa phần vỏ và thịt, còn phần hạt cứng không tiêu hóa được sẽ được thải ra ngoài cùng với phân. Đây là loại cà phê thơm ngon nổi tiếng, được nhiều người ưa dùng.

Có nhiều chu kỳ động dục trong năm. Độ tuổi thuần thục sinh lý và chu kỳ mang thai không rõ ràng. Thường đẻ mỗi năm một lứa, mỗi lứa 3-5 con. Thường đẻ trong hang tự đào hoặc hốc cây, hang động nhỏ.  Con non chưa mở mắt và còn yếu.

Tuổi thọ trung bình trong hoang dã khoảng 8-9 năm, trong điều kiện nuôi nhốt khoảng 22 năm.

Được nuôi phổ biến.

Loài có giá trị cao về dược liệu (xạ hương) và thực phẩm. Thịt cầy hương mềm, thơm, ngọt và ngon; da và xương được dùng như một vị thuốc y học cổ truyền. Xạ hương là một dược liệu quý, vị cay, tính ấm, mùi thơm, có tác dụng khai khiếu, trấn tâm, chống độc, tiêu viêm, giảm đau, thông kinh, thường được sử dụng trong sản xuất nước hoa… Xạ hương của cầy nuôi không thơm như cầy tự nhiên. Thịt cầy hương là món ăn đặc sản trong các nhà hàng khách sạn, có giá rất cao. Cầy hương trong hoang dã ngày càng khan hiếm nên nhiều nơi đã tổ chức nuôi và cho sinh sản thành công.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IIB; CITES 2019 Phụ lục III; IUCN 2015 hạng LC, số lượng ổn định.

cầy mực, cầy đen – binturong (Arctictis binturong)

Thuộc Họ Cầy (Viverridae).

Kích thước của cầy mực rất khác nhau: chiều dài thân 79–86 cm, đuôi dài 40–71 cm, trọng lượng 10–20 kg. Bộ lông đen tuyền hoặc xám sẫm phớt nâu, phần mõm phớt trắng, một số lông phớt trắng hoa râm hoặc xám trắng. Lông dài, thô và xù. Đuôi rậm lông, gốc đuôi lớn và thon dần về phía mút đuôi. Lúc leo trèo có thể uốn cong cuộn mút đuôi vào thân cây. Mõm ngắn và nhọn. Mắt to, đen và lồi. Đôi tai ngắn, tròn, trên tai có chỏm lông đen dài, viền tai màu trắng. Có sáu răng cửa ngắn tròn ở mỗi hàm, hai răng nanh dài và nhọn, và sáu răng hàm ở mỗi bên. Chân ngắn và khoẻ có móng vuốt lớn thích hợp cho leo trèo, lông trên chân ngắn và có màu hơi nâu. Bàn chân có năm ngón, lòng bàn chân không có lông, chân sau dài hơn chân trước.

_cay muc

Sinh thái: sống độc thân, thầm lặng trong rừng mưa nhiệt đới. Hoạt động và ngủ chủ yếu trên cây với khả năng leo trèo rất giỏi. Đặc biệt cầy mực có khả năng bơi lội và rất thích tắm. Ăn đêm, trái cây là chính, ngoài ra còn ăn trứng động vật, mầm cây, lá cây và động vật nhỏ như loài gặm nhấm hoặc chim.

Sinh sản hầu như quanh năm. Cầy mực là một trong khoảng 100 loài thú có khả năng điều chỉnh thời gian mang thai để phù hợp với các điều kiện môi trường. Số cầy non mỗi lứa thường là 2, có thể đến 6. Con sơ sinh nặng khoảng 400 gam. Có thể đạt tuổi thọ trên 20 năm.

Cầy mực cho da, lông, mật và xạ hương được dùng làm dược liệu. Công nghiệp sản xuất mỹ phẩm cũng dùng xạ hương của chúng để làm chất định hương.

Phân bố rải rác ở Lai Châu, Ninh Bình (Cúc Phương), Gia Lai, Kon Tum (Hà Nừng), Đắk Lắk và Đồng Nai (Cát Tiên).

Trữ lượng cầy mực trong hoang dã rất ít. Do săn bắt quá mức và nạn khai thác rừng, phá rừng nên trữ lượng của cầy mực giảm đi một cách đáng kể. Tại Việt Nam, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật kết hợp với Vườn thú Hà Nội nghiên cứu kỹ thuật nhân nuôi và đã nuôi được cầy sinh sản.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục III; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN; IUCN 2016 hạng VU.

cầy vằn Bắc – Owston’s civet (Chrotogale owstoni)

Còn được gọi là lửng chóc, thuộc Họ Cầy (Viverridae).

Kích thước trung bình: thân dài 57 cm, đuôi dài 43 cm. Bộ lông màu vàng nhạt hoặc xám bạc. Có 4-5 sọc đen lớn vắt ngang lưng xuống 2 bên sườn; 2 sọc đen chạy song song từ đỉnh đầu qua cổ và mở rộng xuống bả vai, đến đùi chân trước; tiếp nối 2 vạch tách biệt xuống đến đùi theo 2 sọc trên. Mặt có 3 sọc đen nhỏ kẹp giữa 2 sọc trắng chạy từ mũi đến đầu. Gốc đuôi có 2 vòng đen trắng, phần còn lại của đuôi (3/4) đồng mầu nâu đen. Đặc điểm nổi bật của cầy vằn Bắc khác với cầy vằn Nam (Hemigalus derbyanus) là có nhiều đốm đen ở sườn và đùi (cầy vằn Nam không có đốm).

_cay van Bac

Sinh thái: sống ở nhiều kiểu rừng khác nhau, chủ yếu rừng núi đất, trong các thung lũng có độ ẩm. Chủ yếu hoạt động ở mặt đất, chỉ vài trường hợp gặp trên cây cao 2 m, nhưng leo trèo giỏi. Sống độc thân, hoạt động ban đêm. Thức ăn gồm giun đất (đặc biệt thích nhất), côn trùng, quả cây, chuột, ếch, nhái, chim, trứng chim. Chưa có tài liệu về sinh sản của cầy vằn trong thiên nhiên; trong nuôi nhốt cầy vằn trưởng thành sinh dục vào 1,5-2 năm tuổi; đẻ mỗi lứa 2-3 con; thời gian chửa 60- 68 ngày; con sơ sinh trên dưới 400 g.

Phân bố rộng ở các tỉnh miền núi trong nước. Nơi thu mẫu: Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Phú Thọ, Hoà Bình, Gia Lai, Lâm Đồng. Trước đây khá phổ biến; hiện nay, do săn bắt, buôn bán quá mức và hủy hoại sinh cảnh, trữ lượng bị giảm sút nghiêm trọng.

Đây là loài thú quý, hiếm, có giá trị nghiên cứu khoa học và giúp cân bằng hệ sinh thái. Tuyến xạ có thể sử dụng làm dược liệu hoặc trong công nghệ sản xuất mỹ phẩm.

Vào tháng 9/2016, bẫy ảnh bố trí ở Khu Bảo tồn Sao la (Huyện A Lưới, Thừa Thiên–Huế) năm 2015 và Khu BTTN Phong Điền năm 2016 phát hiện sự có mặt của cầy vằn (Đại Dương, 2016).

Sinh sản thành công trong tình trạng nuôi nhốt. Vườn Quốc gia Cúc Phương có dự án quốc tế nhân nuôi cầy vằn và thu được kết quả tốt.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IIB; CITES 2019 Phụ lục II; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng VU; IUCN 2015 hạng EN.

cầy vòi hương – Asian palm civet (Paradoxurus hermaphroditus)

Còn được gọi là cầy vòi đốm hay cầy vòi mướp, thuộc Họ Cầy (Viverridae). Tên khoa học của chúng là do cả hai giới đều có các tuyến xạ phía dưới đuôi trông tương tự như tinh hoàn. Chúng có thể phun ra các chất bài tiết độc hại từ các tuyến này.

Thân dài 48-70 cm, đuôi dài 40-66 cm, nặng 3-5 kg. Đặc điểm phân biệt là ba vệt đen chạy dọc trên lưng, đứt quãng về phía đuôi tạo nên những đốm đen. Lác đác hai bên thân là những đốm đen khác. Bộ lông nền màu xám. Mặt có vệt đen quanh mắt và mõm, trông như mặt nạ, có các đốm trắng bên má và bên mắt. Bốn bàn chân đen, mặt trên ở phần gốc đuôi có màu đen điểm vàng nhạt, mặt dưới màu vàng đất, phần ngoài đuôi màu đen. Vuốt sắc cho phép con vật leo trèo cây dễ dàng.

_cay voi huong

Sinh thái: sống chủ yếu ở rừng nguyên sinh, mật độ thấp ở rừng thứ sinh, có thể xâm nhập khu dân cư ngoại ô nơi có nhiều trái cây chín. Kiếm ăn về đêm. Thích ăn các loại quả như hồng xiêm, xoài, chôm chôm, cùng động vật nhỏ như chim, chuột, rắn… Đặc biệt rất ưa thích nhựa của hoa cọ.

Sinh sản quanh năm. Đẻ mỗi lứa 2- con. Con non có khả năng sinh trưởng rất nhanh.

Đây là loài cầy gắn liền với sản phẩm thương hiệu cà phê chồn. Cầy vòi hương trèo lên những cây cà phê và chọn ăn những trái đỏ nhất, chín nhất. Người ta cho rằng khi những trái cà phê này ở trong dạ dày của cầy vòi hương dưới tác dụng của enzym chúng sẽ biến đổi và có hương vị đậm đà hơn. Những hạt cà phê này sẽ trở nên cứng và giòn hơn, đồng thời lượng protein cũng giảm đi, làm giảm độ đắng của hạt cà phê. Sau quá trình làm sạch và xử lý, khi sử dụng loại hạt cà phê này có mùi đặc trưng và vị rất lạ so với các loại cà phê thông thường, tạo cho loại cà phê này trở thành một thứ đặc sản và có giá bán rất đắt.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IIB; CITES 2019 Phụ lục III; IUCN 2015 hạng LC, số lượng đang giảm.

cầy vòi mốc – masked palm civet (Paguma larvata)

Thuộc Họ Cầy (Viverridae).

Thân dài 51–76 cm, đuôi dài 51–63 cm, cân nặng 3,6–6 kg. Đặc điểm phân biệt: bộ lông không có đốm và mặt cầy “mặt nạ” gồm một vệt trắng chạy dài từ đầu xuống mũi, mắt và má có khoảng trắng nhưng có vòng đen khoanh hai mắt. Vì thế tên tiếng Anh dùng “masked” (có nghĩa là mặt nạ) để đặt tên loại cầy này. Lông trên thân màu nâu cam ngả sang màu xám. Bốn chân lông màu sẫm, gần như đen.

_cay voi moc

Sinh thái: săn mồi đơn độc vào ban đêm trên cây. Ăn tạp gồm côn trùng, chim chóc và động vật nhỏ có xương sống, nhưng chuộng nhất là trái cây. Khi bị náo động cầy vòi mốc xịt chất xạ từ hai tuyến gần hậu môn để phòng thân. Cầy cái sinh nở hai kỳ mỗi năm. Cầy con trưởng thành trong khoảng 3 tháng.

Vì thịt loài cầy này được nhiều người dùng làm thức ăn nên nhiều nhà virus-học nghi ngờ rằng virus bệnh SARS (severe acute respiratory syndrome) đã xâm nhập cơ thể con người qua ngả này. Các nhà khoa học tìm thấy virus bệnh SARS trong người mắc bệnh SARS cũng chính là virus SARS trong loài cầy này. Người phục vụ trong nhà hàng dọn món thịt cầy và thực khách ngồi cách lồng nhốt cầy 5 m bị nhiễm SARS trong khi virus này cũng hiện diện trong lồng. Vì thế người ta cho rằng virus bệnh SARS đã lan truyền từ cầy sang người.

cheo lưng bạc – silver-backed chevrotain (Tragulus versicolor)

Còn được gọi là cheo Việt Nam – Vietnam mouse-deer hay silver-backed mouse deer, loài cheo lưng bạc được mô tả lần đầu tiên cho khoa học năm 1910 dựa trên 4 mẫu chết thu ở Nha Trang. Năm 1990, một mẫu chết thu được ở Gia Lai. Các nhà khoa học chưa từng có cơ hội khảo sát mẫu sông. Địa lý phân bố của loài này vẫn chưa thể xác định.

Cho đến năm 2004, cheo lưng bạc thường được xem là một phân loài của cheo Napu (Tragulus napu), dù nó giống loài cheo kanchil (Tragulus kanchil) hơn tuy có kích thước nhỏ hơn. Thông tin mới nhất của loài cheo hiếm này vẫn còn nhiều câu hỏi chưa được trả lời nên một dạo có người cho là chúng đã tuyệt chủng. Nhưng có lẽ vì sự hiểu biết về loài cheo này quá hạn chế nên các nhà sinh vật học vẫn chưa định rõ cách nhận dạng chúng để phân biệt với các loài cheo khác. Hơn nữa khoa học vẫn chưa hiểu rõ môi trường sinh sống của chúng được nên phạm vi phân bố vẫn còn phần giả định.

Đến năm 2004, sau một cuộc rà soát về phân loại học, cheo lưng bạc được công nhận là một loài riêng rẽ.

Trong giai đoạn 2017-2018, một nhóm khoa học gia đặt bẫy ảnh và nhận được hình ảnh của cheo lưng bạc trong một khu rừng ở Nha Trang lần đầu tiên sau 30 năm vắng bóng (Nguyen et al., 2019).

Cheo lưng bạc là loài thú móng guốc nhỏ nhất thế giới: thân dài 48 cm, đuôi dài 5 cm, trọng lượng 1,7 kg. Đặc điểm phân biệt với các loài cheo khác là sự tương phản trên bộ lông: đầu, hai bên cổ và hai vai màu cam-nâu trong khi lông thân sau màu xám với chóp lông ánh bạc. Họng và bụng màu trắng. Vùng lông bụng trắng và vùng lông sườn màu nâu tách biệt rõ ràng.

Toàn thân phủ lông màu nâu đỏ, bộ lông bóng mượt, vùng ngực và dưới bụng có 3 vệt lông trắng song song với thân, lông cheo mịn, ngắn và bóng mượt. Con đực và con cái đều không có sừng. Một số con trưởng thành có răng nanh chìa ra bên mép, con đực có răng nanh dài hơn con cái.

_cheo lung bac

Sinh thái: bẫy ảnh cho thấy cheo lưng bạc hoạt động vào ban ngày, đơn lẻ hay có đôi. Khu vực cho mẫu vật năm 1990 là rừng bán thường xanh ở độ cao thấp. Bẫy ảnh năm 2019 được đặt trong rừng khô ở độ cao thấp, gần bờ biển.

Giá trị: loài hiếm, lại quý do là đặc hữu của Việt Nam.

Phân hạng bảo vệ: CITES không phân hạng; IUCN 2014 hạng LC.

Xem thêm: Leahy (2019).

cheo Nam Dương, cheo Java – lesser mouse-deer (Tragulus javanicus)

Thuộc Họ Cheo (Tragulidae).

Thân dài 45 cm, đuôi dài 5 cm,1–2 kg. Bộ lông có màu nâu ửng đỏ còn dưới bụng màu trắng. Đốm trắng nhạt hoặc vết thẳng đứng cũng xuất hiện trên cổ con vật.Đầu hình tam giác, lưng vòm cung, cơ thể tròn, một phần tư cơ thể phía sau nhô cao. Bốn chân mỏng, ngắn, khoảng bằng đường kính cây bút chì. Mặc dù cheo Nam Dương không có gạc hay sừng như loài hươu thực sự, nhưng cheo cheo đực có răng nanh trên kéo dài giống ngà voi, nhô ra hướng xuống từ hàm trên dọc theo hai bên miệng. Con đực sử dụng “ngà” để bảo vệ bản thân và bạn tình chống lại đối thủ. Con cái không cặp răng, và hơi nhỏ hơn con đực. Cheo Java có thể phân biệt lẫn nhau do thiếu răng cửa trên.

_cheo Nam Duong

Sinh thái: sống ở bìa rừng rậm nhiệt đới có cây rậm rạp dọc theo sông suối ở độ cao thấp. Trong ngày, có thể lang thang tại khu vực rậm rạp, thông qua đó con vật đàog đường hầm xuyên qua thảm thực vật dày dẫn đến nơi nghỉ ngơi và khu vực kiếm ăn. Khá tĩnh lặng; tiếng ồn duy nhất mà chúng phát ra là tiếng thét chói tai khi sợ hãi. Thích hoạt động trong ánh sáng lờ mờ lúc bình minh và hoàng hôn. Vào đêm tối, di chuyển đến khu vực cao hơn và khô hơn.

Chủ yếu ăn lá, cây bụi, cành non, chồi, nấm, trái cây rụng.ăn cỏ, thêm côn trùng. Cheo cheo Java là động vật nhai lại nguyên thủy nhất, do đó chúng cung cấp liên kết sống giữa loài không nhai lại và loài nhai lại.

Sinh sản bất cứ lúc nào trong năm. Thai kỳ 4,5 tháng, Mỗi lứa đẻ 1 con giống như con trưởng thành nhưng con non đực chưa có ngà. Con non hoàn toàn cai sữa sau 12 tuần. Tuổi thọ trong tình trạng nuôi nhốt đến 14 năm.

Trở nên hiếm ở Việt Nam do bị săn bắt quá mức bởi vì thịt cheo khá ngon (phổ biến ở các nhà hàng thịt rừng), trong khi trên thế giới chưa đến mức nguy cấp. Khi bị con người săn đuổi vào ban đêm, con vật thường cứng đơ cơ thể lúc bị đèn pha chiếu sáng khiến chúng dễ bị bắn giết.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IIB; CITES không phân hạng; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng VU; IUCN hạng LC.

chó rừng – jackal (Canis aureus)

Còn được gọi là chó rừng lông vàng – common jackal, Eurasian golden jackal, golden jackal, thuộc Họ Chó (Canidae). Chó rừng có quan hệ gần gũi với chó sói, chó sói đồng cỏ Bắc Mỹ và chó nhà.

Chó nhà được một số học giả liệt kê như là Canis familiaris, còn những người khác (bao gồm cả Viện Smithsonian và Hiệp hội các nhà Nghiên cứu Thú Hoa Kỳ) lại coi nó là phân loài của sói xám (Canis lupus familiaris).

Ngoài hình thái tương đối ít thay đổi, đặc điểm đặc trưng của chó là sự linh hoạt, được thể hiện thường xuyên trong cách tổ chức xã hội thường là phức tạp. Nền tảng của các xã hội này là xu hướng phổ biến tiến tới một vợ một chồng. Khi lợi ích của việc sống với các cá thể khác lớn hơn các thiệt hại có thể xảy ra (như tăng cạnh tranh về thức ăn và tìm đôi hoặc dễ bị nhiễm vật ký sinh), chúng có thể hình thành các đàn lớn hơn có nhân tố là các đôi sinh sản. Điều này dẫn đến tập tính cộng tác trong đi săn và chăm sóc con non, kèm theo các hệ thống địa vị theo thứ bậc có ảnh hưởng lớn, giao tiếp xã hội phức tạp thông qua vẻ mặt, ngôn ngữ cơ thể, âm thanh và mùi, việc tách đàn chậm lại của các con non, và việc ngừng sinh sản của các con trưởng thành cùng đàn.

Có bốn loài thuộc nhóm chó hoang dã ở Việt Nam: cáo lửa – red fox (Vulpes vulpes), chó rừng – jackal (Canis aureus), lửng chó – raccoon dog (Nyctereutes procyonoides), và sói đỏ – dhole (Cuon alpinus). Ngoại trừ sói đỏ, ba loài kia có phân bộ rộng trên toàn cầu nên không được xem là nguy cấp.

Chó rừng có kích thước trung bình: thân dài 60-75 cm, đuôi dài 20-25 cm, nặng  5-8kg. Nền lông màu hung vàng có mút lông đen hoặc hung đen tạo thành màu hung nâu xám. Vùng vai có nhiều sợi lông đen. Khoảng một phần ba đuôi ngoài xám đen.

_cho rung

Sinh thái: sống ở các khu rừng ven nương rẫy, có thể gần các trang trại hay khu dân cư trong rừng. Sống đơn hay sống đôi, kiếm ăn đêm. Khác với sói lửa, Chó rừng khá bạo dạn, có thể vào tận lán người ở trong rừng trong khi họ ngủ để kiếm ăn. Mặt khác, chúng khôn ngoan, nhanh nhẹn nên con người khó thấy và tiếp cận chúng. Thức ăn là thú nhỏ, chim, bò sát, ếch nhái. Ở Thái Lan, chó rừng thường đi theo hổ để ăn các mẩu thịt hổ để lại.

Tình trạng: chỉ tìm thấy loài này ở Đắc Lắc. Các nghiên cứu bằng bẫy ảnh hoặc quan sát trong rừng ở Việt Nam rất ít khi chụp được hoặc bắt gặp chó rừng.

Giá trị: loài hiếm từ trước đền nay, có giá trị khoa học và nguồn gien.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IIB; CITES Phụ lục III; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng VU; IUCN 2018 hạng LC, số lượng đang tăng.

Câu chuyện của cô Maria Jose Brinton

Vào đầu những năm 1990s, cô Maria Jose Brinton từ Scotland đến Việt Nam để nghiên cứu về tập tính sinh học của loài chó rừng Canis aureus nhằm hoàn tất đề tài tiến sĩ chuyên ngành động vật học. Đây là công việc khó khăn vất vả và đòi hỏi nhiều công sức, lòng kiên trì, dũng cảm, nhất là đối với một cô gái người nước ngoài. Nhưng với tố chất của nhà nghiên cứu chuyên nghiệp, Maria hoàn tất đề tài của trong ba năm.

Đến Việt Nam, Maria chọn Khu BTTN Chư Yang Sin thuộc tỉnh Đắk Lắk – nơi giới động vật học Việt Nam từng ghi nhận vùng phân bố của loài chó sói.

Maria cùng các đồng nghiệp ở Việt Nam trải qua nhiều ngày, tháng “phục kích” trong rừng, đặt thức ăn làm bẫy và cả bẫy ảnh, nhưng không bao giờ họ có cơ hội tiếp cận gần loài chó sói để chụp hình và ngắm nhìn việc săn mồi của loài động vật quý hiếm này trong hoang dã. Cuộc hành trình tìm kiếm loài chó rừng chỉ là những dấu chân, một vài tấm hình mờ nhạt và những đoạn phim đứt quãng về sự hiện diện của chúng. Tuy nhiên qua đo, đếm dấu chân và lượng thức ăn đặt bẫy mà lũ sói tiêu thụ, Maria và đồng nghiệp Việt Nam cũng có một số kết quả khả quan về sinh thái của chó rừng.

Sau ba năm, khoảng thời gian nghiên cứu dài, cô gái Scotland bị mắc bệnh sốt rét. Đây là hậu quả của nhiều đêm trong rừng săn tìm dấu vết, theo dõi tập tính của loài chó rừng.

Vài ngày trước khi về nước, một buổi sáng Maria dậy sớm đi chợ phiên của xã (ở đây một tuần chợ mới họp một lần) để mua đồ lưu niệm làm quà cho người thân. Vừa bước vào khu chợ, cô không thể tin vào mắt mình khi thấy một người đàn ông đang gánh hai con chó rừng đã chết ra chợ bán. Lặng nhìn, Maria không thốt nên lời vì đây là lần đầu tiên sau ba năm tìm kiếm Maria mới có cơ hội được mắt nhìn, tay chạm vào con vật.

Sau khi chụp vài bức ảnh, Maria nhờ các đồng nghiệp Việt Nam tìm hiểu nguyên nhân bắt, bẫy được loài chó sói rừng này. Người mang chó sói ra chợ bán cho biết anh bắt được khi chúng đã giết đàn lợn gần chục con của gia đình.

Ra đến sân bay, Maria không quên nhắc các đồng nghiệp làm cách nào đó để người dân không ra tay tàn sát các loài động vật hoang dã, không chỉ với loài chó rừng.

Câu chuyện về Maria và loài chó rừng là một phần tất yếu của cuộc sống đấu tranh sinh tồn giữa các loài động vật hoang dã với cuộc sống của con người sống gần các khu rừng.

Sau đó, nhóm nghiên cứu Việt Nam trong một lần khảo sát chụp được hình về loài chó rừng, gửi cho Maria như một lời tri ân với người phụ nữ Scotland nặng tình với động vật hoang dã, đồng thời cũng để minh chứng cho sự tồn tại của loài thú quý hiếm này ở Việt Nam. (Phùng Mỹ Trung, 2014)

chồn bay, cầy bay – flying lemur (Galeopterus variegatus)

Ghi chú:  Sách Đỏ Việt Nam 2007 ghi chồn dơi (Cynocephalus variegatus) và Nghị định 03/VBHN-BTNMT ghi chồn bay hay cầy bay (Galeopterus variegatus) – đều là cùng một loài.

Thuộc Họ Cầy bay (Cynocephalidae). Tên khoa học cũ: Galeopithecus variegatus, Galeopterus peninsulea.

Tuy mang tên “bay” nhưng con vật không bay đúng nghĩa, mà chỉ lướt trong không trung từng khoảng cách.

Thân thể có những sắc thái độc đáo sau:

1/ Màng da phủ lông mao nối từ cổ với chi trước, chi sau tới hết các ngón chân và bao phủ tới đầu mút đuôi, giúp con vật lướt xa đến 60 m giữa hai thân cây. Khi bám vào cành cây, con cái buông thõng thân, gấp màng vào tạo thành một cái bọc để giữ con non bên trong.

2/ Chân có màng da nối các ngón chân tới tận gốc vuốt chân giúp con vật lượn trong không trung, và móng vuốt nhọn giúp bám vào thân cây. Bàn chân có hình chén tạo thành lực hút âm giúp con vật bám vào cành cây khi buông thõng thân.

3/ Mắt được cấu tạo để nhìn rõ ban đêm và nhìn xa – giúp con vật lướt trong không trung vào ban đêm.

4/ Răng nhỏ, xếp khít vào nhau như răng lược giúp con vật ăn rêu bám trên câu và cũng loại côn trùng ký sinh trên bộ lông.

5/ Bộ xương không nhẹ như ở loài dơi, nhưng nhẹ hơn so với loài sóc, giúp con vật lướt trong không trung.

Thân dài 34-42 cm; trọng lượng 1-1,75 kg. Đầu rộng, tai ngắn tròn hoặc tù. Mắt to, màu nâu đỏ hay nâu lục nhạt. Lông trên lưng và mặt mang da màu xám tro pha ô-liu với nhiều đốm màu trắng nhạt. Lông bụng và mặt dưới màng da hung đỏ hoặc nhạt hơn, không có đốm. Con cái có màu xám, con đực màu sáng hơn chuyển dần sang màu nâu, thậm chí hơi đỏ. Chiều dài chi trước và chi sau gần bằng nhau, có 5 ngón. Đuôi dài chỉ bằng khoảng 1/3 dài thân.

_chon bay

Tình trạng: phân bố ở Lai Châu, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên – Huế, Kontum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đồng Nai, Bình Phước, Tây Ninh. Ít nhất 50% quần thể suy giảm trong 10 năm gần đây do chặt phá rừng làm mất nơi cư trú của chúng.

Sinh thái: sống đơn lẻ trong các khu rừng nguyên sinh hay thứ sinh có nhiều cây gỗ to trên núi cao và vùng đất thấp. Chồn dơi hoàn toàn sống trên cây. Chúng bò  trên cây giỏi nhưng chậm, có thể bay liện từ cây này sang cây khác với khoảng cách khá xa. Hoạt động vào ban đêm. Thức ăn là quả cây rừng, trứng chim và chim non. Chồn dơi được nuôi nhốt bằng các loại quả mềm và rau xanh như: chuối, đu đủ, cam, soài, rau diếp… Làm tổ trong bọng cây to cao 20-50 m. Mang thai khoảng 8 tuần. Đẻ mỗi lứa 1 con. Con sơ sinh yếu được nuôi trong túi do màng da ở phần đuôi tạo thành. Túi da mềm và ấm, con non sống trong túi đến khi tự lập. Con non chưa cai sữa, mẹ đã chửa lứa tiếp theo

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IIB; CITES không phân hạng; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng VU; IUCN 2008 hạng LC.

cu li lớn – Bengal slow loris (Nycticebus bengalensis)

Còn được gọi là cu li chậm Bengal, cù lần hay khỉ gió, thuộc Họ Cu li (Lorisidae) trong bộ Linh trưởng, gồm 11 loài. Các tên khoa học đồng nghĩa: Loris coucang, Nycticebus javanicus, Nycticebus cinereus.

Các loài trong Họ Culi này di chuyển bằng cả 4 chân và không biết nhảy như các loài linh trưởng khác. Chúng di chuyển rất chậm và nhẹ nhàng để tránh các loài thú dữ và tiếp cận con mồi một cách nhẹ nhàng, kín đáo. Culi có đuôi rất ngắn, tai nhỏ và thân dài, chân trước dài bằng chân sau. Mắt cá và cổ chân có thể cử động linh hoạt, ngón cái nằm ở vị trí đối diện hơn với các ngón tay còn lại so với các loài linh trưởng khác. Với đặc điểm này, cu li có khả năng cầm nắm khá chắc chắn. Các mạch đặc biệt lưu giữ máu ở tay và chân giúp cho cu li có khả năng co cơ và cầm nắm chặt vào các cành cây hàng giờ mà không bị mỏi.

Tại Việt Nam, cu li hay bị săn bắt để làm thuốc.

Cu li lớn là loài lớn nhất của chi Nycticebus: thân dài 26–30 cm, đuôi dài 2-4 cm, nặng 1-2 kg. Đặc điểm phân biệt: sọc nâu từ đỉnh đầu đến giữa lưng; xung quanh hai mắt có vòng lông màu nâu đỏ hoặc nâu nhạt. Mắt trố to. Đầu tròn. Từ trên đỉnh đầu có hai sọc nhỏ màu nâu nhạt chạy xuống dưới mắt. Tai nhỏ và gần như bị lông rậm che khuất; từ hai gốc tai có vệt lông màu nâu nhạt chạy lên đỉnh đầu và liên kết với nhau. Dải lông màu nâu sẫm chạy dọc từ trên đỉnh đầu theo sống lưng xuống phía dưới. Lông dày, xốp, mịn màng, có màu vàng đỏ, hoặc vàng nhạt hoặc xám. Ngực thường có màu xám tro. Bụng màu hơi vàng nhạt. Hông và chân sau có màu đỏ hoe. Ngón tay trỏ nhỏ, ngón chân thứ hai có vuốt, các ngón khác có ống. Răng hàm thứ nhất lớn hơn răng hàm thứ hai. Đuôi chỉ là một mẩu cụt.

_cu li lon

Sinh thái: sống trên cây ở rừng tre nứa, rừng nguyên sinh, cây bụi, rừng thứ sinh, đặc biệt núi cao tới 1300 m. Hoạt động về đêm; ban ngày ngủ trên cây cuộn tròn, mặt cúi vào trong lòng. Chúng thường làm ổ trong các hốc cây. Thức ăn chủ yếu là quả cây 50%, các loài động vật: 30%, đặc biệt là côn trùng.

Con đực và con cái trưởng thành sau 21 tháng. Thời gian mang thai 191 ngày. Khoảng cách giữa các lần sinh 12-18 tháng. Cuộc sống kéo dài khoảng 20 năm. Sống đơn độc hoặc thành nhóm 3-4 cá thể. Khu vực sống

Tình trạng: trước 1975 còn gặp phổ biến ở Yên Bái, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Hòa Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên–Huế, Gia Lai, Kontum. Từ 1975 tình trạng thay đổi rõ rệt:số lượng quần thể giảm mạnh. Nguyên nhân biến đổi là do: Nơi cư trú bị xâm hại, rừng bị chặt phá, diện tích rừng thiên nhiên bị thu hẹp và đây là đối tượng săn bắt để nuôi làm cảnh, buôn bán và xuất khẩu. Các phương thuốc cổ truyền Châu Á sử dụng loài này làm thuốc, vì thế chúng đã bị săn bắt ráo riết cho mục đích thương mại.

Đây là loài thú quý và cổ trong bộ linh trưởng, có vị trí đặc biệt trong nghiên cứu tiến hóa và thích nghi với đời sống trên cây. Mặt khác dễ nuôi, rất hấp dẫn trong các vườn thú nên có thể nuôi nhân giống để xuất khẩu.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục II; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng VU; IUCN 2015 hạng EN.

cu li nhỏ – pygmy slow loris (Nycticebus pygmaeus)

Còn được gọi là cù lần hay cu li lùn. Thuộc Họ Cu li (Lorisidae).

Thân dài 19-23cm, đuôi dài 1-2 cm, trọng lượng 250-650 g. Đặc điểm phân biệt: Bộ lông mùa hè không có sọc đen trên lưng, mùa đông có sọc đen rõ trên lưng; mắt có vành nâu tối. Bộ lông mềm mại, màu nâu nhạt hoặc nâu-đỏ xen kẽ ít lông trắng bạc. Dọc sống mũi có vết trắng. Dọc sống lưng có vết hoe đỏ thẫm. Bụng trắng vàng ánh bạc.

_cu li nho

Sinh thái: sống ở rừng lá rộng khô cận nhiệt đới và nhiệt đới, nguyên sinh hoặc thứ sinh; rừng tre nứa, đồi cây bụi. Sống đơn độc, lặng lẽ, hoặc thành nhóm 3-4 con, di chuyển nhẹ nhàng chậm chạp chuyền từ cành này sang cành khác, khi bị đe dọa thì treo ngược trên cành cây, hoàn toàn không cử động trong thời gian dài. Ban ngày cuộn tròn mình lại ngủ trong lùm cây, kiếm ăn về đêm. Thường dùng hai chân để treo thân người chúc xuống, để hai tay tự do mà cầm nắm thức ăn. Thức ăn của chúng là các loài côn trùng, bọ cánh cứng, quả cây, lá nõn cây, trứng chim và chim non trong tổ…

Cơ quan sinh sản phát triển đầy đủ nhất khi con cái đủ 16 tháng, con đực 18 tháng. Thời gian mang thai kéo dài từ 184-200 ngày. Đẻ 1-2 con. Lúc còn nhỏ, con non bám vào bụng mẹ. Sau 6 tháng, chúng cai sữa.

Cu li có nọc độc, được kích hoạt bằng cách kết hợp mồ hôi từ cánh tay với nước bọt, gây nguy hiểm cho con người và có thể dẫn đến tử vong nếu không kịp thời cứu chữa. Nọc độc của cu li, ngoài tác dụng bảo vệ chúng khỏi ký sinh trùng, còn dùng để phòng vệ chống lại kẻ thù. Phần độc này nằm ở phần trong của cánh tay trước và được tiết ra cùng mồ hôi. Khi cu li liếm phải chất độc sẽ theo tuyến nước bọt, nên nếu không may bị loài này cắn, con mồi cảm thấy đau đớn toàn thân. Khi đi kiếm ăn, con mẹ liếm lông con non để thoa chất độc nhằm bảo vệ con non. Là sinh vật bị cấm nuôi nhốt, nhưng nhiều người vẫn bất chấp nuôi con vật này làm cảnh. Để tránh bị độc, họ tàn nhẫn bẻ hết những chiếc răng sắc nhọn của chúng để không bị cắn và truyền nọc độc. Hành động đó sẽ khiến cu li bị chảy máu và nhiễm trùng, dẫn đến chết.

Tình trạng: phân bố ở Khu BTTN Tà Cú, Bình Thuận; VQG Kon Ka Kinh, Gia Lai.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục II; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng VU; IUCN 2015 hạng EN.

dơi ngựa lớn – large flying-fox (Pteropus vampyrus)

Còn được gọi là dơi quạ lớn, thuộc Họ Dơi quạ (Pteropodidae). Họ này gồm những loài dơi lớn nhất thế giới, với cá thể của một số loài nặng tới 1,45 kg và có sải cánh dài tới 1,7 m. Nhưng gần một phần ba các loài nặng dưới 50 g. Chúng có thể được phân biệt với những loài dơi khác nhờ khuôn mặt giống chó, móng có hai vuốt và màng dù đuôi giảm. Chỉ các thành viên của chi, Notopteris, là có đuôi.

Một phần tư các loài được đánh giá là bị đe dọa, chủ yếu là do môi trường sống bị hủy hoại và việc săn bắt quá mức. Dơi ngựa là một nguồn thức ăn phổ biến ở một số khu vực, dẫn đến sự suy giảm về số lượng cá thể, và thậm chí cả tuyệt chủng. Chúng cũng được quan tâm đến bởi những người có liên quan đến sức khỏe cộng đồng, do chúng là ổ chứa tự nhiên của một số loài virus có thể ảnh hưởng đến con người.

Dơi ngựa lớn là một trong những loài dơi có cơ thể lớn nhất trong số các loài dơi của thế giới: thân dài 27-34 cm, sải cánh dài 130-154 cm, trọng lượng 0,6-1,0 kg. Đặc điểm phân biệt với dơi ngựa nhỏ: lông ở phần lưng hung đen, phần giữa màng gian đùi lõm sâu. Bộ lông nói chung màu nâu-xám. Tai dài và nhọn, lông vùng cổ và vai thường có màu vàng-nâu, nâu sẫm hay đen. Con đực thường có các chùm lông cổ gồm các sợi lông cứng, gốc lông thẫm mầu hơn ngọn. Con non: lông vùng cổ và vai màu nâu thẫm.

_doi ngua lon

Sinh thái: sống trong rừng nguyên sinh, rừng ngập mặn, rừng có nhiều cây Họ Dầu, lùm bụi, thậm chí vườn cây ăn quả tới độ cao 500 m, . Trú ngụ cùng đàn một vài cá thể hoặc đàn lớn hàng nghìn con. Thức ăn là hoa, mật hoa, nhiều loại quả. Mỗi con dơi thường đến lấy mật hoa hay phấn hoa của một cây nào đó ít nhất 2 lần mỗi đêm, và chúng bảo vệ các cây đó trước các loài dơi khác. Lúc mặt trời lặn, từng cá thể bay đi kiếm ăn – không bao giờ bay kiếm ăn theo đàn. Ban ngày đậu ngủ, dùng cánh để bao bọc thân. Mỗi năm đẻ 1 lứa, mỗi lứa 1 con, rất hiếm sinh đôi.

Tình trạng: từng hiện diện ở VQG U Minh Thượng, VQG Phú Quốc, Sóc Trăng (đặc biệt là có thời với số lượng lớn ở Chùa Dơi). Luôn bị săn bắt cật lực để bán cho nhà hàng đặc sản. Người dân vẫn cho rằng thịt dơi rất bổ dưỡng, lại viện lý do khác là dơi phá hoại vườn cây ăn quả, nên không tuân thủ lệnh cấm bắt dơi.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục II; IUCN 2008 hạng NT.

dơi ngựa nhỏ – Lyle’s flying fox (Pteropus lylei)

Còn được gọi là dơi ngựa Thái Lan, thuộc Họ Dơi quạ (Pteropodidae).

Loài dơi có kích thước lớn thứ hai ở Việt Nam, chỉ sau dơi ngựa nhỏ: thân dài 19-25 cm; trọng lượng 390-480 g. Đầu từ nâu sẫm tới nâu nhạt, gáy màu đen hung, lưng đen sẫm (một số cá thể có lông màu xám lác đác). Bụng, cổ và vai từ vàng đến nâu-vàng sẫm. Màng cánh thường có màu đen.

_doi ngua nho

Sinh thái: thường trú ngụ trên cây tới hàng nghìn con. Thức ăn là các loại quả như chuối, xoài. Thường kiếm ăn thâu đêm. Mỗi năm đẻ 1 lứa, mỗi lứa 1 con, rất hiếm sinh đôi.

Tình trạng: sống ở Phú Quốc, Sóc Trăng (đặc biệt là có thời với số lượng lớn ở Chùa Dơi). Luôn bị săn bắt cật lực để bán cho nhà hàng đặc sản. Người dân vẫn cho rằng thịt dơi rất bổ dưỡng, lại viện lý do khác là dơi phá hoại vườn cây ăn quả, nên không tuân thủ lệnh cấm bắt dơi.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục II; IUCN 2008 hạng VU.

gấu chó – sun bear (Ursus malayanus)

Thuộc Họ Gấu (Ursidae), chỉ có 8 loài còn sinh tồn. chúng phổ biến rất rộng rãi, xuất hiện ở nhiều môi trường sống khác nhau trên Bắc Bán cầu, Nam Bán cầu, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Châu Âu và Châu Á. Trong 8 loài, Gấu Bắc cực là loài lớn nhất (cũng là loài thuộc Bộ Ăn thịt lớn nhất trên cạn), còn gấu chó là loài nhỏ nhất.

Đặc điểm chung của những loài gấu ngày nay bao gồm cơ thể to lớn với đôi chân thon dài, mõm dài, tai tròn nhỏ, lông xù, móng chân có năm móng vuốt không rút lại được, và đuôi ngắn. Gấu có thể đánh hơi như loài chó nhưng mũi của chúng thính hơn gấp 6 lần. Các loài gấu đang đứng trên bờ vực tuyệt chủng do nạn đói, nạn mất môi trường sống và nạn săn bắt trộm. Người ta thường săn bắt gấu để lấy lông, mật, móng vuốt và nhiều bộ phận cơ thể khác. Loài gấu bơi và trèo cây rất giỏi. Hơn thế nữa, loài gấu nâu là những tay bắt cá cừ khôi.

Nhu cầu sử dụng mật gấu và các sản phẩm từ gấu là mối đe dọa lớn nhất đẩy các loài gấu tới bờ vực tuyệt chủng. Gấu bị bắt từ hoang dã khi còn nhỏ để đưa vào nuôi nhốt tại các trang trại, phục vụ mục đích hút mật định kỳ. Tình trạng nuôi nhốt gấu lấy mật diễn ra rất phổ biến tại Việt Nam từ những năm 1990.

Có hàng nghìn gấu chó và gấu ngựa đang được nuôi nhốt phục vụ mục đích lấy mật tại các trang trại khắp Việt Nam. Việt Nam dường như vẫn chưa kiểm soát được tình trạng gấu bị lấy mật, bị bỏ đói khát hoặc bị giết dần mòn trong các trại nuôi, bởi nuôi chúng rất tốn kém mà thị trường mật gấu đã qua thời hoàng kim. Việt Nam cấm khai thác mật gấu từ năm 2005, nhưng chính phủ vẫn cho các chủ trang trại giữ gấu. Lý do là các trung tâm cứu hộ thời điểm bấy giờ đều đã quá tải. Tuy nhiên, đây được cho là lỗ hổng pháp lý khi gấu vẫn tiếp tục bị lấy mật còn chính quyền dường như không kiểm soát được việc này. (Mỹ Hằng, 2018).

Trái ngược với lập luận của người nuôi gấu lấy mật, không có bằng chứng nào cho thấy nuôi gấu có tác động tích cực đến quần thể gấu hoang dã ở Việt Nam. Hiện nay hiệu quả chi phí từ nuôi gấu không thể cạnh tranh với giá cả của chợ đen. Trong khi đó, các phương pháp săn bắn bừa bãi như đặt bẫy không yêu cầu nhiều kỹ năng của người thợ săn và không mấy tốn kém chi phí. Điều này khiến việc săn bắt có “hiệu quả chi phí” hơn so với nuôi gấu lấy mật trong điều kiện thực thi luật kém và nhu cầu tiêu dùng cao đối với các sản phẩm có nguồn gốc từ hoang dã. (PanNature, 2018).

Có một số cơ sở cứu hộ gấu:

  • Trung tâm Cứu hộ Gấu Việt Nam thuộc Tổ chức Động vật Châu Á (Animals Asia Foundation – AAF) ở Vườn Quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc.
  • Cơ sở Bảo tồn gấu ở Xã Kỳ Phú, Huyện Nho Quan, Ninh Bình do tổ chức quốc tế Four Paws đầu tư xây dựng.
  • Trạm Cứu hộ Gấu ở Vườn Quốc gia Cát Tiên, Đồng Nai.

Theo AAF, hầu hết số gấu được cứu hộ đều bị mất chân do chúng bị đánh bẫy, và túi mật trong cơ thể chúng đều bị hủy hoại nặng nề do nhiều năm bị hành hạ ở các trang trại gấu tồi tàn.

Gấu chó dài 1,2 m, trung bình nặng không quá 65 kg – con đực nặng hơn một chút so với con cái.

_gau cho

Không giống như các loài gấu khác, lông của chúng ngắn và mượt. Điều này có lẽ là do môi trường sống của chúng là những vùng đất thấp nóng ẩm. Màu lông của chúng là đen sẫm hay nâu đen, ngoại trừ phần ngực có màu vàng-da cam nhạt có hình dạng giống như móng ngựa hoặc hình chữ U. Màu lông tương tự có thể tìm thấy xung quanh mõm và mắt. Chúng có tai ngắn và tròn, mõm ngắn.

Gấu chó có vuốt dạng lưỡi liềm, tương đối nhẹ về khối lượng. Chúng có bàn chân to với gan bàn chân trần, có lẽ là để hỗ trợ việc leo trèo. Chân chúng hướng vào trong nên bước đi của chúng giống như đi vòng kiềng, nhưng chúng là những con vật leo trèo giỏi.

Là một con vật ăn đêm là chủ yếu, gấu chó thích tắm nắng hay nghỉ ngơi về ban ngày trên các cành cây to cách mặt đất khoảng 2-7 mét. Vì chúng tiêu hao nhiều thời gian ở trên cây, gấu chó đôi khi làm tổn thất nặng nề cho các loại cây trồng. Chúng được coi là những kẻ phá hoại dừa và ca cao trong các đồn điền. Tập tính này là nguyên nhân làm giảm số lượng của quần thể gấu chó cũng giống như việc săn bắn để lấy lông và mật dùng trong y học Trung Hoa.

Thức ăn bao gồm các động vật có xương sống nhỏ như thằn lằn, chim, hay các loài động vật có vú khác, cũng như hoa quả, trứng, mối, ngọn non cây dừa, mật ong, quả mọng, chồi cây, côn trùng, rễ cây, quả của ca cao hay dừa. Hàm răng đầy sức mạnh của chúng có thể phá vỡ những quả dừa. Phần lớn thức ăn của gấu chó kiếm được là nhờ vào khứu giác của chúng, vì mắt của chúng rất kém.

Vì gấu chó không ngủ đông, nên chúng có thể sinh đẻ quanh năm. Chúng thường đẻ hai con với trọng lượng khi sinh khoảng 280-340 g mỗi con. Chu kỳ mang thai khoảng 96 ngày, nhưng chúng cho con bú khoảng 18 tháng. Gấu đạt đến độ tuổi trưởng thành sau khoảng 3-4 năm, và chúng sống đến 28 năm trong điều kiện nuôi nhốt.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục II; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN; IUCN 2016 hạng VU.

gấu ngựa – Asiatic black bear, moon bear (Ursus thibetanus)

Thuộc Họ Gấu (Ursidae)

Gấu ngựa cũng là nạn nhân của việc nuôi nhốt lấy mật như gấu chó (xem ở trên).

Gấu ngựa có kích thước trung bình so với các loài gấu khác: dài 1,30–1,90 m; đực nặng 110-150 kg; cái nặng 65-90 kg. Bộ lông dầy, thường đen nhưng đôi khi nâu, với đặc trưng vạch màu kem hoặc trắng chạy vòng xuống trên ngực theo hình mẫu tự V hoặc hình trăng lưỡi liềm do đó có tên “moon bear”.

_gau ngua

Gấu ngựa ngủ đông ở vùng ôn đới, nhưng hoạt động quanh năm vào ban đêm ở vùng nhiệt đới, ở đó chúng ngủ ban ngày trên một sàn làm bằng cỏ và cành cây trên cây. Sống đơn độc ngoại trừ thời kỳ động dục và con cái nuôi con trong 12-18 tháng. Đẻ mỗi lứa 1-4 con. Tuổi thọ khoảng 25 năm.

Ăn tạp, chủ yếu các loại thực vật như hoa quả, quả mọng, cỏ, hạt, quả hạch; thêm động vật thân mềm, mật ong và thịt (cá, chim, động vật gặm nhấm cũng như các động vật có vú nhỏ hay xác súc vật).

Gấu ngựa rất hung hăng đối với con người (hơn nhiều so với gấu đen Mỹ); có rất nhiều ghi chép về các cuộc tấn công gây thương vong của gấu ngựa. Điều này có lẽ chủ yếu là do gấu ngựa sống gần với con người và tấn công khi nó bị giật mình.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục I; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN; IUCN 2016 hạng VU.

hổ – Indochinese (Panthera tigris)

Thuộc Họ Mèo (Felidae).

Ghi chú:  Nghị định 06/2019/NĐ-CP đề cập đến phân loài hổ Đông Dương (Panthera tigris corbetti) và Nghị định 03/VBHN-BTNMT đề cập đến loài chính hổ (Panthera tigris). Phần dưới đây mô tả phân loài hổ Đông Dương.

So với hổ Bengal, hổ Đông Dương có màu nền bộ lông tối hơn với các sọc đơn ngắn hơn và hẹp hơn. Về kích thước cơ thể, chúng cũng nhỏ hơn hổ Bengal và hổ Siberi. Hổ Đông Dương đực dài 2,55–2,85 m, cân nặng 150-195 kg. Một số cá thể đực có cân nặng trên 250 kg. Hổ Đông Dương cái dài 2,30-2,55 m, cân nặng 100–130 kg.

_ho Dong Duong

Sinh thái: sống đơn độc ẩn dật trong rừng ẩm lá rộng nhiệt đới và cận nhiệt đới, phần lớn trong số đó nằm dọc theo biên giới giữa các quốc gia. Lối vào các khu vực này thường xuyên bị hạn chế cũng như ít nhà sinh vật học được cho phép vào để nghiên cứu thực địa. Vì lý do này, người ta biết tương đối ít về tình trạng, tập tính, hành vi của phân loài hổ này trong tự nhiên..

Hổ Đông Dương chủ yếu săn các loài động vật móng guốc hoang dã cỡ vừa và lớn. Nai, lợn rừng, sơn dương, và các loài lớn thuộc họ Trâu bò như bò banteng và bò tót chưa trưởng thành bao gồm phần lớn chế độ ăn của loài hổ này. Tuy nhiên, hầu hết các quần thể động vật lớn ở Đông Nam Á đã bị cạn kiệt nghiêm trọng do săn bắn bất hợp pháp, kết quả là dẫn đến “hội chứng rừng trống” – tức là rừng được trồng lại nguyên vẹn như trước, nhưng phần lớn nhiều loài động vật không còn sinh sống ở đó nữa. Một số con mồi thông thường khác của hổ, chẳng hạn như bò xám và hươu Schomburgk, đã tuyệt chủng; còn nai cà tông, hươu vàng và trâu nước hoang dã chỉ còn xuất hiện trong một vài quần thể di cư. Trong môi trường sống như vậy, hổ buộc phải săn những con mồi nhỏ hơn, chẳng hạn như mang, nhím, khỉ Macaca và lửng lợn. Những con mồi nhỏ như thế chỉ đủ để đáp ứng yêu cầu năng lượng của một loài động vật ăn thịt lớn như hổ, chứ không đủ để giúp hổ có thể sinh sản tốt. Yếu tố này, cùng với nạn săn bắt hổ để phục vụ cho y học cổ truyền Trung Quốc, là những nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm số lượng của hổ Đông Dương trong suốt phạm vi của nó.

Hổ Đông Dương rất khỏe. Tại Việt Nam, có trường hợp đã được thông báo về một con hổ đực lớn bị giết năm 1984 gần biên giới Việt-Lào. Con hổ này dài 2,8 m và cân nặng khoảng 250 kg, đã khủng bố các khu làng trong lãnh thổ của nó trong nhiều năm trước khi bị bắn hạ. Nó đã giết chết trên 10 con trâu trong các làng, cho dù có các cố gắng của dân cư để ngăn chặn điều này. Người ta nói rằng tại một làng đã dựng lên hàng rào cao 3 m xung quanh nơi nhốt gia súc, nhưng con hổ này vẫn có thể nhảy qua, giết chết một con bê, và nhảy ngược trở ra khi mang theo con vật xấu số nặng khoảng 60 kg. Con hổ này cuối cùng bị giết khi dân làng đặt bẫy tại xác một con trâu. Nó bị sa bẫy khi định tha con trâu đi và bị dân làng xả súng bắn hạ. Tuy vậy, xác con hổ chỉ được tìm thấy tại một dòng suối cách đó khoảng 2 km.

Hổ Đông Dương giao phối quanh năm, nhưng thường xuyên nhất trong tháng 11 đến đầu tháng 4. Sau thời gian mang thai khoảng 103 ngày, hổ cái trung bình sinh 3 con. Hổ sơ sinh ra có đôi mắt và tai của chúng còn đóng, vài ngày sau chúng bắt đầu mở và hoạt động. Hổ Đông Dương mới sinh nặng khoảng 1 kg. Hổ con bú sữa mẹ trong 18 tháng đầu, sau đó chuyển qua ăn thịt. Sau 18 tháng, chúng bắt đầu tự săn mồi. Trong năm đầu tiên, tỷ lệ tử vong của hổ non là 35%, và 73% những trường hợp tử vong ở hổ mới sinh là toàn bộ lứa đẻ. Tỷ lệ tử vong ở hổ mới sinh thường là kết quả của hỏa hoạn, lũ lụt hoặc bị giết bởi những con hổ trưởng thành khác. Ngay từ 18 tháng đối với một số cá thể nhưng sau 28 tháng đối với hầu hết trường hợp, đàn hổ con sẽ tách khỏi mẹ và bắt đầu tự đi săn và sống một mình. Con cái của các phân loài đạt đến tuổi trưởng thành lúc 3,5 tuổi trong khi con đực mất đến 5 năm để đạt đến sự trưởng thành về sinh dục.

Tuổi thọ dao động từ 15 đến 26 năm tùy thuộc vào các yếu tố như điều kiện sống. Do số lượng suy giảm, hổ Đông Dương được biết là giao phối cận huyết, giao phối với các thành viên gia đình. Việc lai cận huyết trong phân loài này dẫn đến gen bị suy yếu, làm giảm số lượng tinh trùng, vô sinh và trong một số trường hợp dị tật như hở hàm ếch, nheo mắt, mắt chéo.

Những cuộc xung đột giữa hổ Đông Dương và con người là tương đối ít do lối sống ẩn dật trong rừng của chúng. Tuy nhiên, những hậu quả mà chúng gây ra trong những lần hiếm hoi tấn công người là không hề nhỏ. Thông thường hổ Đông Dương không xem con người là đối tượng để săn mồi, nhưng khi khan hiếm thức ăn trong môi trường thiên nhiên, chúng có thể mò đến những bản làng gần đó để bắt gia súc và thậm chí cả người nếu điều kiện cho phép.

Con hổ Đông Dương được biết đến nhiều nhất là hổ có ba móng ở những cánh rừng thuộc Đông Nam Bộ trong thời kỳ chiến tranh Đông Dương. Đây là một con hổ đã già, bị gãy móng. Vì sức yếu, không còn nhanh nhẹn nên không còn bắt được những con mồi quen thuộc, nó đành ăn xác tử sĩ trên chiến trường khi ấy, sau quen mùi nên mò về làng bắt người ăn thịt. Chỉ chưa đầy 2 tháng, nó cướp đi hơn 50 mạng người. Có thông tin ước tính con hổ này đã ăn thịt trên 100 người. Sau nhiều lần tìm cách ứng phó, đội săn hổ cùng với nhiều người dân cuối cùng tiêu diệt được con hổ nguy hiểm này.

Hổ Đông Dương cũng được ghi nhận đã tấn công người trong vườn thú. Năm 2009, ở khu du lịch Đại Nam, một con hổ Đông Dương bất ngờ nhảy từ chuồng của nó sang chuồng trống bên cạnh và tấn công ba nhân viên đang trồng cây ở đó khiến 1 người chết, 1 người bị thương nặng.

Vào năm 1993, trong chuyến khảo sát thực địa cho Dự án Thủy điện A Vương, người tổng hợp bài này nghe dân cư địa phương cho biết năm trước (1992) “hổ về bắt bò trong bản làng” gần vị trí Thủy điện A Vương (trong vùng giáp giới với Lào), Huyện Tây Giang, Quảng Nam. Cũng như những thông tin truyền miệng khác, không thể kiểm chứng thông tin này.

Theo IUCN (2015d), trong vùng Đông Dương, hổ Đông Dương đã biến mất hoàn toàn ở Việt Nam và Campuchia, chỉ còn hiện diện ở Lào.

Theo Đinh Luyện (2019), số liệu cập nhật năm 2016 của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (WWF) cho thấy số lượng hổ ngoài thiên nhiên của Việt Nam còn dưới 5 cá thể. Trước đó, có một số báo cáo cho biết một số cá thể hổ từ Lào xâm nhập vào Việt Nam, gây khó khăn cho việc tổng hợp số liệu chính xác.

Đến năm 2018, dù không có thêm khảo sát, nhưng nhiều nhà khoa học tin rằng tại Việt Nam không còn hổ hoang dã. Giải thích về lý do vì sao không khảo sát về thực trạng hổ hoang dã tại Việt Nam, một chuyên gia cho biết để thực hiện nghiên cứu và khảo sát, cần có dấu hiệu về sự xuất hiện của hổ ở một địa phương nhất định. Nhưng suốt thời gian dài không có dấu tích nào xuất hiện (Hoa Văn, 2018).

Trong tất cả các phân loài hổ, phân loài hổ Đông Dương ít được nuôi nhốt một cách bài bản nhất, thiếu đăng ký quốc tế và không thuộc chương trình nhân giống phối hợp nào. Vườn thú ở khu du lịch Đại Nam thuộc tỉnh Bình Dương, Việt Nam có số lượng hổ Đông Dương rất đông. Lúc đầu vườn thú chỉ có chín con hổ (5 đực, bốn cái), không bao lâu, chúng nhân giống ra 15 con thế hệ F1, từ thế hệ F1 chúng tiếp tục sinh ra bốn con thế hệ F2. Hổ ở Đại Nam sinh sản rất nhanh, đến nỗi vườn thú phải hãm bớt.

Hổ Đông Dương từ lâu là nạn nhân của việc săn bắt vô tội vạ như là môn thể thao (Vua Bảo Đại bắn hạ được vài chục con hổ), để lấy xương nấu cao (tại Việt Nam, gần như 3/4 số hổ bị giết đều là nguồn cung cấp cao hổ cốt), và cũng vì cư dân địa phương muốn bảo vệ đàn gia súc. Thêm vào đó là nạn phá rừng, hủy hoại môi trường sống của thú ăn thịt lẫn thú ăn cỏ.

Cực kỳ khó khăn để nuôi hổ rồi cho thả trở lại vào hoang dã như đã có ý kiến đề xuất. Trước nhất, môi trường nuôi hổ phải đủ rộng và giống như môi trường hoang dã trong đó ít có sự tiếp xúc với con người, tạo điều kiện cho hổ mẹ săn bắt thú sống (như heo rừng, nai…) để qua đó hổ mẹ huấn luyện hổ con cách săn mồi. Nếu hổ mẹ là con đẻ ra trong môi trường nuôi nhốt thiếu phương pháp về mặt bảo tồn thì nó có thể mất bản năng săn mồi. Kế tiếp, cần tìm sinh cảnh thích hợp rộng 40 km2 cho hổ cải và 100 km2 cho hổ đực, và mỗi con hổ cần thức ăn vài chục kg thịt mỗi ngày, trong khi các loài làm thức ăn cho hổ ngày càng cạn kiệt. Điều kiện bổ sung là cần có đủ tài lực, nhân lực và hệ thống quản lý để bảo vệ hổ, kẻo hổ lại là nạn nhân cho việc săn bắt tinh vi. Có lẽ không nơi nào hội đủ những điều kiện thiết yếu như thế cho việc thả hổ về rừng theo nghĩa đen.

Ấn Độ và Thái Lan có một ít thành công trong việc bảo tồn hổ ngoài hoang dã bởi vì số lượng hổ ngoài hoang dã còn đủ, môi trường của chúng đủ rộng, được bảo vệ nghiêm nhặt và còn đủ các loài làm thức ăn cho hổ. Việt Nam hoàn toàn thiếu những điều kiện này.

Chính việc cấp phép nuôi nhốt động vật hoang dã nói là để bảo tồn cũng không thể đạt mục đích này. “Các khu bảo tồn giả mạo” và “vườn thú bên đường” là những thuật ngữ lỏng lẻo mô tả các cơ sở không được công nhận, có vấn đề, có tiêu chuẩn vận hành và chăm sóc thấp. Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (WWF) và Tổ chức Động Thực vật thế giới (FFI) cùng ra tuyên bố chung khẳng định: “Thực tế đã chứng minh nuôi nhốt để kinh doanh động vật hoang dã làm tăng hành vi buôn bán trái phép chúng, tạo ra một thị trường song song và thúc đẩy nhu cầu đối với các sản phẩm động vật hoang dã”. (Hồng Vân, 2020)

Đối mặt với những khó khăn muôn trùng, một tổ chức bảo tồn động vật hoang dã ở Đông Nam Á cho rằng “Có vẻ như chúng ta đang ở phe bại trong cuộc chiến này” (Phi Yến, 2019).

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB (đối với phân loài hổ Đông Dương); Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I (đối với loài hổ); CITES 2019 Phụ lục I (đối với loài hổ),; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng CR (đối với phân loài hổ Đông Dương); IUCN 2014 hạng EN (đối với loài hổ), số lượng đang giảm.

Xem thêm: Hoa Văn (2018); IUCN (2015d); Nhật Anh (2020), Phi Yến (2019); Thu Trang (2019).

hươu vàng  – Indochinese hog deer (Axis porcinus annamiticus)

Ghi chú:  Nghị định 06/2019/NĐ-CP đề cập đến phân loài hươu vàng (Axis porcinus annamiticus) và Nghị định 03/VBHN-BTNMT đề cập đến loài chính hươu vàng (Axis porcinus). Phần dưới đây mô tả phân loài Axis porcinus annamiticus.

Thuộc Họ Hươu nai (Cervidae), là một họ gồm các loài động vật có vú móng guốc chẵn nhai lại. Hai nhóm chính của họ này là Cervinae (mang, nai sừng xám, hươu hoang và hươu đốm) và Capreolinae (tuần lộc, hoẵng và nai sừng tấm). Tuần lộc cái và hươu đực của tất cả các loài (ngoại trừ hươu nước Trung Quốc) mọc và thay gạc mới mỗi năm. Điều này làm cho chúng khác với linh dương có sừng vĩnh viễn, một thành viên của Họ Trâu bò (Bovidae).

Môi trường sống của Họ Hươu nai là trảng cỏ, rừng thưa có nhiều cây, cỏ non. Ban ngày thường tìm nơi nên tĩnh, kín đáo và an toàn để ngủ, nghỉ. Ban đêm tìm kiếm thức ăn và những hoạt động khác; gần sáng tìm nguồn nước để uống nước. Vì thế, thợ săn hươu nai thường rình rập gần suối trong rừng lúc tang tảng sáng.

Tên khoa học cũ của hươu vàng: Axis porcinus, Hyelaphus porcinusHyelaphus annamiticus.

Trái với tên gọi, bộ lông không phải màu vàng mà là nâu-xám. Điểm khác biệt với phân loài hươu vàng Ấn Độ (có bộ lông vàng thật sự): thân lớn hơn, da không có chấm, sừng nặng nề hơn.

_huou vang

Ban đầu được cho là phân bố ở 3 nước Đông Dương và Thái Lan. Sau này được biết đã biến mất hoàn toàn ngoài hoang dã ngoại trừ một quần thể nhỏ bị chia cắt ở Campuchia (Brook, 2015).

Năm 2019, Ấn Độ thông báo lần đầu tiên phát hiện được hươu vàng sống ngoài hoang dã ở Manipur.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB (đối với phân loài Axis porcinus annamiticus); Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I (đối với loài Axis porcinus); CITES 2019 Phụ lục I (đối với phân loài Axis porcinus annamiticus); Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN; IUCN 2014 hạng EN (đối với loài Axis porcinus), số lượng đang giảm.

hươu xạ – forest musk deer (Moschus berezovskii)

Thuộc Họ Hươu xạ (Moschidae), gồm 7 loài hươu xạ thuộc chi duy nhất là Moschus. Các loài hươu xạ khác với các loài hươu, nai thực thụ (Họ Cervidae) ở chỗ chúng không có gạc hay các tuyến ở mặt, chỉ có một cặp vú, một túi mật, có tuyến ở đuôi, một cặp răng nanh dạng ngà và đặc biệt là có tuyến thơm ở vùng đáy chậu chứa xạ hương. Loại xạ này có tầm quan trọng kinh tế đối với con người, được dùng trong y học và sản xuất nước hoa thượng hạng.

Phân loài ở Việt Nam có tên Moschus berezovskii caobangis, được mô tả năm 1969 và được Hệ thống Thông tin Phân loại Tích hợp (Integrated Taxonomic Information System – ITIS) chấp nhận, nhưng không được CITES và IUCB ghi để phân hạng bảo vệ.

Hươu xạ có dạng ngoài hơi giống các con cheo nhưng lớn hơn nhiều, chân sau dài hơn chân trước 1/3. Đực, cái đều không có sừng, không tuyến trước ổ mắt. Trọng lượng 6-10 kg. Bộ lông dầy; lông dài xấp xỉ 3 cm, thô, hơi cứng, nhẹ, xốp, phần gốc thẳng màu trắng, phần trên uốn sóng và có băng màu nâu xám, vàng nhạt xen kẽ, tạo cho bộ lông có màu nâu xám lấm tấm vàng rất đều; tứ chi có màu thẫm. Vào mùa đông lông dài và thô hơn. Con đực có tuyến xạ nằm khoảng giữa rốn và cơ quan sinh dục; có răng nanh mọc dài ngoài mép.

_huou xa

Sinh  thái: Hươu xạ là loài hẹp sinh cảnh, chỉ ở núi đá vôi có độ cao 400-1000 m, nơi có độ dốc lớn và hiểm trở. Hươu ưa rừng thưa, có tầng cỏ quyết phát triển, ít ở rừng già, hoạt động chủ yếu vào chiều hôm và rạng sáng. Ăn lá, chồi, nụ, hoa… cây rừng, các loại cỏ, đôi khi ăn quả…, không ăn động vật. Cũng ưa các loại rau màu trồng trên nương, rẫy.  Chỉ ghép đôi vào thời kỳ động dục. Sinh sản gần như quanh năm. Mang thai 185-195 ngày. Mỗi năm đẻ 1 lứa/ 1 con.

Tình trạng: phân bố ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn. Hươu xạ ở Việt Nam có vùng phân bố hẹp, số lượng ít lại bị săn bắt liên tục, trong 10 năm gần đây số lượng đã giảm xấp xỉ 80%, hiện tại vẫn đang bị săn lùng ráo riết. Ở nhiều địa phương hươu đã biến mất.

Giá trị: hươu xạ là loài hiếm, quý vì có tuyến xạ. Xạ hương là chất định hương tuyệt hảo và là dược liệu quý. Hươu dễ thuần dưỡng, có thể gây nuôi để khai thác xạ hương.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục II; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng CR; IUCN 2015 hạng EN.

khỉ đuôi dài – Nicobar crab-eating macaque (Macaca fascicularis)

Còn được gọi là khỉ nước, khỉ ăn cua – crab-eating macaque, thuộc Họ Khỉ Cựu Thế giới (Cercopithecidae). Các tên khoa học đồng nghĩa: Macaca irus, Simia fascicularis.

Thân dài 38-65 cm, đuôi rất dài 44-55 cm; trọng lượng con cái 2,8-5,6 kg; con đực 4,5-8,5 kg. Bộ lông có màu từ xám đến nâu-đỏ, phía sau nhạt hơn. Lông trên đầu mọc hướng về sau; thường có mào. Mặt có màu hồng nhạt, con già có thể có râu. Con đực: thường có hai chỏm lông trắng trên miệng ở hai bên như bộ ria. Con cái: lông quanh miệng thưa hơn. Con non:  màu đen khi mới sinh. .

_khi duoi dai Con Dao

Sinh thái: thường sống thành đàn 10-100 con dọc bờ sông trong rừng rậm nguyên sinh, thứ sinh, rừng tre nứa, rừng thường xanh, rừng thưa, ven biển rừng ngập mặn tới độ cao 2000 m. Đàn có thành phần nhiều đực, nhiều cái, trung bình 2,5 con cái 1 con đực. Hoạt động trên cây ban ngày. Bơi rất giỏi, thường nhảy xuống nước từ cành cây. Thường ít đánh dấu khu vực như các loài khỉ khác.

Ăn tạp theo cơ hội. Thức ăn chủ yếu là quả (64%), hạt, nõn cây, lá và động vật như côn trùng, ếch, nhái, và đặc biệt là cua… Khi bắt được cua, chúng cố bẻ hai càng vứt đi và chỉ ăn phần thân còn lại. Nhiều khi khỉ vẫn bị cua kẹp, nên trong khu vực khỉ kiếm ăn thường vang tiếng khỉ kêu la do bị cua kẹp nhưng chúng vẫn không muốn từ bỏ món ăn khoái khẩu này.

Sống theo chế độ mẫu hệ với con cái thống trị. Con đực bị đuổi khỏi đàn khi vừa trưởng thành. Tuổi trưởng thành 50-51 tháng. Thời gian mang thai 160-170 ngày. Thời gian giữa hai lần sinh sản 12-24 tháng. Tuổi thọ 37-38 năm.

Tình trạng: phân bố rộng; hai nơi thường thấy là rừng ngập mặn Cần Giờ và rừng ngập mặn Cà Mau. Bị săn bắt nhiều để nấu cao xương. Tùy hoàn cảnh khỉ đuôi dài có thể được coi là thú hại mùa màng, thú thiêng trong đền chùa, và phổ biến hơn, là vật thí nghiệm y khoa. Châu Phi xuất khẩu khá nhiều khỉ đuôi dài hoang dã qua các nước Châu Âu để làm vật thí nghiệm.

Khỉ đuôi dài là một trong những loài khỉ đóng vai trò vật chủ chứa ký sinh trùng sốt rét Plasmodium knowlesi. Người đến gần vùng rừng có loài khỉ này có thể bị muỗi trung gian mang Plasmodium knowlesi chích và gây bệnh sốt rét.

Ghi chú: 1 trong ít nhất 10 phân loài của khỉ đuôi dài là khỉ đuôi dài Côn Đảo – Con Dao long-tailed macaque (Macaca fascicularis condorensis). Các phân loài này chỉ có một vài điểm khác nhau như màu lông, chiều dài của đuôi, hình thái lông trên má.

Phân loài khỉ đuôi dài Côn Đảo chỉ hiện diện ở Côn Đảo, vì thế được xem là đặc hữu của Việt Nam.

Bộ lông tương tự như khỉ đuôi dài nhưng màu thường nhạt hơn. Các đặc tính sinh thái tương tự như khỉ đuôi dài.

khỉ đuôi lợn – Northern pig-tailed macaque (Macaca leonina)

Còn được gọi là khỉ đuôi lợn phương Bắc hay khỉ xám, khỉ núi, thuộc Họ Khỉ Cựu Thế giới (Cercopithecidae).

Có kích thước lớn nhất trong chi Macaca: thân dài 43-69 cm, đuôi dài 15-23 cm, nặng 4-14 kg. Đuôi thường mập phần gốc, thưa lông, cong lên phía trên như đuôi lợn. Hai bên má có lông dài rậm, màu hung sáng, phủ gần kín tai tạo thành đĩa mặt. Ở đỉnh đầu lông màu hung sẫm hoặc xám đen tạo thành cái “xoáy” tỏa ra xung quanh giống như chiếc mũ lưỡi trai. Sau trán có một mảng lông hình tam giác màu nâu đậm. Thân phủ lông dài màu xám hoặc nâu-đỏ nhạt. Má có túi. Chai mông lớn.

_khi duoi lon

Sinh thái: sống thành từng đàn 15-40 con. Hoạt động vào ban ngày, kiếm ăn trên cây và dưới mặt đất, tối trú ẩn trong hang đá để ngủ. Thức ăn chủ yếu là trái cây, hạt và chồi non, đặc biệt thích các loại quả có vị chua chát như: đa, si, bứa, dọc, tai chua… và một số loài động vật nhỏ.

Sinh sản quanh năm, thời gian mang thai khoảng 171 ngày, mỗi năm đẻ 1 lứa, mỗi lứa đẻ 1 con, trưởng thành sau 35 tháng.

Tình trạng: phân bố ở Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Hà Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hoà Bình, Hà Tây, Nghệ An, Hà Tĩnh.Tuyên Quang, Quảng Bình, Thừa Thiên– Huế, Gia Lai, Kontum, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Tây Ninh, Đồng Nai. Trước năm 1975, loài này còn gặp rất phổ biến. Từ năm 1975 trở lại đây số lượng quần thể giảm mạnh. Nguyên nhân biến đổi do nơi cư trú bị xâm hại, rừng bị chặt phá, diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp và đây là đối tượng săn bắt để lấy thịt, nấu cao, buôn bán và xuất khẩu.

Giá trị: Làm mẫu vật phục vụ các đối tượng nghiên cứu khoa học. Mặt khác nếu bảo vệ tốt chúng sẽ trở thành nguồn gen để thử nghiệm các loại vaccine phục vụ đời sống con người..

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IIB; CITES 2019 Phụ lục II; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng VU; IUCN 2015 hạng VU.

khỉ mặt đỏ  – stump-tailed macaque (Macaca arctoides)

Còn được gọi là khỉ cộc, khỉ đen, khỉ gấu, khỉ ông già, khỉ hôi. thuộc Họ Khỉ Cựu Thế giới (Cercopithecidae).

Tương đối lớn: thân dài 48–65 cm, đuôi dài 3–7 cm, nặng 8-12 kg. Da mặt trần màu đỏ thẫm, ít lông. Màu lông thay đổi từ nâu vàng tới nâu tối hoặc gần như đen. Phần dưới của bụng nhạt hơn phía trên. Lưng màu nâu đỏ. Lông trên đỉnh đầu thường tỏa ra các hướng xung quanh. Lông ở hai bên má tỏa ra phía sau. Đuôi to, ngắn. Dương vật của con đực trưởng thành dài khác thường. Điểm nổi bật là chai mông to, không có lông.

_khi mat do

Sinh thái: sống thành đàn 40-50 cá thể ở các vùng núi đất; không gặp ở rừng ngập mặn. Chủ yếu hoạt động trên mặt đất. Tính dữ tợn, bạo dạn, khả năng leo trèo và bơi lội tốt. Thường chọn những cây đa to mọc bên khe, nằm nghiêng ra giữa lòng khe để làm nơi ngủ. Khi bị hoảng loạn thường nhảy ngay xuống mặt đất, khi đó hú ra âm thanh để báo động cho nhau.

Sinh sản quanh năm. Mang thai trong khoảng 170 ngày, mỗi năm đẻ 1 lứa, mỗi lứa đẻ 1 con.

Thức ăn đa dạng: nhiều loại củ quả như củ mài, củ ấu, quả quắm, hạt sa nhân, đôi khi ăn cả một số động vật nhỏ như giun, ngóe, nhông…

Tình trạng: phân bố ở Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Hà Giang, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hoà Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Lâm Đồng.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IIB; CITES 2019 Phụ lục II; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng VU; IUCN 2015 hạng VU.

khỉ mốc – Assam macaque (Macaca assamensis)

Thuộc Họ Khỉ Cựu Thế giới (Cercopithecidae).

Thân dài 41-73 cm, đuôi dài 14-24 cm. nặng khoảng 6- 11 kg. Màu lông thay đổi từ nâu sẫm tới nâu vàng nhạt, nhưng ở vai, gáy, đỉnh đầu và tai thường sáng màu hơn, phía sau chân và đuôi vàng hơn. Lông xung quanh mặt màu đen, hai má có lông màu xám, phía trong và phía dưới của đùi màu trắng xám. Lông đuôi dài, phần dưới đuôi có màu nhạt hơn phần trên. Hướng của lông ở trên đỉnh đầu rất đặc trưng, mọc rẽ sang phải và sang trái, xoắn ở trên gốc tai. Mào hướng ra phía sau. Có túi má. Chai mông lớn, xung quanh có lông. Đuôi thường mập phần gốc, thẳng và không thon.

_khi moc

Sinh thái: sống thành đàn từ 10-50 con ở rừng cây cao trên núi đá, rừng ẩm thường xanh, rừng thưa, rừng tre nứa… Hoạt động chủ yếu trên mặt đất và các tầng cây cao. Ban ngày xuống đất kiếm ăn, ban đêm trèo lên cành cây hoặc hốc đá để ngủ. Sinh sản quanh năm, mỗi năm đẻ một lứa, mỗi lứa đẻ một con. So với các loài khỉ khác, khỉ mốc hoạt động ít náo nhiệt hơn.

Ăn thực vật, ngoài các loại quả có vị chua chát, còn thích ăn cả măng của tre, nứa, vầu… đôi khi ăn côn trùng và kỳ nhông.

Tình trạng: phân bố ở Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Hà Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hoà Bình, Hà Tây, Nghệ An, Hà Tĩnh, Tuyên Quang, Quảng Bình.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IIB; CITES 2019 Phụ lục II; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng VU; IUCN 2015 hạng NT.

khỉ vàng – Rhesus monkey (Macaca mulatta)

Còn được gọi là khỉ Rhesus, khỉ đàn, khỉ đỏ đít, thuộc Họ Khỉ Cựu Thế giới (Cercopithecidae).

Thân dài 47-62 cm, đuôi dài 20-28 cm, nặng 4-10 kg. Bộ lông màu nâu hoặc xám; khuôn mặt màu hồng hoặc đỏ không có lông. Mông và nửa thân sau màu đỏ râu ngô.

_khi vang

Sinh thái: sống môi trường đa dạng từ đồng cỏ đến vùng khô cằn và rừng, cũng gần với khu định cư của con người vì khá dạn người. Sống theo đàn 10-15 cá thể, trong đó có 1 cá thể đực đầu đàn. Hoạt động ban ngày, cả dưới đất lẫn trên cây. Thức ăn chủ yếu của chúng là quả, hạt, lá cây, thậm chí kiếm ăn trong các đống rác thải.

Khỉ vàng là một trong những loài khỉ đóng vai trò vật chủ chứa ký sinh trùng sốt rét Plasmodium knowlesi. Người đến gần vùng rừng có loài khỉ này có thể bị muỗi trung gian mang Plasmodium knowlesi chích và gây bệnh sốt rét.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IIB; CITES 2019 Phụ lục II; IUCN 2015 hạng LC.

mang lớn – large-antlered muntjac (Megamuntiacus vuquangensis)

Còn được gọi là Mang Vũ Quang, thuộc Họ Hươu nai (Cervidae), có tên khoa học khác: Muntiacus vuquangensis

Trọng lượng trung bình 34 kg. Lông màu nâu bóng với những sọc đen chạy dọc xuống đế gạc phía trong trán từ nhánh gạc nhỏ đến suốt tuyến trước trán. Tuyến trán nhô ra, dài khoảng 2 cm với bờ mi gấp lên và không có lông. Dọc tuyến trán có ít lông mịn màu đen, hàng lông dài quanh tuyến đổ về phía sau. Tuyến lệ có dải lông mịn màu sẫm. Thân phần lưng sẫm hơn phần bụng. Từ cổ xuống lưng có một sọc màu sẫm. Túm lông đuôi màu sẫm, phía dưới màu trắng. Con đực có sừng (gạc) khá lớn trong các loài mang: dài 28–30 cm, nhánh chính 14–25 cm, nhánh phụ 8–13 cm, phần đế ngắn 3–7 cm.

_mang lon

Mang lớn được phát hiện và mô tả cho khoa học năm 1994. Chỉ được tìm thấy trong dãy núi Trường Sơn, nơi giáp ranh giữa Lào và Việt Nam. Đây là một trong những loài thú quý hiếm và có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất Đông Nam Á bởi vì rất hiếm khi phát hiện được. Năm 2018, hai cá thể được tìm thấy ở Quảng Nam. Kể từ năm 2000, loài này mới chỉ được ghi nhận thông qua bẫy ảnh tại ba khu rừng của Việt Nam.

Không có mang lớn được nuôi nhốt, vì vậy nếu loài này mất đi trong hoang dã, nó sẽ tuyệt chủng vĩnh viễn.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục I; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng VU; IUCN 2015 hạng CR.

mang Pù Hoạt – Puhoat muntjac (Muntiacus puhoatensis)

Thuộc Họ Hươu nai (Cervidae). Loài được phát hiện và mô tả cho khoa học năm 1997 sau khi được tìm thấy ở vùng Pù Hoạt, Huyện Quế Phong, Nghệ An.

Tên đồng nghĩa là loài mang Roosevelt –  Roosevelt’s muntjac hoặc Roosevelt’s barking deer (Muntiacus rooseveltorum). Nhưng bản thân sự phân loại của loài này gây bất đồng ý kiến trong hơn 60 năm nay, đặc biệt trong mối liên hệ với các loài được đặt tên sau này: mang Trường Sơn (Muntiacus truongsonensis), mang Pù Hoạt (Muntiacus puhoatensis), và mang lá (Muntiacus putaoensis). Không loại trừ một trong hai loài đầu, hoặc cả hai, đồng nghĩa với Muntiacus rooseveltorum (IUCN, 2008). Vì những mâu thuẫn về phân loại này trong khi rất hiếm khi được quan sát, khó mô tả chính xác hình thể và sinh thái của mỗi loài.

_mang Pu Hoat

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES không phân hạng; Sách Đỏ Việt Nam không phân hạng; IUCN 2014 hạng DD.

mang Trường Sơn – Annamite muntjac (Muntiacus truongsonensis)

Thuộc Họ Hươu nai (Cervidae). Loài được phát hiện và mô tả cho khoa học năm 1998. Nhưng không loại trừ loài này đồng nghĩa với mang Roosevelt (Muntiacus rooseveltorum) (IUCN, 2008).

Mang Trường Sơn là một trong số loài mang nhỏ nhất, chỉ nặng 14-20 kg. Toàn thân phủ lớp lông mịn mầu vàng nâu hoặc vàng rỉ sắt. Bốn chân mảnh khảnh. Đuôi mập. Con đực có sừng ngắn không phân nhánh. Hố mắt và hố tuyến lệ tròn. Cả đực và cái đều có răng nanh dài thò ra khỏi miệng.

_mang Truong Son

Sinh thái: sống chủ yếu ở rừng già ở cao độ 400-1000 mét có tập đoàn cây ưu thế là: lim xẹt, kiền kiền, chò, trám, nhội… Kích thước nhỏ bé cho phép con vật di chuyển dễ dàng dưới các bụi cây rậm rạp. Không gặp nơi rừng thưa, ven nương rẫy, savan cỏ cây bụi.

Thức ăn là cỏ, quả, lá cây rừng. Sinh sản còn chưa được nghiên cứu.

Tình trạng: vùng phân bố không rõ ràng do có sự nhập nhằng khi phân biệt hai loài mang Trường Sơn (Muntiacus truongsonensis) và mang Roosevelt (Muntiacus rooseveltorum). Ba mẫu của mang Trường Sơn được thu thập ở Huyện Hiên, Quảng Nam, giáp giới với Lào.

Giá trị: Được cho là loài thú mới cho khoa học có ý nghĩa bảo tồn nguồn gen. Có giá trị nghiên cứu khoa học và du lịch sinh thái. Có tài liệu ghi mang Trường Sơn là loài đặc hữu của Việt Nam, nhưng theo IUCN (2014b) loài này còn có thể hiện diện ở Lào và Trung Quốc.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES không phân hạng; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng DD; IUCN 2014 hạng DD.

mèo cá – fishing cat (Prionailurus viverrinus)

Thuộc Họ Mèo (Felidae).

Thân dài 60-78 cm, đuôi ngắn rõ rệt, chỉ dài 25 cm, nặng 5-16 kg (con đực lớn hơn đáng kể so với con cái). Bộ lông màu xám tro pha nâu, có một số vệt đen dài chạy từ đỉnh đầu đến lưng và nhiều đốm đen trên lưng và sườn. Bụng xám nhạt. Hai tai ngắn, có điểm trắng ở mút tai.

_meo cajpg

Sinh thái: thường sống trong những rừng cây, trảng cây bụi, trảng lau sậy ven sông, suối hoặc trong rừng ngập mặn, rừng tràm. Kiếm ăn ban đêm dọc sông, suối và đầm lầy. Bơi giỏi và có thể bơi được một quãng dài, biết bắt các loại động vật nhỏ dưới nước. Chủ yếu ăn cá, và cũng ăn thêm tôm, cua, ếch, nhái, chuột, côn trùng… Mèo cái mang thai trong 63-71 ngày. Mỗi lứa đẻ 1-4 con.

Tình trạng: phân bố ở Cao Bằng, Khánh Hòa, Kiên Giang, Rừng U Minh. Ít gặp.

Giá trị: Góp phần điều hòa số lượng cá thể các loài động vật con mồi trong tự nhiên. Có giá trị nghiên cứu khoa học và nuôi cảnh trong các vườn thú.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục II; CITES không phân hạng; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN; IUCN 2016 hạng VU.

mèo gấm – marbled cat (Pardofelis marmorata)

Thuộc Họ Mèo (Felidae).

Kích thước tương tự như mèo nhà, thân dài 62 cm, đuôi dài đến 55 cm, trọng lượng 2-5 kg. Bộ lông đẹp nhất trong họ hàng nhà mèo, dày, mịn và xốp, thay đổi nhiều về hoa văn. Nền lông mầu xám xanh hay nâu son; có nhiều vệt đen ở đầu, cổ và lưng; có hoa văn gần kiểu hoa văn của báo gấm nhưng nhỏ hơn, bị đứt quãng và mờ lẫn trong nền lông lưng. Có 2 dải lông đen chạy từ cổ đến gốc đuôi, tách biệt với các vân ở lưng; nhiều đốm nhỏ ở đùi. Chân và đuôi có nhiều đốm thẫm. Trên đuôi có nhiều vệt đen nhỏ không thành vòng đuôi.

_meo gam

Sinh thái: còn ít được nghiên cứu. Sống ở vùng rừng cây gỗ lớn thường xanh và bán thường xanh, rừng tái sinh và kể cả trên núi đất và núi đá, hoạt động về đêm. Thức ăn gồm các loài chim, gậm nhấm nhỏ, rắn, bò sát, ếch nhái, côn trùng.

Tình trạng: phân bố ở Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Bắc Kạn, Phú Thọ, Đắk Lak, Lâm Đồng. trước đây khá phổ biến. Do bị săn bắt nhiều vì bộ lông đẹp và sự thoái hoá rừng trữ lượng của mèo gấm bị giảm sút nghiêm trọng.

Giá trị: Thú quí, hiếm có giá trị nghiên cứu khoa học và góp phần điều hòa số lượng cá thể các quần thể con mồi.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục I; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng VU; IUCN 2015 hạng NT.

mèo ri – jungle cat (Felis chaus)

Còn được gọi là mèo sậy hay mèo đầm lầy, thuộc Họ Mèo (Felidae).

Thân dài 70-120 cm, đuôi dài 35-38 cm, nặng 3-16 kg. Bộ lông màu xám tro đến vàng nâu, phần bụng lông sáng hơn và dài hơn. Đặc điểm nổi bật là bộ lông gần như đồng màu hoặc chỉ có đốm mờ ở thân và có lông đen dài ở đỉnh tai. Nhưng có một số vệt trắng ở mặt và 2 vệt ở mặt trong chân trước; nhiều vệt đốm mờ hoặc sẫm ở phía ngoài của 4 chân. Mèo non có thể có một số dải đen ở thân. Đuôi ngắn không quá nửa dài thân, thường xấp xỉ 1/ 3; có 4-5 vòng đen ở nửa cuối đuôi.

_meo ri

Sinh thái: sống ở trảng cỏ, trảng cây bụi và bờ lau lách dọc sông và đầm lầy vùng duyên hải với thảm thực vật dày đặc. Hoạt động sáng sớm và chiều tối. Thức ăn bao gồm các loài thú gặm nhấm, chim, bò sát, ếch nhái, côn trùng và cá. Mỗi lứa đẻ thường 3 con, đôi khi tới 5 con. Mèo con mở mắt sau 11-15 ngày tuổi.

Tình trạng: phân bố ở Tây Ninh, Gia Lai (K’Bang). Rất hiếm gặp. Chưa xác định được đầy đủ vùng phân bố.

Giá trị: Góp phần điều hòa số lượng các vật mồi, giúp cân bằng sinh thái. Có thể nuôi làm cảnh ở các vườn thú để nghiên cứu sinh thái học.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IIB; CITES 2019 Phụ lục II; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng DD; IUCN 2014 hạng LC.

nai – sambar deer (Rusa unicolor)

Nai là loài lớn nhất trong Họ Hươu nai (Cervidae): nặng 150-200 kg, thân dài 1,8-2,0 m. Bộ lông dày, sợi lông nhỏ, dài, nâu ở hông và mông, xám hay xám đen ở lưng và ngực, trắng bẩn ở bụng và mặt trong các chi. Con đực sẫm hơn con cái. Nai đực có sừng (gạc) ba nhánh. Nhánh thứ nhất tạo với nhánh chính một góc nhọn lớn. Sừng to, thô, nhiều nhánh và nhiều đốt sần.

_nai

Ghi chú: loài nai bản địa ở là nai đen, thuộc phân loài Cervus unicolor equinus, có màu xám sậm.

Sinh thái: sống ở rừng thưa, rừng rụng lá, rừng thứ sinh, ven trảng cỏ, ven suối đến độ cao 1000 m. Nhút nhát, hiền lành, thính giác và khứu giác đều tốt. Sống đàn hoặc đơn, đi kiếm ăn muộn (23-24 giờ) đến sáng sớm. Ăn các loại cỏ, lá mầm,  cây bụi, cây tái sinh và một số loại quả rừng rụng xuống. Ban ngày tìm nơi nên tĩnh, kín đáo và an toàn để ngủ, nghỉ. Mang thai khoảng 8 tháng. Mỗi năm đẻ một lứa, mỗi lứa đẻ 1 con. Nai con đẻ ra khỏe, bú mẹ khoảng 6 tháng, trưởng thành sinh dục sau 2 năm tuổi. Tuổi thọ của nai khoảng 25-30 năm.

Tình trạng: trước đây gặp khắp các tỉnh có rừng. Do bị săn bắt quá mức, hiện nay chỉ còn dọc theo biên giới phía tây, từ Tây-Bắc đến Đông Nam Bộ, và đặc biệt ở VQG Cát Tiên.

Nai đã được nuôi phổ biến khoảng 1 thế kỷ nay để lấy nhung.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IIB; CITES 2019 không phân hạng; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng VU; IUCN 2014 hạng VU.

nai cà tông – Eld’s deer, brown-antlered deer (Rucervus eldii)

Thuộc Họ Hươu nai (Cervidae).

Thân dài 150–180 cm; đuôi dài 20-30 cm; trọng lượng 95–100 kg. Thân dài, chân dài. Bộ lông vàng xám (cái) hay nâu đậm (đực). Đầu và mặt thuôn dài, tai to tròn. toàn thân có bộ lông mềm, lưng màu hung đỏ hoặc vàng hung, có hai hàng chấm màu vàng nhạt chạy dọc lưng. Con đực lông ở cổ thưa, ở gáy dầy, dài rủ xuống hai bên cổ. Ngực, bụng, háng màu trắng. Phía trong chân sau có vệt trắng nhạt chạy dài xuống dưới. Đuôi rất ngắn. Con non có các đốm trắng như sao ở mông.

Loài nai này nổi bật vì có cặp sừng chẻ thành nhiều nhánh, con đực có cặp sừng 4-5 nhánh, nhánh 1 hướng về phía trước tạo với thân sừng hình vòng cung ngay trên đỉnh đầu, các nhánh khác ở ngọn sừng xoè ra giống như bàn tay 3-4 ngón. Nai cà tông là một trong những loài có bộ sừng đẹp nhất trong tất cả các loài động vật thuộc bộ móng guốc.

_nai ca tong

Sừng nai cà tông khi uốn chẻ thành nhiều nhánh trông uy dũng và quyến rũ với cặp sừng nhọn, hình vòng cung hướng về phía trước đỉnh đầu, các nhánh ở ngọn sừng xòe chĩa ra như những ngọn giáo mà loài này sử dụng trong những lúc giao chiến tranh giành con cái vào mùa giao phối, hoặc để tấn công các loài thú ăn thịt khi tính mạng bị nguy cấp. Cặp gạc cong giống như đàn lia, có những cặp gạc đẹp của nai cà tông ở Langbian dài đến 116 cm.

Phân bố ở Việt Nam: chủ yếu vùng Tây Nguyên như Kon Tum (Sa Thầy), Đắk Lắk (Đắk Min; Easúp; M’Đrắc), Lâm Đồng (Bảo Lộc).

Sinh thái: sống trong rừng lá rộng thưa, rừng thứ sinh, rừng khộp (chủ yếu có cây khộp Dipterocarpus tuberculatus) có địa hình tương đối bằng, rừng có nhiều đồng cỏ bằng phẳng ở độ cao 500-600 m. Sinh sống hiền lành theo từng đàn nhỏ 5-10 con. Hoạt động kiếm ăn ban đêm, nơi thoáng mát ven rừng cho đến sáng sớm, khi mặt trời mọc chúng tìm nơi trú ấn nghỉ ngơi trong các thung lũng rậm rạp. Thức ăn chủ yếu là cỏ, lá cây. Mỗi năm đẻ một lứa, mỗi lứa một con.

Giá trị: nai cà tông bị săn bắn ráo riết do cặp sừng đẹp, thúc đẩy nhiều đại gia vung tiền mua thủ cấp nai cà tông để khoe của trong tư gia, và cũng để lấy sừng non làm thuốc, thịt làm thực phẩm. Theo IUCN (2014a), ngày xưa nai cà tông phân bố rộng rãi ở Nam Á và Đông Nam Á, hiện giờ đã biến mất hoàn toàn ở Thái Lan và Việt Nam, một số quần thể nhỏ còn sót trong những khu vực hạn hẹp ở Lào và Campuchia.

Rất may mắn cho thế giới, có nhiều vườn thú nuôi nhân giống nai cà tông từ những cá thể được mang về Vườn thú Paris (Thomas, 2019).

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục I; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN; IUCN 2014 hạng EN.

rái cá lông mũi – hairy-nosed otter (Lutra sumatrana)

Thuộc Phân họ Rái cá (Lutrinae) trong Họ Chồn (Mustellidae). Rái cá có lớp lông trong dày (1.000 lông/mm²) và mịn được bảo vệ bởi lớp lông ngoài giữ cho chúng khô ráo dưới nước và giữ lại một lớp không khí để giữ ấm. Tất cả các loài rái cá có thân dài, mỏng và thuôn linh động uyển chuyển; chân ngắn và có màng chân. Phần lớn có vuốt sắc để chụp con mồi.

Rái cá đào hang làm tổ ở bờ các thủy vực, trong các hốc đá, hố cây. Rái cá sống theo gia đình 3-5 con, nhưng khi kiếm ăn các gia đình có thể tập trung thành đàn lên đến 10- 12 con. Rái cá mang thai khoảng 61 ngày, mỗi lứa đẻ 2-4 con.

Rái cá có tốc độ trao đổi chất rất cao và tiêu hao năng lượng với nhịp độ hoang phí. Vì thế, chúng phải ăn thật nhiều mỗi ngày. Phần lớn chúng săn mồi 3-5 giờ mỗi ngày, nếu là con mẹ đang cho con bú thì cần săn mồi 8 giờ mỗi ngày. Ngay cả việc ăn con mồi cũng có nhiều hoang phí, nhiều mảnh thừa thải bị bỏ lại. Vì thế, thủy vực nơi rái cá sống phải có thật nhiều thủy sản thì mới có thể giúp rái cá sống tồn. Diện tích thủy vực phong phú như thế ngày càng hẹp dần, đe dọa sự sống tồn của rái cá.

Phần lớn rái cá ăn cá làm thức ăn hàng đầu trong thực đơn của chúng, ngoài ra chúng còn ăn bổ sung ếch nhái, tôm và cua; một số còn chuyên ăn sò, còn loại khác thì lại ăn động vật có vú nhỏ hoặc chim.

Các loài rái cá thường bị săn bắt để lấy lông bán được giá. Sau này, chúng còn được ưa chuộng làm thú cưng, vì thế càng bị săn lùng hơn. Nuôi rái cá làm giống để cung cấp cho thị trường rất khó, bởi vì rái cá không dễ sinh sản trong điều kiện nuôi nhốt. Do đó, giới khoa học tin rằng rái cá “cưng” trên thị trường hiện nay hầu hết là từ môi trường hoang dã. (Trọng Huân, 2019)

Việt Nam là nơi sinh sống của bốn loài rái cá, bao gồm rái cá lông mũi (Lutra sumatrana), rái cá lông mượt (Lutra perspicillata), rái cá thường (Lutra lutra), và rái cá vuốt bé (Aonyx cinerea). Cả 4 loài đều đang bị đe doạ nghiêm trọng bởi sự tác động đến sinh cảnh sống của chúng và nạn săn bắt để lấy da, làm thuốc và lấy thịt.

Rái cá lông mũi được đặt tên như vậy là vì phần ẩm của mũi (rhinarium) có những sợi lông ngắn. Chiều dài cơ thể 51–84 cm, chiều dài đuôi 36–51 cm, trọng lượng 5,0–5,9 kg. Đặc điểm phân biệt: cổ trắng, đầu dài và bộ lông sậm màu. Bộ lông có màu nâu hoàn toàn, trừ môi, cằm và trên cổ họng có màu trắng; bụng màu nhạt. Lông khá thô và ngắn. Đuôi dẹt và hình bầu dục. Chân có màng giữa các ngón; vuốt dài.

_rai ca long mui

Sinh thái: hoạt động nửa trên cạn nửa dưới nước; di chuyển đoạn đường dài để kiếm thức ăn.

Liên lạc với nhau bằng những tiếng kêu chíp đơn âm tiết, con cái trưởng thành gọi đàn con với một âm ngắn. Rái cá lớn rất giống nhau và có thể được phân biệt tích cực chỉ qua sự kiểm tra chặt chẽ của mũi và lông thú, hoặc hộp sọ.

Mang thai 9 tuần. Đẻ 1-4 con.

Tình trạng: trước đây phân bố ở Thừa Thiên–Huế, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Cà Mau. Hiện nay có lẽ chỉ còn ở U Minh Thượng và U Minh Hạ. Loài hiếm nhất và ít được biết đến trong các loài rái cá Châu Á, và cũng rất khó khăn để xác định trong khu vực phân bố.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục II; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN; IUCN 2014 hạng EN.

rái cá lông mượt – smooth-coated otter (Lutrogale perspicillata)

Thuộc Phân họ Rái cá (Lutrinae) trong Họ Chồn (Mustelidae).

Rái cá lông mượt là loài rái cá lớn nhất ở Châu Á: chiều dài cơ thể 65-79 cm, trọng lượng cơ thể 7-11 kg. Con đực lớn hơn con cái. Bộ lông dày, hai lớp, mượt khi chạm vào. Chiều dài của lông ngoài là 12-14 mm, và chiều dài của lớp lông trong là 6-8 mm. Lông ở phần trên của cơ thể màu nâu xám, bụng và hai bên sườn nhạt hơn.

_rai ca long muot

Sinh thái: sống ở hồ lớn, sông, rừng đầm lầy, cửa sông, ruộng lúa, địa hình đá. Chỉ tránh những bãi cát và khu vực mở. Ăn chủ yếu cá, nhưng cũng ăn bất kỳ sinh vật nào có thể bắt được: cua, tôm, ếch, bò sát nhỏ, động vật thân mềm, côn trùng, giun, chim và trứng chim.

Rất nhanh nhẹn nước. Tìm kiếm con mồi với bộ ria mép nhạy cảm. Bình thường bơi chậm, khi gặp con mồi cả 4 chân đều tham gia, tạo ra những cú giật nhanh với sự trợ giúp của chân sau và đuôi, trong khi các chi trước được ép chặt vào cơ thể.

Vào những năm 1990, rái cá lông mũi được coi là đã tuyệt chủng trên thế giới. Tuy nhiên, sau đó, nó được tái phát hiện tại Campuchia, Thái Lan, Sumatra. Tại Việt Nam, rái cá lông mũi được phát hiện năm 2000 tại VQG U Minh Thượng, và năm 2008 tại VQG U Minh Hạ.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục I; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN; IUCN 2014 hạng VU.

rái cá thường – Eurasian otter (Lutra lutra)

Thuộc Phân họ Rái cá (Lutrinae) trong Họ Chồn (Mustellidae).

Thân dài 35–45 cm, đuôi dài 22-40 cm, nặng 3-9 kg. Bộ lông màu xám đến nâu hung đốm hoa râm, hơi thô; phần bụng màu xám tro, họng và má phớt trắng. Lông đệm dày không thấm nước. Đầu hơi dẹp bề ngang, mõm ngắn, môi mỏng, mắt lồi. Có màng bơi da trần phủ hết ngón. Vuốt ngòn chân dài thò ra khỏi ngón nhưng ngắn và tù. Tai nhỏ, vành tai tròn có nắp che lỗ tai. Đuôi tròn đều, nhỏ dần từ gốc đến mút đuôi. Da mũi trần có viền hình chiếc đe.

_rai ca thuong

Sinh thái: sống ở rừng có cây cối rậm rạp dọc bờ đầm, hồ, kênh rạch nơi nước không bị ô nhiễm. Có thể sống dọc bờ biển nhưng cần nơi có nước ngọt để rửa lông. Rái cá thường là loài rái cá duy nhất trong vùng phân bố của nó, vì vậy nó không bị nhầm lẫn với các loài rái cá khác. Đào hang làm tổ ở bờ các thủy vực kể trên, trong các hốc đá, hố cây hoặc sử dụng các hang đá có sẵn. Hang của từng gia đình rái cá có thể thông với nhau thành tập đoàn. Sống trong hang, ngủ ngày và hoạt độn‌g vào ban đêm. Rái cá sống theo gia đình, mỗi đàn 3-5 con, nhưng có nơi sống một mình, chỉ kết đôi ở thời kỳ giao phối. Giỏi bơi llội. Thính giá‌c, thị giá‌c, và vị giá đều nhạ‌y cả‌m.

Có tập tính đánh dấu lãnh thổ bằng phân và mùi hương và bảo vệ lãnh thổ mãnh liệt chống lại đối thủ cùng giới – có nghĩa con cái và con đực có thể có lãnh thổ trùng lặp. Lãnh thổ dài 1-40 km, ngắn dọc bờ biển, hồ nơi có không gian rộng, và dài hơn dọc theo sông hẹp.

Ăn tạp: chủ yếu là cá nhưng cũng ăn thêm ếch nhái, tôm cua, côn trung, chim.

Đẻ quanh năm mỗi lứa 2-4 con, sau khi mang thai 60-64 ngày. Đàn con phụ thuộc vào mẹ trong 13 tháng. Con bố không tham gia vào việc chăm sóc đàn con.

Giá trị: Có giá trị nghiên cứu khoa học và góp phần điều hòa số lượng cá thể các quần thể động vật, thực vật thủy sinh.

Tình trạng: từng hiện diện ở Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Kạn, Hoà Bình, Quảng Ninh, Hà Nội, Gia Lai, Lâm Đồng. Hiện nay số lượng bị giảm sút nhiều do săn bắt lấy da lông và môi trường sống bị suy thoái.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục I; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng VU; IUCN 2014 hạng NT.

rái cá vuốt bé – Asian small-clawed otter (Aonyx cinereus)

Thuộc Phân họ Rái cá (Lutrinae) trong Họ Chồn (Mustellidae). Các tên khoa học đồng nghĩa: Amblonyx cinerea, Amblonyx cinerea fulvus.

Loài rái cá nhỏ nhất thế giới với chiều dài toàn thân từ 70-100 cm, trong đó đuôi dài khoảng 30 cm; cân nặng nhỏ hơn 5 kg. Thân hình ngắn, chắc hơn các loài rái cá khác. Màng bơi không phủ hết ngón chân và có phủ lông. Tai có nắp che lỗ tai. Bộ lông mầu nâu nhạt hoặc xám nâu, phần bụng mầu sáng hơn. Đặc điểm nổi bật là vuốt chân nhỏ, không thò ra khỏi ngón. Điều này giúp con vật thuận tiện cầm nắm tôm cua, ốc và những loài thủy sinh khác khi ăn.

_rai ca vuot be

Sinh thái: sống tại đầm nước mặn và đất ngập nước ngọt, nước lợ, dọc suối, hồ đầm. Hoạt động về đêm, đôi khi gặp cả ban ngày. Thức ăn chủ yếu là cua, côn trùng, sau mới đến ăn cá. Sống theo đàn 3-8 con hoặc nhiều hơn. Mỗi năm đẻ 1-2 lứa, mỗi lứa 2-3 con. Cả bố và mẹ cùng chăm sóc con non.

Giá trị: góp phần điều hòa số lượng cá thể các quần thể động vật thủy sinh. Có thể nuôi làm cảnh ở công viên nước, vườn thú.

Tình trạng: từng hiện diện ở Quảng Ninh (Vịnh Hạ Long), Quảng Trị, Bình Phước, Lâm Đồng, Kiên Giang, Cà Mau. Hiện nay, trữ lượng đã bị giảm sút nhiều do săn bắt và mất nơi sống.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục I; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng VU; IUCN 2014 hạng VU.

sao la – saola (Pseudoryx nghetinhensis)

Thuộc Họ Trâu bò (Bovidae)

Sao la đã tồn tại từ lâu đời và sinh sống chủ yếu tại vùng rừng núi hẻo lánh thuộc Trung Trường Sơn Việt Nam và Nam Lào, khu vực rừng đầu nguồn các con sông với ghềnh đá nhiều hang hốc. Mãi đến năm 1992, sao la mới được các nhà khoa học phát hiện lần đầu tiên tại Vườn Quốc gia Vũ Quang, Hà Tĩnh. Sau đó, các nhà khoa học đã tiếp tục tìm kiếm và phát hiện thêm 20 con sao la nữa cũng trong năm 1992. Nhân việc phát hiện này, các nhà khoa học đề nghị tạo ra chi mới, Pseudoryx, do sự tương tự với các loài linh dương (oryx).

Việc khám phá ra loài sao la gây chấn động trên thế giới vì giới khoa học đã cho rằng việc tìm thấy một loài thú lớn vào cuối thế kỷ 20 là chuyện khó có thể xảy ra, vì chỉ có 5 loài thú lớn được phát hiện trong suốt 100 năm trước đó. Sau này sao la cũng được tìm thấy ở các nơi khác trong phạm vi của rừng Trường Sơn thuộc các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam và một số tỉnh thuộc Lào. Hóa ra cư dân địa phương trong các vùng phân bố trước giờ không lạ gì với sao la: họ vẫn thường săn bắt con vật để xẻ thịt, và lấy đầu mang cặp sừng để trưng bày trong nhà.

Sau 15 năm kể từ lần cuối cùng loài này được nhìn thấy trong hoang dã tại Việt Nam, ngày 9/7/2013, hệ thống máy bẫy ảnh cảm biến do WWF và Chi cục Kiểm lâm Quảng Nam lắp đặt trong rừng thiên nhiên ghi lại được hình ảnh một cá thể sao la.

Thân cỡ lớn: dài tới 1,3–1,5m, trọng lượng 80–120kg. Đầu mầu nâu sẫm có những vạch trắng hoặc đen nhạt. Mặt nâu sẫm hay nâu đỏ nhạt, cả đực và cái đều có các vệt trắng ở trên và dưới mắt, nhiều vệt trắng ở cằm và cổ. Mặt sau tai mầu nâu, mặt trước tai mầu trắng nhạt, chóp tai có túm lông dài mầu trắng. Phần lưng mầu nâu hai bên sườn có vạch trắng nhạt phân cách lưng với các chân mầu đen nhạt. Bộ lông mềm mượt, có các vòng xoáy ở giữa mũi, hai bên cổ và hai vai. Ngay trên móng guốc có vòng trắng ở cả 4 chân. Cả đực và cái đều có sừng. Sừng dài và mảnh, có thể dài đến 51 cm, hướng thẳng về phía sau, không phân nhánh, mút sừng nhọn, nhẵn bóng, lõi sừng kéo dài tới mút sừng.

_sao la

Sinh học, sinh thái: Thức ăn chủ yếu là cỏ, lá cây rừng. Sao la non 7-8 tháng tuổi đã sử dụng 58 loài thực vật làm thức ăn. Nơi sinh sống là rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh, rừng nguyên sinh hoặc đã bị khai thác nhẹ. Nơi ở và kiếm ăn thường là những nơi có nhiều lèn đá lởm chởm gần sông suối ở độ cao 200-600 m và xa khu dân cư. Tập tính sinh sống của chúng chưa được nghiên cứu.

Tình trạng: phân bố ở Lào và Việt Nam: Nghệ An, Hà Tĩnh (VQG Vũ Quang), Quảng Trị, Thừa Thiên–Huế (VQG Bạch Mã).

Có hai khu bảo tồn sao la của Việt Nam: ở Thừa Thiên–Huế có diện tích hơn 15.500 ha và ở Quảng Nam, rộng hơn 16.000 ha. Hai khu bảo tồn này kết nối với nhau và kết nối với Vườn Quốc gia Bạch Mã cùng Khu Bảo tồn Quốc gia Xê Sáp của Lào, tạo thành một hành lang bảo tồn liên tục và thống nhất. Ước tính có khoảng 50-60 con sao la trong khu bảo tồn của Việt Nam.

Sao la đang bị săn bắt bằng bẫy thú mà chính quyền địa phương trong vùng phân bố ở Việt Nam và Lào không thể kiểm soát hết. Trong giai đoạn 2014-2019, hơn 60.000 bẫy trong Khu Bảo tồn Sao la Thừa Thiên–Huế được tháo dỡ. Loài sinh vật bí ẩn này rất khó để bắt gặp, các nhà khoa học chỉ ghi nhận thấy 4 lần gặp được chúng ngoài hoang dã. Một ít trường hợp nuôi nhốt không thành công: cho dù được cung cấp nhiều loại lá khác nhau, con vật vẫn chết. Vì thế, sao la có nguy cơ tuyệt chủng cao. Thậm chí theo PV/Báo Tin tức (2020), được xem là đã biến mất hoàn toàn hoặc không còn khả năng phục hồi ngoài thiên nhiên ở Việt Nam.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục I; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN; IUCN 2015 hạng CR.

sóc bay Côn Đảo – gray-cheeked flying squirrel (Hylopetes lepidus)

Các tên khoa học đồng nghĩa: Hylopetes sagitta, Pteromys lepidus, Sciurus sagitta, Sciuropterus spadiceus. Thuộc Họ Sóc bay (Pteromyidae) gồm hơn 50 loài.

soc bayKhác với tên gọi, các loài sóc bay không thật sự bay như chim và dơi, mà lượn. Một nét đặc trưng của các loài sóc bay là màng da phủ lông kéo dài từ đầu đến chi trước ra chi. Nhờ đó chúng có thể di chuyển từ cây này sang cây khác bằng cách thả mình từ trên cao xuống và dùng màng da như một cánh dù lượn để lượn từ cây này sang cây khác theo khoảng cách đến hàng trăm mét. Cũng do nét đặc trưng đó mà các loài sóc bay bị săn bắn cật lực ở Việt Nam để bán làm thú cảnh.

Tuổi thọ ngoài hoang dã chỉ khoảng 6 năm bởi vì sóc là con mồi của nhiều loài thú ăn thịt.

Trong khi IUCN không đánh giá các loài sóc bay bị nguy cấp trầm trọng, Sách Đỏ Việt Nam 2007 xếp chúng vào hạng từ VU đến CR.

Sóc bay Côn Đảo có cỡ nhỏ: thân dài 18-20 cm. Lông ở lưng và đầu màu vàng cam sáng, gốc lông màu đen. Lông phía trên màng lượn màu đen. Má và gốc đuôi màu đỏ da cam. Bụng trắng nhạt hay trắng kem. Chân có màu nâu hung da bò. Đuôi xù, màu lông sẫm.

_soc bay Con Dao

Sinh thái: sống trong rừng cây to trên núi cao , đặc biệt ưa thích sống ở rừng cây gỗ lớn. Làm tổ trong hốc cây to. Đẻ 1-3 con. Kiếm ăn vào ban đêm, ban ngày ngủ trong hốc cây. Chưa biết nhiều về thức ăn của sóc.

Tình trạng: chỉ tìm thấy vùng phân bố ở VQG Côn Đảo. Rất khó bắt gặp trong rừng Côn Đảo mà ngay cả nhiều người dân địa phương sống lâu đời ở đây cũng chưa gặp được.

Giá trị: loài ít số lượng, phân bố hẹp ở Việt Nam, nên có giá trị khoa học lớn.

Phân hạng bảo tồn: Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng VU; CITES không phân hạng.

sóc bay đen trắng – particolored flying squirrel (Hylopetes alboniger)

Thuộc Họ Sóc bay (Pteromyidae). Các tên khoa học đồng nghĩa: Sciurus sagitta, Pteromys lepidus, Sciuropterus spadiceus.

Trông tương tự như sóc bay nhỏ nhưng lớn hơn, tuy trong nhóm sóc bay vẫn là cỡ nhỏ. Thân dài 19-21 cm; đuôi dài 18-20 cm. Lông ở lưng gốc màu xám, đầu mút lông trắng nhạt; đôi khi đầu và lưng cho thấy màu đen. Má và bụng màu trắng nhạt hay trắng kem. Lông trên màng cánh màu nâu sẫm. Đuôi xù màu nâu sẫm hoặc đen. Mặt dưới đuôi có một đường trắng nhạt ở giữa.

_soc bay den trang

Sinh thái: thường sống ở rừng già, cả rừng hỗn giao trên núi cao, đặc biệt ưa thích sống ở rừng cây giẻ, sồi (Quercus). Làm tổ trong các hốc cây cao. Hoạt động về đêm, ngủ trong tổ ban ngày nhưng thỉnh thoảng cũng được trông thấy ban ngày. Đẻ 1-3 con. Tuy nhiên sự hiểu biết về sinh học của loài sóc này còn ít.

Tình trạng: hiện diện ở Lai Châu, Lạng Sơn, Thừa Thiên–Huế, Kontum, Gia Lai, Lâm Đồng. Những năm gần đây ghi nhận cả ở Cao Bằng (Pia Oắc), Lạng Sơn (Hữu Liên). Trước đây số lượng nhiều, ngày nay quần thể suy giảm ước tính 20%.

Giá trị: loài thú hiếm, kỳ lạ của rừng nhiệt đới. Có ý nghĩa khoa học, du lịch. Giữ được nguồn gen, nhân giống sẽ có giá trị xuất khẩu.

Phân hạng bảo tồn: CITES không phân hạng; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng VU; IUCN 2016 hạng LC.

sóc bay lông tai – hairy-footed flying squirrel (Belomys pearsonii)

Thuộc Họ Sóc bay (Pteromyidae). Các tên khoa học đồng nghĩa: Sciuropteus pearsoni, Belomys trichitis, Belomys blandus osgood.

Thân dài 22 cm; đuôi dài 13 cm. Đặc điểm: chân phủ lông dài, thậm chí phủ cả móng để bảo vệ chống cái lạnh miền cao. Lưng màu nâu pha xám, lông thân trên giống như ‘highlight’ đen, bụng màu trắng. Sau gốc tai có túm lông dài đen xám. Trên màng da lượn và mặt ngoài các chi màu nâu hung chuyển sang xám đen. Mặt dưới màng da lượn và mặt trong chi màu nâu gỉ sắt nhạt. Đuôi xù, mút đuôi có túm lông nâu hung.

_soc bay long tai

Sinh thái: sống trong rừng nhiệt đới cây to có độ che phủ lớn ở núi đá hoặc núi đất ít người qua lại. Hoạt động kiếm ăn về đêm. Ngày mưa đôi khi gặp kiếm ăn ban ngày trên cây cao trong rừng vắng người. Thức ăn chủ yếu là quả cây rừng và ít chồi lá. Chưa biết về sinh sản.

Tình trạng: trước đây hiện diện ở Hà Giang, Lai Châu, Hoà Bình, Lào Cai, Yên Bái, Lạng Sơn, Thanh Hoá, Nghệ An, Kontum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Đồng Nai, Côn Đảo, Phú Quốc. Trước đây có số lượng không nhiều. Hiện nay do rừng nhiệt đới cây to bị suy giảm do bị chặt phá làm mất nơi sinh sống, số lượng có thể giảm trên 20%.

Giá trị: Loài thú kỳ lạ, hiếm của rừng nhiệt đới, được thế giới quan tâm bảo vệ. Có giá trị nghiên cứu khoa học và thẩm mỹ.

Phân hạng bảo tồn: CITES không phân hạng; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng CR; IUCN 2015 hạng DD.

sóc bay nhỏ – Indochinese flying squirrel (Hylopetes phayrei)

Còn được gọi là sóc bay Đông Dương, sóc bay Phayre, thuộc Họ Sóc bay (Pteromyidae). Các tên khoa học đồng nghĩa: Sciuropterrus phayrei, Sciuropterus phayrei.

Sau tai hơi trắng. Đầu và lưng có màu từ xám đến nâu tùy thuộc vào đầu mút lông trắng nhạt hay nâu. Bụng trắng nhạt hoặc xám nhạt hoặc nâu xám. Mặt dưới đuôi bẹt, mặt trên hơi bẹt. Đuôi xám đậm hoặc nâu xám hoặc pha trộn với màu hơi nâu ở gốc và dọc hai bên đuôi.

_soc bay nho

Sinh thái: sống trong rừng già, cây to trên núi cao dưới 1000 m ít người qua lại. Làm tổ trong bọng cây to. Ban ngày nằm trong tổ, ban đêm đi kiếm ăn. Còn ít biết về sinh học.

Tình trạng: Phân bố ở Sơn La, Hoà Bình, Kontum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng. Do rừng già, cây to bị thu hẹp vì chặt phá rừng, hiện nay, nơi cư trú và số lượng đều suy giảm.

Giá trị: loài thú hiếm gặp, kỳ lạ của rừng nhiệt đới, được thế giới chú ý bảo vệ. Nếu nuôi nhân giống có thể xuất khẩu.

Phân hạng bảo tồn: Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng VU; IUCN 2016 hạng LC.

sóc bay sao – spotted giant flying squirrel (Petaurista elegans)

Thuộc Họ Sóc bay (Pteromyidae). Tên khoa học đồng nghĩa: Petaurista caniceps, Pteromys elegans, Sciuropterus caniceps, Petaurista marica.

Cỡ trung bình: thân dài đến 36 cm, đuôi dài đến 36 cm, cân nặng đến 1 kg. Tai màu nâu sẫm, phần dưới tai màu hung đen. Đầu và lưng màu nâu hay nâu, hung đỏ, với những vết đốm trắng rải rác hoặc nhỏ hoặc lớn, hoặc ít hoặc nhiều. Màng cánh da có lông nâu vàng trên nền đen, nền có màu lốm đốm hay vằn. Ở dưới màng da có những vết màu trắng nhỏ không đều rải rác.

_soc bay sao

Sinh thái: rừng mưa nhiệt đới, rừng thông có cây to ở độ cao trên 500 m; hiếm khi ở bình nguyên. Ăn quả cây rừng. Làm tổ trong bọng cây và hốc đá. Đẻ 1-2 con trước mùa mưa.

Tình trạng: phân bố ở Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, Kontum, Lâm Đồng. Số lượng suy giảm liên tục do diện tích rừng bị thu hẹp, hiện nay rất khó gặp.

Giá trị: loài hiếm ở Việt Nam, có ý nghĩa khoa học. Màu sắc đẹp, được nhiều người ưa thích.

Phân hạng bảo tồn: CITES 2019 không phân hạng; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN; IUCN 2016 hạng LC.

sóc bay trâu – red giant flying squirrel (Petaurista petaurista)

Thuộc Họ Sóc bay (Pteromyidae). Tên khoa học đồng nghĩa: Sciurus petaurista, Pteromys philippensis, Pteromys yunanensis.

Có cỡ lớn nhất trong các loài sóc bay: thân dài đến 52 cm, đuôi dài đến 60 cm, cân nặng đến 9 kg. Màng da hai bên sườn nối liền cổ, chi trước, chi sau và gốc đuôi. Bộ lông dầy, mềm. Lông ở đầu, lưng, đuôi và mặt trên của màng da có gốc xám thẫm, một phần ba phần đầu mút lông nâu hung tạo nên nền của lưng có màu nâu hung, đầu mút lông phớt trắng làm cho lưng có màu nâu hung lốm đốm trắng. Mặt có nhiều đốm trắng. Cằm xám đến nâu sáng. Bụng, mắt dưới màng da nâu hung nhạt. Bàn chân màu đen. Đuôi tròn, xù và dài hơn dài thân.

_soc bay trau

Sinh thái: sống trong rừng già nhiều cây gỗ lớn và có quả trên núi đá, núi đất. Làm tổ trong các bọng cây to, cao giữa tán lá cành rậm rạp. Sống đơn độc, chỉ ghép đôi vào mùa động dục. Tuy vậy, có thể gặp 3-4 con cùng ăn trên một cây. Hoạt động kiếm ăn ban đêm, di chuyển chậm dọc theo các cành cây; có thể dương màng da b

Ăn quả, hạt (dẻ rừng, sấu, sung, vả, si, đa, trám trắng, trám đen), chồi non, lá cây non. Đẻ mỗi năm hai lứa, mỗi lứa 1-4 con. Con non được nuôi trong tổ cho đến khi sống tự lập.

Giá trị: Thú quý, kỳ lạ, có ý nghĩa khoa học. Bộ lông đẹp có thể nuôi nhân giống, xuất khẩu.

Tình trạng: trước năm 1990 khá phổ biến trong các rừng nguyên sinh từ Bắc vào Nam. Hiện nay, rừng nguyên sinh bị mất nhiều, chất lượng sinh cảnh của sóc bị giảm sút, số lượng sóc giảm sút trên 20% trên 10 năm qua và có xu hướng giảm nữa.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IIB; CITES 2019 không phân hạng; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng VU; IUCN 2016 hạng LC.

sóc đen – black giant squirrel (Ratufa bicolor)

Thuộc Họ Sóc (Sciuridae) bao gồm các loài gặm nhấm cỡ nhỏ hoặc trung bình, thân hình mảnh dẻ với đuôi rậm rạp và mắt to. Bộ lông của chúng nói chung mềm và mượt. Màu lông của chúng biến động khá mạnh giữa các loài và thậm chí là ngay trong phạm vi loài. Chân sau dài hơn chân trước, mỗi chân có 4 hay 5 ngón. Các chân cũng có gan bàn chân mềm ở mặt dưới.

Chúng chủ yếu ăn thực vật, với thức ăn là hạt và quả, nhưng nhiều loài ăn cả côn trùng và thậm chí là các loài có xương sống nhỏ. Một số loài nhiệt đới gần như chỉ ăn côn trùng. Bộ răng có kiểu điển hình của động vật gặm nhấm, với các răng cửa lớn có tác dụng gặm nhấm và phát triển ra suốt đời.

Họ Sóc sinh sản 1-2 lần mỗi năm. Con non sinh ra trần trụi, không răng, mù và yếu ớt. Ở phần lớn các loài, chỉ có con mẹ chăm sóc con non. Chúng được cho bú tới khoảng 6-10 tuần tuổi và thuần thục sinh lý vào cuối năm đầu tiên. Các loài sinh sống trên mặt đất nói chung có tính cộng đồng, thường sinh sống thành bầy, nhưng các loài sống trên cây thì phần lớn đơn độc.

Sóc đen là một trong những loài sóc lớn nhất thế giới: thân dài 40 cm; đuôi có thể dài đến 60 cm; nặng đến 1,6 kg. Lưng, tai và đuôi xù có màu nâu đậm đến đen; má, ngực, phía trước chân có màu kem hoặc nâu, bụng màu nâu sáng.

_soc den

Sinh thái: sống ở rừng nguyên sinh có cây to, thường hoạt động đơn độc trên tán cây cao, hiếm khi xuống mặt đất để kiếm ăn thêm. Xây tổ lớn hình cầu bằng lá và cành cây. Rất nhút nhát. Ăn chủ yếu quả, hạt và lá non, phụ thêm côn trùng và đôi khi trứng chim.

Sóc đen được nuôi làm cảnh, vì thế tạo ra thị trường cho việc săn bắt và mua bán.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IIB; CITES 2019 Phụ lục II; IUCN 2016 hạng NT.

sói đỏ, chó sói lửa – dhole (Cuon alpinus)

Còn được gọi là chó sói đỏ, sói lửa, chó hoang Châu Á, chó hoang Ấn Độ. Các tên khoa học đồng nghĩa: Canis alpinus, Canis javanicus, Canis rutilans. Còn được gọi là sói lửa, chó hoang Châu Á, chó hoang Ấn Độ – Asian wild dog, Asiatic wild dog, Indian wild dog, whistling dog, red dog, mountain wolf, thuộc Họ Chó (Canidae), thành viên duy nhất của Chi Cuon.

Sói đỏ là loài thú ăn thịt cỡ trung: thân dài 89-91 cm, đuôi dài hơn 30-32 cm, cân nặng từ 10-25 kg, trong đó con đực nặng hơn con cái khoảng 4,5kg; dân cư ở vùng Tây-Bắc cho biết một số sói lửa nặng trên dưới 30 kg. Bộ lông rất dày màu hung đỏ, bụng màu sáng nhợt, chân và đuôi chuyển sang nâu đen hoặc đen. Mõm ngắn màu đen, tai tròn vểnh; gốc đôi thắt nhỏ, xù ở phần cuối. Răng không thực sự nhọn lắm, nhưng hai hàm có lực cắn rất mạnh, có thể xé đứt cả da trâu, da bò.

_soi do

Sinh thái: thích ứng với những môi trường đa dạng: rừng nguyên sinh, thứ sinh, thoái hóa, thường xanh và bán thường xanh, rừng cây gai khô, cũng như thảm rừng-trảng cây bụi, từ thảo nguyên thoáng đãng đến miền đồi núi, từ vùng lạnh ôn đới tới vùng nóng nhiệt đới, ngoại trừ hoang mạc.

Thời gian mang thai khoảng 9 tuần, mỗi lần đẻ 5-10 con. Sống trong bầy đàn rất có tổ chức, nếu có con sói nào bị thương, cả đàn cùng mang thức ăn đến chia sẻ. Khi sói mẹ chết thì những con khác sẽ chăm sóc con non của nó.

Thường hoạt động tích cực vào lúc sáng sớm và chiều tối, có khi cả ban ngày. Thức ăn là động vật lơn như nai, hươu, hoẵng, lợn rừng, đôi khi chim lớn. Nhiều khi vào các bản làng tấn công cả trâu, bò, lợn, dê, ngựa. Tuy vậy thịt người không phải là món ưa thích của loài này.

Sói lửa sống từng đôi hoặc đàn 5-7 con, khi săn mồi có thể nhập đàn thành một bầy 10-20 con, thậm chí 50 con. Một con sói đỏ có thể vô hại, nhưng cả một đàn sói đỏ lại là mối đe dọa với nhiều loài thú lớn như lợn rừng, bò tót… Khi đã khép vòng vây là chúng cật lực tấn công con mồi. Đối mặt với con mồi lớn như trâu, bò thì từng con sói luân phiên xông tới đớp thịt ở mông, đùi khiến con mồi mỗi lần bị mất một mảng thịt cho đến khi kiệt sức. Chó sói chỉ ăn thịt mông, thịt đùi và bộ lòng đối với con trâu bò lớn, nhưng bê con thì chúng nhai hết cả xương.

Ở một số vùng có sự phân bố chồng lấn giữa sói lửa với hổ và báo, có những cuộc chiến giữa hai bên do sự cạnh tranh sinh tồn quyết liệt. Trong một số trường hợp hiếm gặp, sói lửa khi có đủ số đông sẽ tấn công một con hổ đơn độc. Khi phải đối mặt bởi đàn sói lửa quá đông, hổ sẽ tìm nơi ẩn náu, leo trên cây hoặc đứng quay lưng về phía một cây hay bụi cây để tránh những cú tập kích vào mông của sói lửa và cầm cự trong một thời gian dài trước khi chạy trốn. Thông thường những con hổ quay lưng chạy trốn có nguy cơ thiệt mạng cao hơn so với những con hổ cố thủ chống trả thì có cơ hội sống sót lớn hơn. Ngay cả khi một đàn sói lửa thành công trong việc giết hổ thì đàn sói cũng phải trả giá nặng nề với thiệt hại rất lớn cho cả đàn. Có trường hợp một đàn 30 con sói lửa bao vây và giết được một con hổ đực trưởng thành nhưng phải chịu tổn thất với 12 con bị chết trong trận chiến đó.

Do đó sói lửa thường gây hấn và tấn công báo hoa mai thay vì hổ do báo hoa mai nhỏ hơn hổ, nhưng một con báo hoa mai cũng có thể giết sói lửa đơn lẻ hoặc theo cặp.

Thỉnh thoảng, sói lửa còn tấn công cả gấu. Khi triển khai tấn công, sói lửa cố gắng ngăn chặn gấu trốn vào hang động rồi tập kích vào hai chân sau của gấu.

Vì lẽ sói đỏ thường về bản làng thi công gia súc, gây thiệt hại về kinh tế vô cùng lớn (có bản làng mỗi năm mất 20-40 trâu bò), cư dân thường tổ chức săn bắn, đặt bẫy nhằm giết sói đỏ càng nhiều càng tốt. Cộng thêm việc sinh cảnh bị thu hẹp và con mồi hoang dã ngày càng hiếm, sói đỏ đang bị đẩy đến bờ vực tuyệt chủng. Các nghiên cứu bằng bẫy ảnh hoặc quan sát trong rừng ở Việt Nam rất ít khi chụp được hoặc bắt gặp sói đỏ.

Tình trạng: từng hiện diện ở Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Gia Lai, Kon Tum, Dak Lak. Từ trước đến nay vẫn hiếm.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục I; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN; IUCN 2015 hạng EN.

Xem thêm: Công Luật (2013); Sách đỏ Việt Nam (2020).

sơn dương – Chinese serow (Naemorhedus milneedwardsii)

Còn được gọi là sơn dương lục địa, thuộc Họ Trâu bò (Bovidae), tên khoa học đồng nghĩa: Capricornis milneedwardsii.

Thân dài 140-155 cm, đuôi dài 11-16 cm, nặng 50-65 kg. Bộ lông đen hoặc xám sậm, thường xù lên. Có bờm lông cao từ đỉnh đầu tới vai. Cằm, dưới mõm và ngực có các đám trắng. Bốn chân màu nâu sậm. Hai sừng đen, tròn, dài 15-26 cm, hướng về phía sau.

_son duong

Sinh thái: sống ở vùng rừng núi đá, chủ yếu là những vùng núi đá vôi có độ cao 50-2000 m.

Theo Lâm Viên (2015), có trường hợp sơn dương đực về thôn làng giao phối với dê nhà ở Ninh Thuận. Con lai có màu đen với những mảng xám hoặc nâu, lông dài và dầy, bờm rậm và xù lên, có tập tính đào hang để ngủ. Theo Khắc Dũng (2015), một trường hợp tương tự xảy ra ở Lâm Đồng. Con lai mang sắc thái sơn dương: bờm lông cao và dài, lông rất dài mọc từ dưới mõm kéo xuống tận hai chân trước; lông mình cũng dài hơn dê bình thường rất nhiều; đặc biệt, sừng của nó cong và tròn, vuốt về phía sau, gốc sừng có ngấn tròn (gốc sừng dê nhà thường có hình vuông).

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục I; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN; IUCN 2020 hạng VU.

tê tê Java – Sunda pangolin (Manis javanica)

Thuộc Họ Tê tê (Manidae), gồm 8 loài tê tê, còn được gọi là trút hoặc xuyên sơn. Vả 8 loài tê tê trên thế giới đều được chuyển lên Phụ lục I của Công ước CITES. Việt Nam có 2 loài tê tê: tê tê Java và tê tê vàng.

Thân các loài tê tê có lớp vảy lớn, cứng và dầy bằng keratin, xếp lên nhau như vảy cả nhằm bảo vệ con vật; tê tê là động vật có vú duy nhất có đặc điểm này. Chúng sống trong những hốc cây rỗng hoặc hang, tùy theo loài ở các miền nhiệt đới Châu Á và Châu Phi. Tê tê là loài sống về đêm, bơi giỏi, ăn chủ yếu kiến ​​và mối chúng bắt được nhờ cái lưỡi dài phủ chất nhầy dính. Vào ban ngày, chúng cuộn tròn thành quả bóng để ngủ. Chúng thường sống đơn độc, chỉ gặp nhau để giao phối và sinh ra một lứa 1-3 con mà chúng nuôi trong khoảng hai năm. Vài tuần sau khi ra đời, con con leo lên đuôi mẹ bám chặt và được “đèo” đi mọi nơi.

Khi bị đánh động, con vật cuộn thân mình lại thành một quả cầu tròn khiến ngay cả hổ, báo không thể làm hại. Tập tính này khiến cho một thợ săn ở Thái Lan bỏ mạng: anh đập một con tê tê trong rừng, tưởng nó đã chết nên quàng nó trên cổ bởi vì con vật khá nặng. Khi con vật tỉnh lại, theo bản năng nó cuộn thân mình lại, vô tình siết cổ anh thợ săn. Lực siết quá mạnh đến nỗi anh không thể lấy tay gỡ con vật ra, đành để nó siết cổ ngạt thở đến chết.

Do thị trường đòi hỏi nhiều, các loài tê tê nói chung bị săn bắt ráo riết và mua bán, vận chuyển bất hợp pháp xuyên quốc gia với số lượng lớn cá thể sống, cá thể đông lạnh và vảy. Tê tê là động vật có vú bị buôn bán nhiều nhất trên toàn thế giới. Việt Nam là một nước trung chuyển tê tê lớn. Mỗi năm, hàng chục tấn tê tê bị tuồn vào Việt Nam trước khi xuất sang Trung Quốc. Trong năm 2019, ghi nhận gần 17 tấn tê tê đông lạnh và vảy tê tê bị bắt giữ tại cảng Hải Phòng.

Tại Trung Quốc thịt tê tê được coi là cao lương bổ ích trong đông y, giúp điều hòa lưu huyết và tăng lượng sữa cho sản phụ nên bán rất được giá. Bào thai tê tê được cho là có công dụng tráng dương. Vảy phơi khô của tê tê vàng được gọi là xuyên sơn giáp (squama manidis). Theo y học dân gian, xuyên sơn giáp được cho là có công dụng trị các chứng tắc tia sữa, tràng nhạc vỡ loét, mụn nhọt, hen suyễn, ung thư. Thậm chí dùng để trị tà ma, người Trung Quốc rất tin điều này. Vảy tê tê có thể có giá hơn 3000 USD/kg trên thị trường chợ đen.

Từ thập niên 80s–90s, tê tê còn được bán sang Mỹ và Mexico nhằm phục vụ cho ngành da giày bởi vì da của tê tê rất mềm và bền.

Theo Bộ Luật Hình sự mới, từ 1/7/2016, hành vi buôn bán, săn bắt tê tê sẽ bị phạt tù lên tới 15 năm. Tuy vậy, có vẻ như mua bán, vận chuyển tê tê vẫn nhộn nhịp, ví dụ như một số vụ án lớn gần đây:

  • Tháng 10/2019: tổng cộng 10 năm 6 tháng tù cho 2 người vận chuyển 7 cá thể tê tê Java đi tiêu thụ, Nghệ An.
  • Tháng 11/2019: 13 năm tù vì nuôi nhốt, tàng trữ trái phép 145 cá thể tê tê, Quảng Ninh
  • Tháng 1/2020: buôn bán hơn 600 kg tê tê, 12 bị cáo nhận 453 tháng tù, Hà Tĩnh.
  • Tháng 2/2020: bị phạt hơn 300 triệu đồng vì mang một cá thể tê tê bắt được đi bán, Đắk Nông.
  • Tháng 5/2020: tổng cộng 37 năm tù giam và phạt 150 triệu đồng đối với 4 người vận chuyển 114 cá thể tê tê Java và hơn 300 kg vảy tê tê Java trong đường dây xuyên quốc gia, Cà Mau.

Tóm lại, thị trường chợ đen vẫn tồn tại và nhộn nhịp với số lượng giao dịch lớn. Nếu căn cứ trên ước đoán mỗi năm có khoảng 10.000 con tê tê bị săn giết và bán qua các ngả đến hai thị trường chính là Trung Quốc và Việt Nam, thì con số thật có lẽ cao gấp 5 đến 10 lần. Một ký tê tê người thợ săn có thể bán giá 22 USD, nhưng một tiệm ăn ở Việt Nam có thể bán một ký tê tê với giá 350 USD. Con tê tê 5 ký nấu lên dọn trên dĩa bán giá hơn 1500 USD.

Tê tê cực kỳ khó nuôi và sinh sản chậm. Hiện nay trên thế giới chưa có bất kỳ nơi nào nuôi tê tê sinh sản thành công vì mục đích kinh tế. Vì thế, tê tê hoang dã vẫn tiếp tục chịu sức ép rất lớn, càng ngày số lượng càng suy giảm trầm trọng.

Vườn Quốc gia Cúc Phương và Vườn quốc gia Pù Mát tiếp nhận tê tê được giải cứu, nuôi chúng bằng kiến, đậu nành và nhộng tằm, rồi thả trở lại hoang dã.

Tê tê Java có thân dài 42-55 cm, đuôi dài 34-47 cm, nặng 5-7 kg. Móng chân trước dài gấp 1,5 móng chân sau, viền đuôi có nhiều hơn 20 vảy, vành tai gần như không có, chỉ có gờ nổi; lòng bàn chân trước có da trơn; tỷ lệ phần đuôi dài hơn; và vảy bọc sống mũi xuống gần sát lỗ mũi.

_te te Java

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục I; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN; IUCN 2019 hạng CR.

Xem thêm: Cota-Larson (2017); Ngọc Khải (2015); PV/Báo Tin tức (2020); Sutter (no date); Wikipedia_Nạn buôn bán tê tê.

tê tê vàng – Chinese pangolin (Manis pentadactyla)

Thuộc Họ Tê tê (Manidae).

Khác tê tê Java ở những điểm sau đây: Móng chân trước dài gấp 2 móng chân sau, viền đuôi có 20 vảy hoặc ít hơn, tai có vành thịt rõ ràng; lòng bàn chân trước không có da trơn; phần đuôi tương đối ngắn hơn; và vảy không che sống mũi.

Thân dài 37-48 cm, đuôi dài 24-34 cm, nặng 2-5 kg. Miệng không có răng; lưỡi dài (đến 33 cm, dài hơn thân). Dạ dày có màng sừng như mề gà.

_te te vang

Sinh thái: sống ở rừng nguyên sinh và thứ sinh nhiệt đới, rừng đá vôi, rừng trẻ, đồng cỏ và thậm chí khu trồng trọt. Mắt nhìn rất kém, chủ yếu dựa vào khướu giác để tìm mồi. Ăn kiến, mối, dế, các loại ấu trùng… Thường mỗi lứa sinh chỉ một con, thỉnh thoảng mới có hai.

Có thể sống 20 năm. Loài tê tê vàng không còn ghi nhận được bằng bẫy ảnh trong vòng 20 năm trở lại đây, và hiện có duy nhất 7 con trong trung tâm cứu hộ (PV/Báo Tin tức, 2020).

Tình trạng: từng phân bố ở Bắc Bộ, bắc Trung Bộ xuống Cao nguyên Lâm Viên.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục I; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN; IUCN 2019 hạng CR.

Xem thêm: Cota-Larson (2017) ); Ngọc Khải (2015); PV/Báo Tin tức (2020); Sutter (no date); Wikipedia_Nạn buôn bán tê tê.

thỏ vằn – Annamite striped rabbit (Nesolagus timminsi)

Thuộc Họ Thỏ (Leporidae) gồm hơn 60 loài thỏ và thỏ đồng. Tên phổ biến “thỏ” thường được áp dụng cho tất cả các chi trong họ này ngoại trừ Chi Lepus, vì các thành viên của Chi Lepus (gần một nửa số loài) thường được gọi là thỏ đồng. Tuy nhiên, giống như hầu hết các tên phổ biến, sự khác biệt về tên gọi không hoàn toàn khớp với phân loại hiện nay. Trong tiếng Việt, mọi loài trong họ này đều được gọi là “thỏ”, nhưng trong tiếng Anh, các loài Chi Lepus được gọi là “hare” (thỏ đồng hay thỏ rừng), còn danh từ “rabbit” chỉ các loài trong các chi còn lại.

Họ Thỏ gồm những loài thú cỡ nhỏ và vừa, chuyển động mau lẹ. Chúng có chân sau dài, với bốn ngón trên mỗi bàn chân, cặp chân trước ngắn hơn, mỗi bàn có năm ngón. Lòng bàn chân phủ lông, giúp chống trơn trượt khi chạy, ngón chân có vuốt. Thỏ có tai dài đặc trưng, nhúc nhích được, và có thính giác tinh nhạy. Mắt to, tầm nhìn đêm tốt, cho thấy chúng có lối sống về đêm hay chiều tối.

Hầu hết loài thỏ chỉ ăn thực vật, chủ yếu ăn cỏ và cây thảo, với đủ loại lá, trái, hạt thêm vào. Thỏ là thú ăn phân: chúng đưa thức ăn qua đường tiêu hoá hai lần, lần một thải ra phân xanh mềm, tái tiêu hoá nó rồi thải ra phân cục đen, cứng.

Loài thỏ vằn được mô tả lần đầu tiên cho khoa học năm 2000. Tên khoa học được đặt theo tên ông Robert J. Timmins, người đầu tiên tìm ra thỏ vằn ở Lào.

Bộ lông có màu nâu với những vằn đen lớn chạy dọc theo thân.

_tho van

Năm 2015, nhà nghiên cứu Sarah Woodfin thuộc Đại học East Anglia, Anh quốc, bắt được một cá thể thỏ vằn. Trước kia, nhóm các nhà nghiên cứu từ Đại học này lần đầu tiên ghi chép được dữ liệu về loài thỏ này là từ hồi 1999. Loài thỏ vằn kể từ đó tới nay rất hiếm khi được nhìn thấy; người ta chỉ thu được các ảnh do camera gài lại trong rừng chụp được. (Segedin, 2015)

Hoạt động đơn lẻ về dêm. Ngoài ra, người ta biết rất ít về loài thỏ hay lẩn tránh này.

Phân bố ở Phong Nha–Kẻ Bàng. Ước lượng chỉ còn có khoảng 100-200 cá thể, đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng do việc đánh bẫy.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN; IUCN 2018 hạng EN.

triết chỉ lưng – stripe-backed weasel (Mustela strigidorsa)

Còn được gọi là triết sọc – back-striped weasel

Đặc điểm phân biệt: một sọc màu bạc chạy từ chỏm đầu đến gần gốc đuôi và một sọc màu vàng từ ngực đến cuối bụng. Thân dài 30–36 cm, đuôi dài 18–20 cm. Thân trên có màu từ nâu café sữa đến nâu sậm pha tím; họng và bụng màu kem; chân và đuôi nâu thẫm.

_triet chi lung

Sinh thái: phân bố trong những sinh cảnh khác nhau từ vùng thấp đến độ cao 2500 m: rừng thường xanh, rừng thứ sinh, cây bụi, bìa rừng, bờ sông, bờ hồ, ao. Làm tổ trong các gốc cây, khe đá giáp mặt đất. Hoạt động trên mặt đất nơi có nhiều cây đổ, cây bụi và khe đá. Có tính thích nghi với môi trường sống bị suy thoái, nhưng vẫn bị đe dọa bởi bẫy thú.

Thức ăn gồm gặm nhấm nhỏ, chim nhỏ, rắn, ếch nhái, thằn lằn.

Tình trạng: phân bố ở Yên Bái (Lục Yên), Bắc Thái. Có thể chỉ phân bố ở các tỉnh phía Bắc. Hiếm, từ trước đến nay ít gặp.

Giá trị: tiêu diệt chuột, có thể thuần dưỡng nuôI để bắt chuột trong nhà. Là đối tượng nghiên cứu khoa học và thẩm mỹ.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IIB; CITES 2019 Phụ lục I; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng CR; IUCN 2015 hạng LC, số lượng ổn định.

voi – Asian elephant (Elephas maximus)

Còn được gọi là voi Châu Á, thuộc Họ Voi (Elephantidae), gồm những động vật có vú lớn trên cạn, ăn thực vật, được gọi chung là voi và voi ma mút. Chúng có mõm biến đổi thành vòi, và răng biến đổi thành ngà. Hầu hết các chi và loài trong Họ này đều tuyệt chủng. Chỉ có hai chi, Loxodonta (voi Châu Phi) và Elephas (voi Châu Á), là còn sinh tồn.

Voi Châu Á có chiều cao từ 2-4 mét và cân nặng 3000–5.000 kg. Cách dễ nhất để phân biệt với voi Châu Phi là tai voi Châu Á nhỏ hơn.

Voi Châu Á cũng khác voi Châu Phi ở chỗ lưng còng hơn, đầu có khối u chứ không thuôn như voi Châu Phi, chỉ có một “ngón tay” ở đầu vòi có thể cầm nắm được thay vì hai “ngón” đối với voi Châu Phi. Ở dưới chân voi Châu Á có bốn móng ở chân sau thay vì ba móng, 19 cặp xương sườn thay vì 21 cặp ở voi Châu Phi. Ngoài ra, không giống như voi Châu Phi, voi cái Châu Á không có ngà.

_voi

Xung đột đang ngày một gia tăng giữa voi và người. Nguyên nhân cơ bản là do sinh cảnh của voi bị thu hẹp và suy thoái, không cung cấp đủ nguồn thức ăn, nước uống và nhu cầu hoạt động di chuyển của voi. Do đó voi xâm nhập nương rẫy, cánh đồng gây thiệt hại lớn về vật chất cho một số hộ dân, dẫn đến tình trạng đối kháng sâu sắc giữa người và voi. Người dân sử dụng những biện pháp xua đuổi rất nguy hiểm đối với voi như: ném bình gas nhỏ vào voi cho nổ, ném lửa vào voi, soi đèn pha… hay dùng hóa chất có hại (kể cả thuốc bã chuột) rải xung quanh vườn, rẫy. Ngoài ra, trong quá trình canh tác nông nghiệp, người dân dùng nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật khác nhau có hại cho voi. Họ cũng đào giếng, xây bể lấy tưới nước cây, đào hào dẫn nước ở rẫy… mà không có biện pháp phòng ngừa động vật sa xuống nên cũng là nguy cơ gây hại cho voi, nhất là voi con.

Tình trạng: số lượng cá thể và cơ cấu đàn tốt nhất còn ở ba tỉnh Nghệ An, Đắk Lắk, và Đồng Nai – nhưng không nhiều.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục I; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng CR; IUCN 2008 hạng EN.

voọc bạc Đông Dương – Indochinese silvered langur (Trachypithecus germaini)

Thuộc Họ Khỉ Cựu Thế giới (Cercopithecidae), gồm 138 loài đa dạng về đặc điểm khuôn mặt: một số có mõm, một số mũi tẹt; nhiều loài có dải màu trên mặt. Hầu hết có đuôi, nhưng chúng không dùng để cầm nắm. Chúng sống ở nhiều môi trường khác nhau: từ rừng mưa nhiệt đới, xavan, rừng cây bụi đến môi trường núi cao. Hầu hết ăn tạp, song đều ưa thức ăn thực vật hơn. Đa số kiếm ăn theo cơ hội, thích ăn trái cây, nhưng ăn tất những thực phẩm có sẵn (hoa, lá, củ, côn trùng, ốc sên, động vật có vú nhỏ và cả thức ăn mà con người cho chúng).

Có nhiều lộn xộn về việc xếp loài và xếp phân loài, dẫn đến lộn xộn trong mô tả. Theo công bố của giới khoa học chuyên về linh trưởng trong thời gian gần đây (~2013-2015), tại Việt Nam có 8 loài voọc thuộc chi Trachypithecus như sau (Wikipedia_Voọc bạc Đông Dương):

  1. voọc bạc Đông Dương – Trachypithecus germaini: một số tác giả xem là đồng nghĩa với T. margarita nên có cùng tên gọi voọc bạc. Đánh giá của IUCN hiện nay vẫn gộp chung 2 loài này.
  2. voọc bạc Trường Sơn – Trachypithecus margarita: một số tác giả xem là đồng nghĩa với T. germaini nên có cùng tên gọi voọc bạc. Đánh giá của IUCN hiện nay vẫn gộp chung 2 loài này.
  3. voọc Cát Bà – Trachypithecus poliocephalus.
  4. voọc đen má trắng – Trachypithecus francoisi.
  5. voọc đen tuyền – Trachypithecus ebenus: trước đây được coi là phân loài của voọc Java (T. auratus).
  6. voọc đen Hà Tĩnh – Trachypithecus hatinhensis.
  7. voọc mông trắng – Trachypithecus delacouri.
  8. voọc xám – Trachypithecus crepusculus: trước đây được coi là phân loài của T. phayrei hoặc đồng nhất với T. barbei, nhưng một số nghiên cứu gần đây cho thấy nó không có quan hệ họ hàng gì với T. phayrei/T. obscurus mà gần với T. francoisi hơn.

Các loài voọc bị khai thác dưới nhiều hình thức: nuôi làm cảnh, hạ thịt, ép khô và xương để nấu cao, nhồi bông để trang trí.

Voọc bạc Đông Dương hay còn gọi đơn giản là voọc bạc hay voọc mào – Germain’s langur, silvery lutung, silvered leaf monkey, silvered langur, silvered monkey – có các tên khoa học đồng nghĩa khác là Trachypithecus cristatusTrachypithecus villosus, Trachypithecus koratensis, Trachypithecus mandibularis.

Thân hình thon nhỏ, thân dài 49-57 cm, đuôi dài 72-84 cm, cân nặng 5-7 kg. Phần trên cơ thể màu xám-trắng dần chuyển qua xám sậm ở phần dưới cơ thể. Lông ở đỉnh đầu màu tối xám, đứng dựng lên tạo thành chóp mào. Vùng da trên mặt hoàn toàn màu đen. Con non mới sinh có màu cam sáng, đến 3-4 tháng tuổi dần chuyển sang màu con trưởng thành.

_vooc bac Dong Duong

Sinh thái: sống ở cao độ thấp của rừng nguyên sinh và thứ sinh, thường xanh và bán thường xanh, rừng hỗn giao lá rụng, bìa rừng dọc theo các con sông, rừng nhiệt đới, rừng cây bụi. Hiếm khi gặp trên núi đồi. Không có tính xã hội cao tuy có thể gặp đàn 10 đến 40 cá thể. Hoạt động chủ yếu vào ban ngày. Leo trèo rất giỏi và sống ở trên cây cao, đôi khi cũng gặp ở rừng sình lầy. Di chuyển bằng cách nhảy từ ngọn cây này sang ngọn cây kia, sức bật của chúng rất xa, có thể nhảy xa trong khoảng cách 5 m. Chúng là loài giữ im lặng nhất trong số các loài voọc. Lại thêm màu lông xám khiến khó quan sát, nhưng nhờ màu lông con non nổi bật nên ta có thể nhận ra cá thể mẹ.

Thức ăn chủ yếu gồm có lá và chồi non, phụ thêm quả, hoa và côn trùng; không ăn động vật. Tuổi thọ 20-29 năm.

Giá trị: có giá trị khoa học cao, là đối tượng nghiên cứu khoa học, nuôi làm vật thí nghiệm nghiên cứu vaccine phục vụ đời sống con người.

Tình trạng: từng được ghi nhận ở Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, Phú Yên, Nha Trang, Lâm Đồng, Đồng Nai, Kiên Giang,Tây Ninh. Từ năm 1975 trở lại đây số lượng quần thể giảm mạnh. Nguyên nhân biến đổi có thể là: nơi cư trú bị xâm hại, rừng bị chặt phá, diện tích rừng bị thu hẹp, và đây là đối tượng săn bắt để nấu cao, buôn bán và xuất khẩu. Các vùng phân bố chính hiện nay là ở Đảo Phú Quốc và Kiên Lương (đều thuộc Kiên Giang), VQG Yok Dôn, VQG Cát Tiên, Khu BTTN Chư Mom Rây.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục II; ; Sách Đỏ Việt Nam hạng VU; IUCN 2015 hạng EN.

voọc bạc Trường Sơn – Annamese langur (Trachypithecus margarita)

Thuộc Họ Khỉ Cựu Thế giới (Cercopithecidae). Các tên khoa học đồng nghĩa:

Bộ lông có màu nhạt hơn voọc bạc Đông Dương với ngọn sợi lông trắng bạc, tuy ngoài hoang dã khó phân biệt hai loài này. Sự khác biệt khác là voọc bạc Trường Sơn không có chóp mào, mà lông trên đầu tạo nên hình dáng giống chiếc mũ, rất bù xù. Ngoài ra vùng da trên mặt loài voọc bạc Trường Sơn có màu đen nhạt vòng quanh mắt đôi khi giống màu da. (Hoang Minh Duc et al., 2012).

_vooc bac Truong Son

Tuy được mô tả lần đầu tiên cho khoa học vào năm 1909, nhưng cho đến nay người ta vẫn chưa hiểu biết nhiều về những đặc tính sinh thái của voọc bạc Trường Sơn. Quan sát quần thể ở Tà Cú, Bình Thuận, cho thấy thành phần thức ăn tương tự như những loài voọc khác: chủ yếu là lá cây, phụ thêm quả.

Tình trạng: phân bố ở VQG Bù Gia Mập (Bình Phước), Khu BTTN Tà Cú (Bình Thuận), VQG Cát Tiên.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; IUCN 2015 hạng EN (cùng chung với Trachypithecus germaini).

voọc Cát Bà, voọc đen đầu vàng – Cat Ba hooded black leaf monkey (Trachypithecus poliocephalus)

Còn được gọi là voọc đầu trắng Cát Bà, voọc đầu vàng – white-headed langur, golden-headed langur, Cat Ba langur, thuộc họ Khỉ Cựu Thế giới (Cercopithecidae).

Ghi chú: Một số tài liệu vẫn ghi là voọc đầu trắng bởi vì trước đây người ta chỉ biết loài voọc đầu trắng Trung Quốc (Trachypithecus poliocephalus). Sau khi phát hiện ra voọc Cát Bà có đặc tính không hoàn toàn giống với voọc đầu trắng Trung Quốc thì người ta mới tách ra làm hai phân loài là voọc Cát Bà (Trachypithecus poliocephalus poliocephalus) và voọc đầu trắng Trung Quốc (Trachypithecus poliocephalus leucocephalus), rồi cuối cùng voọc Cát Bà được nâng lên thành loài.

Thân dài 47-58 cm; đuôi dài đến 66-77 cm; trọng lượng 7-9 kg. Thân màu đen, phân biệt với các loài voọc khác nhờ vào lông ở đầu và vai màu trắng và vàng; thêm đám trắng nhạt ở mông kéo lên lưng. Chỏm lông trên đỉnh đầu thường tạo thành mào nhọn, với gốc lông màu vàng nhạt, mút lông phớt xám. Đuôi thon, lông dầy màu đen. Đực cái giống nhau. Con non: màu cam sáng, đến 4 tháng tuổi bắt đầu đổi qua màu lông con trưởng thành.

_vooc Cat Ba

Sinh thái: sống ở rừng cây gỗ, trên các mỏm núi đá vôi thuộc quần đảo Cát Bà. Leo trèo giỏi, thường chạy nhảy đùa nghịch trên các mỏm đá ven biển vào chiều tà. Đêm ngủ ngay trên vách đá vào mùa nóng,và ngủ trong hang đá vào mùa lạnh. Kiếm ăn ngày hai buổi vào sáng và chiều, trưa nghỉ trên cây . Thức ăn chủ yếu của chúng là chồi non và một số loại quả

Sống thành đàn 5-15 con; mỗi đàn chỉ có 1 con đực trưởng thành làm chủ đàn. Con đực trong đàn khi trưởng thành sẽ bị đuổi đi và sẽ tìm cách cướp đàn khác để làm chủ. Cuộc chiến giữa 2 con đực xảy ra, chỉ chấm dứt khi một bên chết hoặc bỏ chay; cả 2 con đều bị thương ít nhiều. Con đực từ bên ngoài khi chiến thắng sẽ giết tất cả con non. Đây là nguyên nhân khiến đàn voọc chậm phát triển. Nhiều khi con đực quay lại giết bố và giao phối với mẹ, hoặc chị, em, khiến đàn voọc Cát Bà rơi vào tình trạng giao phối cận huyết, làm suy thoái nòi giống.

Tình trạng: chỉ hiện diện trong các cánh rừng nhiệt đới ẩm ướt của Đảo Cát Bà, Hải Phòng, với diện tích sinh sống nhỏ hơn 100 km².

Vào thập niên 1960s có hàng nghìn cá thể. Qua nhiều thập kỷ bị săn bắt và mất môi trường sống, đến năm 2000 số lượng chỉ còn 53. Nhờ một dự án bảo tồn, việc săn bắt đã được kiểm soát và số lượng đang dần phục hồi, nhưng nguy cơ giao phối đồng huyết và sự phát triển du lịch ồ ạt tại Đảo Cát Bà khiến cho tương lai của voọc Cát Bà vẫn còn bấp bênh.

Voọc Cát Bà có tên trong của IUCN liệt kê 25 loài linh trưởng có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất thế giới, và có lẽ là dạng linh trưởng hiếm nhất ở Châu Á.

Giá trị: loài đặc hữu của Việt Nam.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES Phụ lục II [đáng lẽ phải là Phụ lục I]; IUCN 2015 hạng CR.

Xem thêm: Knight (2019); Lê Tân (2018); Ngân Kim (2017)..

voọc chà vá chân đen – black-shanked douc langur (Pygathrix nigripes)

Có thời được cho là phân loài Pygathrix nemaeus nigripes. Thuộc họ Khỉ Cựu Thế giới (Cercopithecidae) gồm 138 loài Khỉ tại Châu Âu, Châu Á và Châu Phi. Các điểm đặc trưng của các loài này bao gồm: chân sau dài hơn chân trước, đuôi không có khả năng cầm nắm như vượn, mũi và hàm hẹp. Khỉ Cựu Thế giới đa dạng về đặc điểm khuôn mặt: một số có mõm, một số mũi tẹt; nhiều loài có dải màu trên mặt. Sống ở nhiều môi trường khác nhau: từ rừng mưa nhiệt đới, xavan, rừng cây bụi đến môi trường núi cao. Hầu hết chúng ăn tạp, nhưng ưa ăn thực vật hơn. Đa số kiếm ăn theo cơ hội, ăn trái cây, nhưng cũng ăn tất cả những gì có sẵn (hoa, lá, củ, côn trùng, ốc sên, động vật có vú nhỏ và cả thức ăn mà con người cho chúng.

Voọc chà vá chân đen có thân hình thon nhỏ; chân và tay dài. Thân dài 61-76 cm, đuôi dài 56-76 cm; con đực nặng 11 kg, con cái nặng 8 kg. Da mặt màu lam nhạt với quầng mắt rộng màu kem nhạt; lông trắng hai bên má xù ra; dỉnh đầu xám. Mũi xám nâu. Mắt nâu. Bộ lông dầy và mềm. Lưng màu xám-đen. Hai bên thái dương có viền lông nâu đỏ. Vai màu xám đen. Cẳng tay xám trắng, không có khúc trắng trên cẳng tay. Từ móng đến mu bàn chân đen. Cẳng chân xanh đen đến đen. Vùng bẹn và đuôi trắng đục. Đuôi nhỏ thon, dài hơn thân, màu trắng đục.

_vooc cha va chan den

Sinh thái: sống ở rừng kín thường xanh, rừng kín nửa rụng lá và rừng cây họ Dầu Dipterocarpaceae. Sống theo đàn 10-30 con, có con đực đầu đàn. Kiếm ăn vào buổi sáng và chiều, ngủ trên cây gỗ cao. Ăn lá non và mầm cây. Chưa biết nhiều về sinh sản của chà vá chân đen.

Tình trạng: chỉ hiện diện ở Việt Nam và Campuchia. Phân bố rải rác ở một số khu rừng như Bù Gia Mập, Cát Tiên, Khu BTTN Tà Cú, Bình Thuận…. Có thể sống chung với chà vá chân nâu trong cùng khu vực, nhưng mỗi loài chiếm lĩnh một kiểu rừng khác nhau với độ cao tán lá khác nhau. Số lượng đang giảm.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục I; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN; IUCN 2008 hạng EN.

voọc chà vá chân đỏ, voọc chà vá chân nâu – red-shanked douc langur (Pygathrix nemaeus)

Thuộc họ Khỉ Cựu Thế giới (Cercopithecidae), còn được gọi là chà vá chân đỏ, voọc ngũ sắc, có thời được cho là phân loài Pygathrix nemaeus nemaeus.

Đây được xem là loài linh trưởng có bộ lông đẹp nhất, rất được yêu thích, vì thế hình mẫu được chế tác thành nhiều sản phẩm mỹ nghệ, vật lưu niệm… Bộ lông trên cơ thể là tổng hợp hài hòa của 5 màu đen, xám, trắng, nâu đỏ, cam nên còn được gọi là voọc ngũ sắc, thậm chí được tôn vinh là “nữ hoàng linh trưởng”.

Cơ thể có kích thước trung bình: ở con đực dài 61 cm và nặng 11 kg, con cái dài 55 cm và nặng 8,2 kg.. Đuôi thuôn và dài 55–76 cm. Da mặt nâu-vàng; lông trắng hai bên má xù ra; dỉnh đầu xám. Từ đầu gối đến mắt cá chân có màu nâu-đỏ giống như mang tất dài màu nâu-đỏ, cẳng tay trước như được phủ một lớp găng tay trắng, bàn tay và bàn chân lại có màu đen. Voọc chà vá chân nâu có vành râu quai nón màu trắng, ở con đực thường rậm rạp hơn. Đuôi dài màu trắng. Con đực có hai túm lông trắng hình tam giác ở hai góc phía trên gốc đuôi. Phần bụng và lưng có màu xám.

_vooc cha va chan do

Sinh thái: Sống trên cây và hoạt động ban ngày theo từng đàn 4-15 con và có khi đến 25-35 con. Một đàn thường có một hoặc vài con đực và trung bình có hai con cái nếu có một con đực. Cả con cái và con đực đều biết vị trí của mình trong đàn; con đực thường có vị trí cao hơn con cái. Cả con đực và con cái cuối cùng rồi sẽ rời khỏi đàn nơi chúng được sinh ra.

Chúng dùng tay và chân để di chuyển trong rừng. Một khi đã bắt đầu di chuyển, cả nhóm được dẫn dắt bởi con đực đầu đàn, với những con đực trẻ ở phía sau, con cái và con non an toàn ở giữa. Loài voọc này sống trên cao, di chuyển ở trên các tán rừng. Chúng rất nhanh nhẹn và thường có thể nhảy tới 6 mét, với cánh tay dang rộng qua đầu, chúng đẩy chi dưới về phía trước và tiếp đất bằng 2 chân.

Bình thường, chà vá chân nâu di chuyển một cách ồn ào từ cành này sang cành khác qua khu rừng, đi qua các tán cây, nhảy nhót trên các cành và nhún nhảy bằng 2 chân cùng lúc, thể hiện khả năng giữ cân bằng tuyệt vời. Nhưng khi có biến, bởi kẻ săn mồi hay những mối nguy hiểm khác, chúng có thể chạy trốn một cách yên lặng qua những cành cây, tránh xa khỏi mối nguy hiểm. Khi giật mình, chúng có thể kêu lớn, nháo nhác quanh các cành cây. Nhưng ngược lại với những lần di chuyển ồn ã, chà vá dành phần lớn thời gian để ăn trong yên lặng, tiêu hóa thức ăn, liu diu ngủ và chải lông cho nhau.

Ăn chủ yếu lá cây non, và cũng ăn quả, chồi non, hoa, và măng tre. Có thể sống chung với chà vá chân đen trong cùng khu vực, nhưng mỗi loài chiếm lĩnh một kiểu rừng khác nhau với độ cao tán lá khác nhau. Dạ dày chia thành túi chứa vi sinh vật để tiêu hóa cellulose qua quá trình lên men, điều này khiến cho bụng của loài chà vá luôn phồng lên. Chúng cũng hay ợ do khí thải ra từ quá trình lên men này. Chúng lấy được đủ chất lỏng cần thiết từ thức ăn mà không cần phải xuống tận mặt đất để uống nước. Loài voọc này ăn tới 50 loại thực vật khác nhau nhưng không ăn thịt loài động vật nào. Thói quen ăn uống bừa bãi và hỗn tạp của chúng làm rơi nhiều thức ăn xuống mặt đất: lá khô, quả chưa chín hoặc hoa quả quá chín. Chúng ăn một cách hòa bình bên cạnh nhau, chia sẻ thức ăn mà không tranh giành. Thường thì chúng chia sẻ một tán lá, dùng tay tách tán lá đó ra chia cho nhau, đây là một hành động hào hiệp mà hiếm loài Khỉ Cựu Thế giới nào có.

Chà vá chân nâu giao tiếp thông qua biểu cảm khuôn mặt. Nó như một màn biểu diễn khuôn mặt với miệng há rộng, răng nhe ra và cằm hướng về phía trước. Thỉnh thoảng, chúng nhắm mắt, quờ quạng nhau mà không để tâm tới mối nguy hiểm khi ở trên cành cao. Cái nhìn chằm chằm thể hiện sự đe dọa. Mặt nhăn nhó, miệng mở rộng và răng nhe ra cho thấy thái độ tuân phục sau khi bị nhìn chằm chằm. Biểu hiện này cũng thường thấy khi chúng bắt đầu chài lông cho nhau và chơi đùa. Chà vá chân nâu gầm gừ ở âm vực thấp, thể hiện sự đe dọa và kêu ré lên khi phải chịu đau.

Về tập tính giao phối và sinh sản, hiện chưa có đầy đủ thông tin mô tả quá trình này ngoài thiên nhiên. Con cái có thể bắt đầu giao phối khi đủ 4 tuổi trong khi con đực phải mất từ 4-5 năm. Theo quan sát trong môi trường nuôi nhốt: trước khi giao phối, cả con đực và con cái đều ra dấu hiệu bằng cách giơ cằm ra, lông mày nhếch cao và đầu cúi xuống. Con cái di chuyển trước, cắm mặt xuống cành cây, mắt nhìn vào con đực đã chọn. Con đực quay lại nhìn thẳng và có thể quay đi tìm nơi mà nó cho là phù hợp để giao phối.

Giai đoạn mang thai kéo dài trong khoảng từ 165 đến 190 ngày, con cái sẽ sinh một con non vừa đúng trước mùa quả chín. Sinh đôi thường rất hiếm. Con non khi chào đời mắt đã mở to và bám vào mẹ theo bản năng. Voọc con mới sinh có lông vàng cam, mặt màu đen, từ 8-24 tháng tuổi  màu lông và màu mặt mới chuyển dần sang màu sắc của con trưởng thành. Trong môi trường nuôi nhốt, những thành viên khác trong nhóm cũng chăm sóc con non và những con cái khác có thể còn cho nó bú. Một nghiên cứu ghi nhận: con non được nhận nuôi sẽ do hai con cái và một con đực trong đàn chăm sóc. Vòng đời của chúng dài khoảng 25 năm.

Tình trạng: chỉ hiện diện ở Việt Nam và Lào. nghiên cứu của Trung tâm GreenViet (2007) xác nhận có hơn 1300 cá thể Bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng. Đây là quần thể voọc chà vá chân nâu lớn nhất được ghi nhận từ trước tới giờ. Ngoài ra, ở Việt Nam, cũng có một quần thể lớn voọc chà vá chân nâu ở Thừa Thiên–Huế và VQG Phong Nha–Kẻ Bàng.

Săn bắt và mất môi trường sống là nguyên nhân làm số lượng chủng quần của vọoc suy giảm nghiêm trọng. Người dân các địa phương thường săn bắn loài này làm thực phẩm hoặc nấu cao để sử dụng như một loại thuốc gia truyền. Ngoài ra, voọc chà vá chân nâu còn được bán để nuôi làm cảnh hoặc làm thú nhồi bông. Từ nhiều năm này voọc chà vá chân nâu được nuôi ở nhiều vườn thú tư nhân và vườn safari, tạo thêm nhu cầu cho việc đánh bắt voọc ngoài hoang dã.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục I; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN; IUCN 2008 hạng EN.

Xem thêm: National Geographic (2019); theprimata.com (2007).

voọc chà vá chân xám – grey-shanked douc (Pygathrix cinerea)

Còn được gọi là voọc chà vá, có thời được cho là phân loài Pygathrix nemaeus cinerea, thuộc họ Khỉ Cựu Thế giới (Cercopithecidae).

Thân dài 56-64 cm, đuôi dài 59-80 cm, con đực nặng 10,9 kg, con cái nặng 8,2 kg. Chân và cánh tay màu xám đúng như tên gọi; bàn tay đen; bàn chân đen. Da mặt màu vàng nhạt; lông trắng hai bên má xù ra; dỉnh đầu xám. Thân có lông xám với vết lông trắng ở mông. Lông trên đầu màu xám nhưng có một vành đen phía trên trán. Có vành râu quai nón màu trắng, cổ có lông màu hung đỏ. Mắt hơi xếch. Tay dài hơn chân. Đuôi dài, sắc lông trắng.

_vooc cha va chan xam

Sinh thái: hoạt động ban ngày, chủ yếu sống trên cây. di chuyển qua các cành cây bằng cách nhảy và truyền cành. Con đực thường có vai trò lãnh đạo. Giao tiếp với nhau bằng cách động chạm, qua hình ảnh và nghe tiếng. Gầm rú thường là dấu hiệu cho thấy sự tức giận. Nó có thể là dấu hiệu hăm dọa một cá thể nào đó. Tiếng líu lo nhẹ nhàng thường là dấu hiệu của sự tuân phục. Giao tiếp bằng hình ảnh bao gồm cách biểu hiện khuôn mặt và những tư thế khác nhau. Biểu hiện khuôn mặt có thể là nhăn nhó, cho thấy thái độ tuân phục, thái độ đùa giỡn khi chơi cùng các thành viên khác và nhìn chằm chằm thể hiện sự tò mò hay tức giận. Biểu hiện khuôn mặt cũng được thể hiện rõ trong giai đoạn chọn bạn tình. Con đực nhìn về phía con cái khi tỏ ra sẵn sàng giao phối.

Con cái bắt đầu sinh sản khi khoảng tầm 4 tuổi. Con non mới sinh nặng 500 720 g.

Thường chải chuốt lông để loại bỏ ký sinh trùng và củng cố mối liên kết giữa các thành viên trong đàn. Hoạt động này thường được thực hiện trước khi nghỉ tối.

Thức ăn của chúng gần như toàn lá cây, nhưng thỉnh thoảng cũng ăn thêm hạt, trái cây và hoa; thích lá non và hoa quả chưa chín nẫu.

Tình trạng: phân bố ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Kon Tum và Gia Lai. Trước đây, thường thấy những đàn lớn gồm 50 cá thể, nhưng cỡ đàn đã giảm đáng kể còn 4-15 con.

Loài này có tên trong danh sách 2012–2014 của IUCN liệt kê 25 loài linh trưởng có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất thế giới.

Giá trị: loài này vừa hiếm vừa quý vì là đặc hữu của Việt Nam.

Phân hạng bảo vệ: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES 2019 Phụ lục I; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng CR; IUCN 2008 hạng CR.

voọc đen Hà Tĩnh, voọc gáy trắng – Hatinh langur (Trachypithecus hatinhensis)

Thuộc Họ Khỉ Cựu Thế giới (Cercopithecidae). Trước đây được xếp vào phân loài Trachypithecus francoisis hatinhensis.

Dài 55-62 cm, đuôi 75-88 cm, nặng 7-9 kg. Hình thái khá gần với voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi), nhưng hai vạch trắng nhỏ đi từ góc mép qua má chạy phía trên vành tai kéo đến tận gáy và đỉnh đầu có mào lông cao. Toàn thân màu đen trừ bụng đen xám, vùng háng và bẹn xám-trắng bẩn. Bộ lông dày, sợi lông dài, mềm. Đuôi dài hơn thân, thon đều, rậm lông. Con non: bộ lông màu vàng-cam, sau 4 tháng tuổi bắt đầu chuyển dần sang màu đen, sau 1 năm tuổi, bộ lông có màu giống con trưởng thành.

_vooc den Ha Tinh

Sinh thái: sống ở rừng núi đá vôi có nhiều cây gỗ lớn. Không gặp voọc sống trong các rừng núi đất, ngay cả những vùng rất gần núi đá. Sống theo đàn 5-18 cá thể, nhưng cũng gặp đàn tới 30 cá thể. Đầu đàn là một con đực, thường đi riêng một mình khi đàn kiếm ăn. Nó cũng là con về kiểm tra nơi ngủ đầu tiên trước khi đàn đến. Voọc Hà Tĩnh hoạt động ban ngày, vận động leo trèo giỏi, chạy trên cành cây nhanh, nhảy xa. Vùng sống thường ổn định, sống nhiều năm trong một vùng nếu ở đó không bị săn bắt.Ngủ trên những vách đá dựng đứng và có nhiều hang nhỏ cách mặt đất 25-40 m. Có 2 hoặc 3 chỗ ngủ, mỗi nơi ngủ 3-5 đêm rồi đổi qua nơi khác.

Thức ăn gồm chồi lá non và quả cây rừng; chưa gặp chúng ăn động vật.

Sinh sản quanh năm, mỗi lứa đẻ một con.

Tình trạng: trước đây phân bố ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Sau này còn thấy ở rừng núi đá vôi thuộc Quảng Bình. Một cuộc khảo sát gần đây (2020) phát hiện một quần thể voọc Hà Tĩnh sống ở khu vực giáp biên giới Việt-Lào, Quảng Trị.

Giá trị: loài đặc hữu hẹp, quý hiếm, có giá trị về nghiên cứu tập tính sinh trưởng trong hoang dã.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES Phụ lục II; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN; IUCN 2015 hạng EN.

voọc đen má trắng – François’ langur (Trachypithecus francoisi)

Thuộc Họ Khỉ Cựu Thế giới (Cercopithecidae). Các tên khoa học đồng nghĩa: Presbytis francoisi (theo CITES), Semnopithecus francoisi.

Thân dài 52-85 cn, đuôi dài 70-90 cm, nặng 6-10 kg. Đặc điểm nhận biết: dải lông hẹp màu trắng từ hai mép chỉ kéo dài đến vành tai. Bộ lông màu đen bóng; có một chỏm mào nhọn trên đỉnh đầu. Con non: màu vàng-cam.

.

_vooc den ma trang

Tình trạng: phân bố ở Hà Giang, Cao Bằng, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES Phụ lục I; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng CR (ghi là voọc đầu trắng Trachypithecus francoisi poliocephalus); IUCN 2008 hạng EN.

voọc mông trắng – Delacour’s langur (Trachypithecus delacouri)

Còn được gọi là voọc quần đùi trắng – Delacour’s leaf monkey, thuộc Họ Khỉ Cựu Thế giới (Cercopithecidae). Tên khoa học đồng nghĩa: Trachypithecus francoisi delacouri.

Thân dài 55-64 cm, đuôi dài 70-85 cm, nặng 7-9 kg. Đặc điểm nhận biết: cơ thể mầu đen có mông và phẩn đùi trên màu trắng, màu trắng vùng mông kéo dài tới tận gốc đuôi và đùi. Trên đỉnh đầu có mào lông đen hình chóp, vệt lông trắng khá rộng hai bên má kéo dài lên phía trên vành tai. Chân màu đen. Đuôi dài hơn thân, lông đuôi màu đen. Con no: màu vàng-cam, bắt đầu chuyển dần sang màu đen sau 4 tháng tuổi.

_vooc mong trang

Sinh thái: thích sống theo đàn 5-10 con ở rừng già, rừng cây gỗ nguyên sinh trên núi đá có nhiều hang động. Tuy nhiên do sự chia cắt, nên voọc mông trắng sống cả trong những sinh cảnh rừng nghèo, thậm chí chỉ có dây leo bụi rậm (Vân Long, Ninh Bình). Vùng hoạt động kiếm ăn tương đối rộng cả trên núi đất lẫn núi đá, nhưng chúng ngủ trên núi đá. Mùa nóng ngủ trên vách đá, mùa lạnh ngủ hang. Kiếm ăn buổi sáng và chiều, trưa nghỉ. Thức ăn chủ yếu là chồi, lá và quả.

Thời gian mang thai trung bình 196 ngày. Mỗi lứa đẻ một con, con sơ sinh nặng 350-500 g. Trưởng thành sinh dục sau 5 năm tuổi.

Tình trạng: chỉ còn hiện diện tại các khu vực chia cắt nhau ở Ninh Bình, Hà Nam, Hòa Bình và Thanh Hóa. Được tập trung bảo tồn ở hai nơi: Khu BTTN đất ngập nước Vân Long và VQG Cúc Phương.

Giá trị: voọc mông trắng vừa hiếm vừa quý vì là loài đặc hữu của Việt Nam.

Loài này có tên trong danh sách của IUCN liệt kê 25 loài linh trưởng có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất thế giới.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES Phụ lục II [đáng lẽ phải là Phụ lục I]; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng CR; IUCN 2015 hạng CR.

voọc mũi hếch – Tonkin snub-nosed monkey (Rhinopithecus avunculus)

Còn được gọi là voọc mũi hếch Bắc Bộ hay cà đác, thuộc họ Khỉ Cựu Thế giới (Cercopithecidae).

Thân dài 51-65 cm, cộng thêm đuôi 66- 92 cm (26 đến 36 in). Đực cân nặng 14 kg; cái 8 kg (18 lb). Lông ở phần lưng màu nâu đen, ở ngực và bụng có màu trắng kem cùng một mảng lông màu cam xung quanh cổ, đặc biệt là ở con đực. Không có mào lông trên đỉnh đầu. Mũi và môi có màu hồng cùng một vùng chuyển màu xanh đặc biệt quanh mắt.

_vooc mui hech

Sinh thái: sống ở rừng thường xanh nhiệt đới đi liền với những đồi núi đá vôi karst hiểm trở. Hoạt động hoàn toàn trên cây, di chuyển thành những đàn nhỏ. Kiếm ăn về đêm. với thức ăn gồm lá, quả, hoa và hạt.

Tình trạng: trước đây được tìm thấy ở độ cao 200 1200 m trong những mảnh rừng ở Tuyên Quang, Cao Bằng, Yên Bái, Quảng Ninh, Hà Giang (nơi có quần thể lớn nhất). Hiện giờ cực kỳ hiếm do bị săn bắt mạnh.

Loài này có tên trong danh sách 2012–2014 của IUCN liệt kê 25 loài linh trưởng có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất thế giới.

Giá trị: loài vừa hiếm vừa quý vì là đặc hữu của Việt Nam.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES Phụ lục I; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng CR; IUCN 2015 hạng CR.

voọc xám – Indochinese grey langur (Trachypithecus crepusculus)

Còn được gọi là voọc xám Đông Dương, thuộc Họ Khỉ Cựu Thế giới (Cercopithecidae).

Trước đây được xếp vào phân loài Trachypithecus phayrei crepuscula. Tên khoa học đồng nghĩa: Trachypithecus barbei, Trachypithecus barbei holotephreus, Trachypithecus phayrei.

Thân dài 49-57 cm, đuôi dài 72-84 cm, cân nặng 5-9,5 kg. Bộ lông giữa các cá thể trong đàn khá khác nhau, từ màu đỏ của gỉ sắt đến màu xám hoặc xám-nâu sẫm, nhưng giống nhau ở màu lông đầu và đuôi. Mặt màu lam, nhìn gần có thể thấy rõ các vòng lông màu xanh nhạt xung quanh hai mắt. Mõm trắng. Thường có những mảng lông màu trắng nổi bật trên môi. Túm lông dài trên đỉnh đầu mọc theo hướng vuốt ngược ra sau. Lông ở vùng lưng thẫm hơn ở vùng bụng. Bên hông có các lông dài, đầu lông có ánh bạc. Lông đuôi rất dài. Chân tay có màu đen, phần trên cánh tay, chân và đuôi có màu xám bạc. Con non: màu vàng-cam

_vooc xam

Sinh thái: sống thành đàn 3-30 cá thể ở những vùng rừng cây cao trên núi đá vôi, rừng thường xanh. Hoạt động vào ban ngày, chủ yếu trên cây. Thường ngủ trên các vách đá tai mèo dựng đứng, hoăc trên các gốc cây mọc ở vách núi treo leo. Mùa đông trú ẩn, ủ ấm trong các hang đá. Khá nhút nhát. Sinh sản quanh năm, mỗi lứa đẻ một con. Thức ăn là chồi lá non và quả cây rừng; không ăn động vật.

Tình trạng: phân bố ở Khu BTTN Mù Cang Chải, Yên Bái, và khu rừng lân cận thuộc Huyện Mường La, Sơn La; VQG Pù Mát, Nghệ An; Khu BTTN Xuân Liên, Thanh Hóa – quần thể ở đây có lẽ lớn nhất ở Việt Nam. (Nguyễn Đình Hải et al., 2016).

Sinh cảnh: rừng thường xanh trên núi đá vôi, rừng thường xanh á nhiệt đới, rừng thường xanh nhiệt đới ít bị tác động, và rừng hỗn giao gỗ-tre nứa.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES Phụ lục II; Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng VU (theo tên voọc xám Trachypithecus barbei); IUCN 2008 hạng EN (theo tên Indochinese gray langur Trachypithecus phayrei crepuscula).

vượn đen má hung, vượn đen má vàng – yellow-cheeked gibbon (Nomascus gabriellae)

Có thời được xếp vào phân loài Hylobates concolor gabriellae, thuộc Họ Vượn (Hylobatidae). Còn được gọi là khỉ dạng người loại nhỏ (tiếng Anh: lesser apes), vượn khác với khỉ dạng người loại lớn (great apes) như tinh tinh, khỉ đột, đười ươi và con người ở chỗ tầm vóc nhỏ hơn, có mức độ dị hình giới tính thấp, không làm tổ, và kết đôi vĩnh cửu. Vượn cũng vượt trội trong các loài thú khi di chuyển bằng cách hai tay nắm chuyền cành, đu từ cành này sang cành khác có thể với khoảng cách lên tới 15 m, với vận tốc cao tới 56 km/h. Chúng cũng có thể nhảy xa tới 8 m, và đôi khi đi lại bằng hai chân với hai tay giơ lên để giữ thăng bằng. Chúng nhanh nhẹn và uyển chuyển nhất trong số các loài thú sống trên cây cao mà không biết bay.

Tùy từng loài và phụ thuộc vào giới tính mà bộ lông có màu từ nâu sẫm tới nâu nhạt, có khi đốm loang màu đen hay trắng. Vượn toàn trắng rất hiếm. Vượn cái trưởng thành của các loài vượn đều màu vàng rất giống nhau.

Riêng Chi Vượn mào (Nomascus) gồm những loài có mào ở con đực. Màu lông khác biệt theo giới tính: đực màu đen, cái màu từ vàng đến vàng hung. Nhìn bề ngoài có thể khó phân biệt trong hoang dã.

Vượn đen má hung có trọng lượng 6-10 kg. Bề ngoài trông giống vượn má vàng Trung Bộ (Nomascus annamensis). Con đực: màu đen, trên má có đám lông màu vàng nhạt, đỉnh đầu có đám lông dựng đứng như cái mào, lông trước ngực màu nâu. Con cái: lưng và đùi màu vàng nhạt, ngực màu xám, có một túm lông màu thẫm thẳng đứng trên đỉnh đầu, lông quanh mặt thường màu vàng. Con non: lông màu vàng.

_vuon den ma hung cai

_vuon den ma hung duc

Sinh thái: sống trong rừng già, rậm trên núi cao. Kiếm ăn trên cây cao. Thức ăn là lá cây, chồi non, quả, côn trùng, trứng chim, chim non trong tổ. Bắt đầu sinh sản vào năm thứ 7-8. Thời gian có chửa 7-8 tháng. Hai năm đẻ một lần, mỗi lần đẻ một con. Sống thành từng gia đình nhỏ gồm một đực trưởng thành, 1-2 con cái và các con của chúng. Mỗi gia đình có một khu vực cư trú riêng tách biệt với các gia đình khác. Đôi khi gặp những nhóm nhỏ tách khỏi đàn để lập gia đình mới. Hoạt động ban ngày, tích cực nhất vào sáng sớm và chiều tối, trưa và ban đêm nghỉ trên ngọn cây. Thường hay kêu hú vào sáng sớm.

Phân bố: từng hiện diện ở Quảng Nam, Đà Nẵng, Gia Lai, Kontum, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Đồng Nai.

Giá trị: đối tượng nghiên cứu khoa học, cần tìm hiểu sinh thái tập tính của loài trong hoang dã để tìm hiểu về tiến hóa.

Tình trạng: trước năm 1975, loài này còn rất phổ biến ở các khu rừng già thuộc các tỉnh phía Nam. Từ năm 1975 trở lại đây số lượng quần thể giảm mạnh. Nguyên nhân biến đổi có thể là: Nơi cư trú bị xâm hại, rừng bị chặt phá, diện tích rựng tự nhiên bị thu hẹp và đây là đối tượng săn bắt để nấu cao, buôn bán và xuất khẩu.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES Phụ lục I (đối với toàn bộ Họ Vượn); Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN; IUCN 2015 hạng EN.

vượn đen má trắng – Northern white-cheeked gibbon (Nomascus leucogenys)

Còn được gọi là vượn đen má trắng Bắc, thuộc Họ Vượn (Hylobatidae). Từng được xếp vào phân loài Nomascus leucogenys leucogenys. Tên khoa học đồng nghĩa: Hylobates leucogenys, Hylobates henrici, Hylobates concolor leucogenys, Hylobates leucogenys leucogenys.

Khó phân biệt với vượn siki (Nomascus siki) bởi vì hai loài có quan hệ họ hàng gần gũi.

Thân dài 55-65 cm, không có đuôi, nặng 7-10 kg. Thân hình thon nhẹ, chân tay dài. Con đực: màu đen toàn thân, hai má có đám lông trắng lớn nối nhau bằng vệt trắng dưới cằm. Con cái: màu vàng xẫm, lồng quanh mặt tủa ngang, đỉnh đầu màu xám hoặc tua đen. Vượn con: cả đực và cái đều có lông màu vàng nhạt.

_vuon den ma trang

Sinh thái: sống trong rừng già thành từng gia đình 3-7 con trên đỉnh núi cao, thường là núi đá. Kiếm ăn trên cây cao, ít khi xuống mặt đất. Thức ăn là quả, hạt, lá, chồi cây, côn trùng, trứng chim, chim non trong tổ. Sinh sản vào lúc 8-9 tuổi. thời gian có chửa 200-214 ngày, mỗi năm đẻ một lứa, mỗi lứa đẻ một con. Kiếm ăn vào buổi sáng và chiều, di chuyển nhẹ nhàng nhanh nhẹn trên cây.

Phân bố: Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An.

Giá trị: đối tượng nghiên cứu khoa học. Dùng để nuôi làm cảnh trong các công viên, vườn thú.

Tình trạng: trước năm 1975, loài này còn gặp rất phổ biến ở các khu rừng già thuộc các tỉnh Tây-Bắc. Từ năm 1975 trở lại đây, số lượng quần thể giảm mạnh. Nguyên nhân biến đổi có thể là: Nơi cư trú bị xâm hại, rừng bị chặt phá, diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp và đây là đối tượng săn bắt để nấu cao, buôn bán và xuất khẩu.

Khu BTTN Pù Hoạt có diện tích hơn 85.000 ha là vùng rừng liền giải với Khu BTTN Xuân Liên tạo nên một vùng sinh cảnh lớn và cũng là khu vực rừng tự nhiên liền giải lớn nhất ở phía Bắc. Pù Hoạt và Xuân Liên được xác định là khu vực bảo tồn quan trọng nhất của loài vượn má trắng.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES Phụ lục I (đối với toàn bộ Họ Vượn); Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN (ghi theo phân loài vượn đen má trắng Nomascus leucogenys leucogenys); IUCN 2015 hạng CR.

vượn đen tuyền Đông-Bắc, vượn cao vít – cao-vit gibbon (Nomascus nasutus)

Còn được gọi là vượn đen Đông-Bắc – Eastern black-crested gibbon, trước đây được xếp vào phân loài Nomascus nasutus nasutus, thuộc Họ Vượn (Hylobatidae).

Vượn đen tuyền Đông-Bắc có hình dáng rất giống vượn đen tuyền Tây-Bắc nhưng khác nhau về vùng phân bố địa lý. Con đực: toàn thân màu đen, một túm lông trắng có thể xuất hiện ở mỗi bên má, trên đỉnh đầu có mào hình thành từ túm lông dựng đứng. Con cái: màu vàng hung, có mảng lông đen và không có mào. Con non: màu vàng.

Thân dài 47-50 cm; trọng lượng 7-10 kg.

_vuon den tuyen Dong-Bac cai

_vuon den tuyen Dong-Bac duc

Sinh thái: sống theo đàn nhỏ 2-4 con gồm các thế hệ. Mỗi sớm bình minh, cất tiếng hót ‘cao vít’ ‘ka huýt’ kéo dài nên dân địa phương thường gọi là vượn cao vít hay ka huýt. Sinh hoạt chủ yếu trên cây, di chuyển bằng hai tay rất nhanh. Khi di chuyển dùng hai chân đạp, đẩy người đu ra xa và hai tay bám lấy cành mới. Khi uống nước choài ra các cành là là sát mặt hồ, móc chân vào cành, đu người xuống và lấy tay vục nước đưa vào miệng. Không biết bơi.

Chủ yếu ăn hoa quả, chồi non, đôi khi đói chúng ăn cả trứng chim và côn trùng.

Tình trạng: vượn đen tuyền Đông-Bắc được ghi nhận ở Việt Nam từ năm 1884. Năm 1965 thu được 3 tiêu bản ở Huyện Trùng Khánh, Cao Bằng. Từ đó cho đến năm 2000, loài vượn này được coi là tuyệt chủng do không có bất cứ ghi nhận nào về sự tồn tại của loài. Mãi đến năm 2002, phát hiện một quần thể nhỏ còn tồn tại trong khu rừng nhỏ giáp giới Trung Quốc, thuộc Huyện Trùng Khánh.

Năm 2007, FFI hỗ trợ thành lập Khu Bảo tồn vượn cao vít với diện tích gần 1.700 ha tại Huyện Trùng Khánh. Đây là nơi được cho là môi trường sống cuối cùng của vượn cao vít. Số liệu điều tra mới nhất (2018) ghi nhận 136 cá thể.

Loài này có tên trong danh sách của IUCN liệt kê 25 loài linh trưởng có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất thế giới.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES Phụ lục I (đối với toàn bộ Họ Vượn); IUCN 2015 hạng CR.

vượn đen tuyền Tây-Bắc – black crested gibbon (Nomascus concolor)

Thuộc Họ Vượn (Hylobatidae).

Vượn đen tuyền Tây-Bắc có hình dáng rất giống vượn đen tuyền Đông-Bắc nhưng khác nhau về vùng phân bố địa lý. Đầu dài 55-65 cm; trọng lượng 7-10 kg, thân hình thon mảnh, chân tay dài, không có đuôi. Con đực: bộ lông màu đen tuyền, một túm lông trắng có thể xuất hiện ở mỗi bên má, đỉnh đầu có mào được tạo nên bởi túm lông dựng đứng. Con cái: màu vàng da bò, có mảng lông đen hoặc nâu thẫm trên ngực và đôi khi cả ở trên bụng, chỏm đầu đen và vệt đen kéo dài đến gáy.

_vuon den tuyen Tay-Bac

Sinh thái: sống ở rừng nguyên sinh thành từng gia đình nhỏ gồm một con đực trưởng thành và 1-2 con cái cùng các con non. Sinh sản vào năm thứ 7-8. Thời gian chửa 7-8 tháng. Mỗi năm đẻ 1 lứa, mỗi lứa đẻ 1 con. Thường kêu hú vào sáng sớm. Kiếm ăn trên cao vào buổi sáng và chiều; buổi tối ngủ trên các chạc cây cổ thụ. Thức ăn gồm trái cây, chồi non, côn trùng, trứng chim và chim non.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES Phụ lục I (đối với toàn bộ Họ Vượn); Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN; IUCN 2015 hạng CR.

vượn má vàng Trung Bộ – Northern yellow-cheeked crested gibbon (Nomascus annamensis)

Còn được gọi là vượn đen má hung Trung Bộ – Northern buffed-cheeked gibbon, thuộc Họ Vượn (Hylobatidae), được xác định vị trí phân loại năm 2010, trước đây được xem là vượn má hung (Nomascus gabriellae) vì hai loài có hình thái bên ngoài giống nhau.

Thân dài 50-60 cm, không có đuôi, nặng 6-10kg. Con đực: bộ lông chủ yếu màu đen, lấp lánh ánh bạc dưới ánh sáng mặt trời; hai bên má màu vàng-hung hoặc nâu sáng; đỉnh đầu có mào. Con cái: bộ lông màu vàng-kem; không có mào; khó phân biệt với vượn siki (Nomascus siki) bởi vì hai loài có quan hệ họ hàng gần gũi.

_vuon ma vang Trung Bo

Sinh thái: sống trong rừng mưa nhiệt đới

Hiện trạng: theo IUCN (2015b), phân bố theo độ cao 100-1200 m từ Sông Thạch Hãn (Quảng Trị) phia bắc đến Sông Ba (Gia Lai và Phú Yên). Khu Bảo tồn Sao la Quảng Nam là khu vực phân bố và sinh cảnh quan trọng.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES Phụ lục I (đối với toàn bộ Họ Vượn); IUCN 2015 hạng EN.

vượn siki – Southern white-cheeked gibbon (Nomascus siki)

Còn được gọi là vượn đen má trắng siki hay vượn má trắng siki, thuộc Họ Vượn (Hylobatidae).

Con đực: bộ lông chủ yếu màu đen, lấp lánh ánh bạc dưới ánh sáng mặt trời; hai bên má màu trắng; đỉnh đầu không có mào. Con cái: Khó phân biệt với vượn má trắng (Nomascus leucogenys) bởi vì hai loài có quan hệ họ hàng gần gũi.

_vuon siki

Hiện trạng: theo IUCN (2015c), phân bố theo độ cao 30-1800 m ở Hà Tĩnh, Quàng Bình và Quảng Trị với Sông Thạch Hãn là ranh giới phía Nam của vùng phân bố.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; Nghị định 06/2019/NĐ-CP nhóm IB; CITES Phụ lục I (đối với toàn bộ Họ Vượn); Sách Đỏ Việt Nam 2007 hạng EN (ghi theo vượn đen má hung Nomascus leucogenys siki); IUCN 2015 hạng CR.

vượn tay trắng – Lar gibbon (Hylobates lar)

Tên khoa học đồng nghĩa: Hylobates entellides, thuộc Họ Vượn (Hylobatidae).

Đây là loài thú gần gũi với con người nhất về gien, đến nỗi Linnaeus năm 1771 xếp nó vào loài Homo lar, tức cùng loài với con người. Cũng được coi là một trong những loài vượn khôn ngoan nhất.

Cả đực và cái đều có màu bộ lông thay đổi từ đen đến nâu sậm, nâu nhạt và màu cát vàng. Màu lông không liên quan đến giới tính và tuổi. Con đực có bàn chân và bàn tay trắng, xung quanh mặt viền lông trắng (vàng nhạt hoặc vàng-lam ở con cái). Tay dài hơn nhiều so với chân. Kích kích thước đực và cái bằng nhau.

_vuon tay trang

Sinh thái: sống trong rừng già trên núi cao, hoạt động vào ban ngày chủ yếu trên cây, chuyền từ cành cây này sang cành cây khác bằng tay, hiếm khi xuống mặt đất. Sống trong gia đình thường gồm có một con đực trưởng thành và một con cái trưởng thành cùng đàn con. Tuy vậy, một con đực có thể giao phối với nhiều con cái và một con cái có thể giao phối với nhiều con đực. Các cá thể chọn bạn tình không dựa trên màu lông. Mỗi gia đình bảo vệ một lãnh thổ riêng. Mỗi buổi sáng, cả gia đình tản ra ở ranh giới lãnh thổ, đôi vợ chồng vượn cất tiếng hú vang xa một vài kí-lô-mét. Tiếng hú này giúp phân biệt các loài vượn. Tiếng hú cũng giúp đánh động sự hiện diện của kẻ thù như hổ, báo.

Khu vực cư trú hẹp và ít thay đổi – là yếu tố bất lợi để sinh tồn. Thức ăn là quả, lá non, hoa; cũng ăn thêm côn trùng và trứng chim. Hai năm đẻ một lứa, mỗi lứa đẻ 1 con.

Tình trạng: các tài liệu trước đây nói rằng có ở Đảo Phú Quốc. Cho đến giờ chưa phát hiện lại được, đang đứng trước nguy cơ bị biến mất hoàn toàn ở Việt Nam.

Giá trị: nguồn gen quý và rất hiếm. Điều lạ lùng là cả Nghị định 03/VBHN-BTNMTm Nghị định 06/2019/NĐ-CP và Sách Đỏ Việt Nam 2007 đều không đề cập đến loài vượn tay trắng, để lại lỗ hỗng trong việc bảo tồn.

Phân hạng bảo tồn: CITES Phụ lục I (đối với toàn bộ Họ Vượn); IUCN 2015 hạng EN, số lượng đang giảm.

Thú biến mất hoàn toàn ở Việt Nam

bò xám – kouprey (Bos sauveli)

Còn được gọi là bò kouprey, thuộc Họ Trâu bò (Bovidae).

Bò xám đực có thể dài tới 2 m và nặng từ 680-900 kg. Thân dài nhưng dẹt, chân dài và có bướu trên lưng. Bộ lông màu xám, nâu đen hay đen. Cặp sừng của bò xám cái có hình dạng như chiếc đàn lia, cong về phía trên. Cặp sừng của con đực vòng hình cung rộng hơn và cong lên và chĩa về phía trước. Sừng bò đực dài gấp đôi sừng bò cái và thường bị tước xòe ở mũi sừng trông như cặp đũa bông. Cả hai giới đều có lỗ mũi hình chữ V và đuôi dài. Bò xám có hai ngón chân móng guốc ở phần trung tâm của phần móng guốc. Ngón chân trỏ và ngón út là móng guốc nhỏ hơn, gần với xương mắt cá chân. Bò xám đực có yếm dài tới 40 cm. Trong điều kiện hoang dã chúng có thể sống tới 20 năm.

_bo xam

Thức ăn chủ yếu là cỏ thay vì lá cây hay cành non. Vì vậy chúng hay tụ tập ở những thửa rừng thoáng, sườn đồi thấp. Ăn cả ngày lẫn đêm, ban đêm ăn cỏ trong khu vực rộng rãi ngoài trời và ban ngày ăn cỏ dưới tán rừng. Sống thành bầy đàn tới 20 con, chủ yếu là bò cái trưởng thành và bê con, nhưng trong mùa khô thì có cả bò đực.

Tình trạng: biến mất hoàn toàn ở Việt Nam chủ yếu là do (1) việc săn bắn thiếu kiểm soát của dân địa phương cũng như những người lính trong Chiến tranh Đông Dương, (2) bệnh tật do gia súc truyền sang, (3) nạn phá rừng làm nương rẫy của con người.

Phân hạng bảo tồn: Nghị định 03/VBHN-BTNMT Phụ lục I; IUCN 2016 hạng CR, số lượng đang giảm.

heo vòi – Malayan tapir (Tapirus indicus)

Còn có tên là heo vòi Mã Lai – Asian tapir, Asiatic tapir, Oriental tapir, Indian tapir, or piebald tapir, thuộc Họ Heo vòi (Tapiridae), gồm các loài có vú, móng guốc lẻ, kích cỡ lớn, ăn thực vật, hình dáng khá giống loài lợn, với vòi ngắn nhưng có thể nắm được.

Heo vòi trông giống như một sự kết hợp lạ lùng giữa lợn và voi, với thân hình mập mạp và phần mũi cùng môi trên kéo dài thành một chiếc vòi ngắn. Chiều dài thân 1,8-2,4 m; trọng lượng 250- 320 kg. Ðặc điểm phân biệt: đầu, cổ, ngực và nửa thân phía trước màu đen; từ ngang vai đến mông, bụng màu trắng bạc. Bốn chân, đuôi màu đen. Con non: màu nâu với những sọc trắng chạy theo chiều dài cơ thể.

_heo voi

Tình trạng: trước đây thường được bắt gặp ở Tây Nguyên. Giờ chì được thấy trong các vườn thú.

Phân hạng bảo tồn: IUCN 2014 hạng EN, số lượng đang giảm.

hươu sao – sika deer (Cervus nippon)

Còn được gọi là hươu đốm – spotted deer, Japanese deer, thuộc Họ Hươu nai (Cervidae).

Thân dài 140 cm, nặng từ 50–60 kg. Bộ lông thường có màu cam, đôi khi cam-nâu, con cái nhạt màu hơn con đực. Trên da ở thân có những đốm trắng, hình tròn trông như “sao”, lớn dần từ phía lưng đến phía bụng và hông. Dọc sống lưng chạy từ vai xuống hông là hai hàng sao, còn các sao trên mình không tạo thành hàng rõ rệt. Từ gáy xuống cổ và dọc sông lưng chạy giữa hai hàng sao là vệt lông mầu sẫm. Chân, đầu và bụng không có sao. Đuôi có túm lông màu trắng với viền lông đen gần góc đuôi, mặt dưới đuôi trần. Phía dưới gốc đuôi và mặt sau đùi có những sợi lông màu trắng dài từ 4-6 cm, tạo thành “gương” có hình tam giác. Tứ chi màu vàng xám, thẫm ở mặt trước và nhạt ở mặt sau. Mặt ngoài ống chân gần kheo của chi sau thường có các tấm chai chân được hình thành trong đời sống của hươu, giúp hươu làm chỗ tỳ khi đứng lên hoặc nằm xuống.

_huou sao

Cũng như trâu bò, hươu sao thuộc loài nhai lại. Dạ dày gồm 4 túi: dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách và dạ múi khế. Dạ cỏ có dung tích 6-10 lít, là một lúi lên men lớn, ở đó có tới 50% các chất khó tiêu được tiêu hoá bởi vi sinh vật.

Chỉ hươu đực mới có sừng, là loại sừng duy nhất có khả năng tái sinh hàng năm. Khi sừng mới mọc được gọi là lộc nhung, là vị thuốc đông y có giá trị.

Sinh thái: sống ở rừng thứ sinh, núi đất, nơi có cây bụi, cỏ, gần nguồn nước. Hoạt động nhiều về đêm, ban ngày tìm nơi trú ẩn để nhai lại. Hươu sao ăn được nhiều loại thức ăn xanh. Nhút nhát là bản tính nổi bật của hươu sao, hễ nghe tiếng động lạ là bỏ chạy.

Tình trạng: ngày xưa sống tại Cao Bằng, Bắc Thái, Quảng Ninh, Hà Tây, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. Giờ chì được thấy trong các vườn thú và trang trại với số lượng cả nước có lúc lên đến hàng chục nghìn con. Hươu sao nuôi nhốt khi thả tự do thì chạy vào rừng, nên có triển vọng tái tạo quần thể hoang dã. Lấy ví dụ như ở Đài Loan: nơi hươu sao biến mất hoàn toàn ngoài hoang dã nhưng được nuôi và trả về với thiên nhiên. Hươu sao được du nhập vào nhiều nước trên thế giới; riêng số lượng ở Nhật Bản và Nga còn khá.

Giá trị: ngoài lộc nhung, thịt hươu được xem là có tác dụng bổ trung, ích khí, mạnh gân cốt. Thịt hươu còn được dùng để nấu cao toàn tính (cùng với xương, da, v.v…) dùng bồi bổ khí huyết. Xương hươu, da hươu thường được nấu cao. Các bộ phận cơ thể khác của hươu cũng được xem là rất bổ: huyết hươu, thận, dịch hoàn, dương vật, gan hươu. v.v… đều được dùng trong các bài thuốc dân gian.

Phân hạng bảo tồn: IUCN 2014 hạng LC, số lượng đang tăng.

tê giác hai sừng – Sumatran rhinoceros (Dicerorhinus sumatrensis)

Loài tê giác nhỏ nhất tuy vẫn khá lớn: thân dài 2.3–3.1 m; trọng lượng 500-1,000 kg. Có hai sừng: sừng mũi lớn hơn, dài 15–25 cm; sừng thứ hai chỉ là sừng nhú (stub).

_te giac hai sung

Tình trạng: từng hiện diện tại các khu rừng ở Khánh Hòa. Năm 1920, cá thể tê giác hai sừng cuối cùng của Việt Nam bị bắn chết tại vùng rừng Cam Ranh (Khánh Hòa).

Phân hạng bảo vệ: IUCN 2019 hạng CR, số lượng đang giảm.

tê giác một sừng – Javan rhinoceros (Rhinoceros sondaicus)

Còn được gọi là tê giác Java, tê giác Sunda – Sunda rhinoceros, lesser one-horned rhinoceros, các tên khoa học đồng nghĩa là Rhinoceros floweri, Rhinoceros inernus, Rhinoceros sondaicus annamiticus.

Thân cỡ lớn nhất trong Họ Tê giác (Rhinocerotidae) ở Việt Nam, có thể dài tới 3 m; trọng lượng trên 2000 kg. Thị giác kém phát triển. Chỉ có 1 sừng (thường chỉ có ở con đực) mọc ngay trên mũi, sừng do lớp biểu bì tạo thành nên không gắn liền với xương sọ mà gắn với lớp biểu bì của da. Da dầy cứng, lông rất thưa, với 3 nếp gấp sâu và nhiều nếp gấp nhỏ chia bề mặt da thành nhiều mảnh (giống áo giáp). Lưng và hai bên hông mầu xám sẫm, bụng mầu hơi đỏ. Chân to, bàn chân 3 ngón với móng guốc hình bán nguyệt, móng giữa to hai móng bên nhỏ.

_te giac mot sung

Sinh thái: thường ở gần khu vực sình lầy ẩm ướt, thích ngâm mìmh trong bùn nước. Sống đơn độc trong rừng già ở những nơi sâu kín, ít ngươi qua lại. Thức ăn là củ, quả, rễ cây, cành lá cây nhỏ, kể cả cành cây nhỏ có gai. Tuổi sinh sản 4-5 năm. Thời gian có chửa 16-18 tháng; 3-4 năm mới đẻ 1 lứa, mỗi lứa 1 con.

Tê giác một sừng có tập tính sinh tồn là khi đi trong rừng, tê giác con luôn đi trước còn mẹ ở phía sau. Đi đến đâu, tê giác mẹ lại xóa dấu chân tê giác con đi. Một tập tính khác của tê giác: chúng bới đất chôn phân như loài mèo hoặc đá văng phân tung tóe chứ ít khi để nguyên đống.

Tình trạng: ngày xưa hiện diện ở Lai Châu (Mường Tè, Mường Lay), Sơn La (Sông Mã), Đắk Lắk (Đắk Nông, Đắk Min, Ea Súp), Đồng Nai (Nam Cát Tiên), Bình Phước (Bù Gia Mập). Cuối cùng, chỉ còn một cá thể ở VQG Cát Tiên.

Từ đầu những năm 1980 trở về trước không có một tài liệu nghiên cứu nào ở Việt Nam. Trước những năm 1980, người ta từng tuyên bố loài tê giác đã tuyệt chủng ở Việt Nam. Lúc này ông Điểu K’Giang (70 tuổi), người dân tộc S’tiêng – một đời cư ngụ ngay ngoài bìa rừng Cát Lộc, phía bắc VQG Cát Tiên –  khẳng định, tê giác java vẫn còn sống ở rừng già Cát Lộc. Thế nhưng hầu như không mấy ai bận tâm đến những phát biểu của lão nông không địa vị này.

Mãi đến năm 1988, người ta “bất ngờ” phát hiện một con tê giác đã trưởng thành bị bắn chết ở vùng Cát Lộc. Rồi đồng bào dân tộc sống trong vùng rừng huyện Cát Tiên và Bảo Lộc báo có dấu chân thú lạ, nghi là của loài thú lớn, thú cổ… Lúc này các cơ quan chức năng và lực lượng kiểm lâm của Tỉnh Lâm Đồng mới chú ý. Sau khi thực hiện điều tra, theo dấu chân tê giác hàng năm trời, có thể xác định còn một quần thể tê giác ở khu vực rừng Cát Lộc, thuộc VQG Cát Tiên.

Lúc này vấn đề bảo vệ loài tê giác một sừng mới được quan tâm. Một số chuyên gia về tê giác ở các nước được mời qua giúp Việt Nam nghiên cứu. Sau đó, nhóm nghiên cứu khẳng định có một quần thể tê giác một sừng sinh sống tại đây và đang trong tình trạng “cực kỳ nguy cấp” cần được bảo vệ.

Tháng 5-1999, bẫy ảnh (camera trapping) chụp được tất cả 7 tấm hình đầu tiên của tê giác một sừng. VQG Cát Tiên chính thức công bố có một quần thể tê giác sinh sống tại khu vực Cát Lộc với khoảng 3-5 cá thể.

Thế rồi tê giác ngày càng ít xuất hiện hơn. Năm 2006 một con tê giác hơn 1 tấn được phát hiện.

Năm 2009, kết quả phân tích 22 mẫu phân đưa đến kết luận chắc chắn VQG Cát Tiên chỉ còn lại duy nhất một cá thể tê giác.

Ngày 29-4-2010, xác một con tê giác một sừng bị bắn chết được tìm thấy, sừng bị cưa và lấy mất. Ước lượng cá thể này chết vào khoảng cuối tháng 1 đến đầu tháng 2, 2010. So sánh phân tích DNA mẫu xương và phân tích ADN từ 22 mẫu phân đã gửi trước đó, kết luận tất cả mẫu vật đều là của một cá thể tê giác. Từ kết quả này, WWF chính thức công bố tê giác một sừng đã tuyệt chủng tại Việt Nam.

Nhà chức trách phía Việt Nam tuyên bố nguyên nhân con tê giác này chết là do già yếu nên chết tự nhiên. Riêng các nhà khoa học của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) tỏ ra hoài nghi. Sau khi kiểm tra xương tê giác vài tuần sau đó trong tháng 9/2010, người ta phát hiện một viên đạn ở chân trái trước con thú. Khán nghiệm bộ xương cho thấy con tê giác không chết vài ngày hay vài tuần sau khi bị bắn. Nó sống thêm được nhiều tháng sau đó. Còn cái sừng đã bị cắt một cách thô bạo. Vì săn trộm.

WWF ghi nhận rằng “thị trường thú hoang dã phi pháp thiếu kiểm soát”, “yếu kém trong bảo tồn” do “thiếu ý chí chính trị”, và việc mất sinh cảnh dẫn đến sự tuyệt chủng của tê giác một sừng ở Việt Nam.

Ngược dòng thời gian, một số cụ già người dân tộc S’tiêng ở Xã Phước Cát 2, Huyện Cát Tiên, Lâm Đồng, cho biết năm 1988 họ chứng kiến tê giác về đẻ con ở Bàu Chim. Họ kể lại “Tê giác con nhìn giống như chú heo ăn nhiều béo tốt ở nhà mình. Nó kêu héc héc, rúc rúc vào bụng của mẹ nó bú. Mình với lũ làng coi chán rồi rủ nhau về…”

Trên thế giới chỉ còn khoảng 40-60 tê giác một sừng. Số lượng ít ỏi như thế tạo nguy cơ đồng huyết do quá trình giao phối giữa các cá thể có quan hệ họ hàng, khiến cho nguồn gien mất tính đa dạng và sinh lực. Lại vì không có cá thể nào được nuôi nhốt trong khi môi trường sinh sống ngày càng bị thu hẹp và nạn săn bắn vẫn tiếp diễn, trong số các loài tê giác, tê giác một sừng có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất. (Hien Nguyen, 2017)

Phân hạng bảo vệ: IUCN 2019 hạng CR (, số lượng ổn định).

Xem thêm: Baraniuk (2016); Cota, (2012); Đức Tuyên (2011a); Đức Tuyên (2011b).

trâu rừng – wild water buffalo, Asian buffalo (Bubalus arnee)

Thuộc Họ Trâu bò (Bovidae).

Việc đặt tên khoa học chưa được thống nhất:

  • Hệ thống Thông tin Phân loại Tích hợp (Integrated Taxonomic Information System – ITIS) chỉ chấp nhận tên Bubalus bubalis;
  • CITES ghi tên Bubalus arnee là trâu rừng (đối tượng chịu giới hạn buôn bán) và Bubalus bubalis là trâu nhà (trâu rừng đã thuần hóa, dĩ nhiên không chịu giới hạn);
  • IUCN ghi tên Bubalus arnee là trâu rừng khi phân hạng bảo tồn.

Thiết tưởng không nên dùng tên Bubalus bubalis làm đối tượng bảo tồn kẻo bị hiểu lầm đó là trâu nhà, thành ý nghĩa trái khoáy, cũng khó tham khảo CITES và IUCN.

Trâu rừng có hình dạng giống trâu nhà, nhưng to và khoẻ hơn: thân dài tới 2,8 m; trọng lượng 800-1200 kg. Đầu to, mõm ngắn, trán có lông dài rậm mầu xám đen, phía dưới cổ có đám lông trắng hình chữ V. Sừng dài, uốn cong hình lưỡi liềm, dài 1,4-2 m, mặt cắt ngang gốc sừng hình tam giác, thân sừng có nhiều vết nhăn nheo, mút sừng nhọn hướng về phía sau. Lưng mầu xám hoặc nâu xám. Đuôi ngắn, có túm lông ở mút.

_trau rung

Sinh thái: sống thành từng đàn 20-30 con ở những cánh rừng già, rừng thưa ven sông suối, hoặc trong thung lũng sâu có sình lầy ẩm ướt địa hình bằng phẳng; không sống ở núi cao, sườn dốc lớn. Thức ăn là cỏ, lá cây, măng tre nứa và chồi cây non. Thời gian có chửa khoảng 10 tháng. Ba đến bốn năm đẻ 1 lứa, mỗi lứa 1 con. Hoạt động kiếm ăn ban ngày vào buổi sáng và chiều tối trong rừng thưa, ven rừng, trảng cỏ cây bụi. Buổi trưa thường nghỉ ngơi, đầm mình trong bùn nước khi tiết trời nóng bức. Ban đêm ngủ cả đàn quây thành vòng tròn, con non và con già ở giữa. Trâu rừng có thể bị hổ báo tấn công, nhưng nhờ tập tính sống đàn bảo vệ lẫn nhau nên ít bị nguy hiểm.

Ngày xưa có vùng phân bố khá rộng được ghi nhận ở nhiều nơi như: Thừa Thiên–Huế, Đồng Nai (thượng nguồn Sông Đồng Nai, Sông La Ngà), Bình Dương (Thủ Dầu Một), Thành phố Hồ Chí Minh (Gia Định), Côn Đảo, Đảo Phú Quốc.

Trâu rừng từng hiện diện ở nhiều vùng từ Nam Á đến Đông Nam Á, nhưng đã biến mất hoàn toàn ở Sri Lanka, Bangladesh, Lào, Malaysia, Indonesia, và Việt Nam; nhưng còn sót ở miền đông Cambodia (IUCN, 2016). Không loại trừ trường hợp sẽ có cá thể từ miền đông Cambodia di chuyển qua Việt Nam.

Phân hạng bảo tồn: IUCN 2016 hạng EN (cho tên Bubalus arnee, số lượng đang giảm).

Loài không tồn tại

cầy rái cá (Cynongale lowei)

Trong thời gian năm 1926-1927, một mẫu da thú được Jean Delacour và Willoughby Lowe thu tại Bắc Kạn và mang về Bảo tàng Lịch sử Thiên nhiên Anh quốc, được miêu tả là loài Cynogale benenttii. Tuy nhiên, đến năm 1933, Pocock miêu tả lại mẫu da này và kết luận đó là loài mới cho khoa học, và ông đã đặt tên cho nó là Cynogale lowei bởi những đặc điểm khác biệt so với loài Cynogale benenttii.

Sự tồn tại của loài Cynogale lowei ở Việt Nam là một dấu hỏi lớn cho khoa học trong nhiều thập kỷ. Rất nhiều khảo sát, nghiên cứu trên thực địa đã không thu thêm được bất kỳ mẫu vật nào của loài này.

Sự phát triển của khoa học – đặc biệt là sinh học phân tử – và nhiều nghiên cứu về cấu trúc lông của các loài thú giúp các nhà khoa học làm sáng tỏ bí ẩn của loài Cynogale lowei. Quả thật, kết quả phân tích AND từ mẫu vật chuẩn tại Bảo tàng Lịch sử Thiên nhiên Anh quốc và phân tích cấu trúc, hình thái lông giúp xác định mẫu da của loài Cynogale lowei thực chất là mẫu da của loài rái cá thường (Lutra lutra) nhưng còn non. Kết quả nghiên cứu trên đặt dấu chấm hết cho một bí ẩn lớn của khoa học về loài Cynogale lowei và chính thức gạch tên loài này ra khỏi danh lục động vật hoang dã của Việt Nam nói riêng và của toàn thế giới nói chung.

Nguồn: Văn Bằng/SIE (2017).

Kết luận

Việt Nam có hệ động vật hoang dã đa dạng với nhiều chủng loài quý hiếm, là ngôi nhà của một số động vật đặc hữu như:

  • cheo lưng bạc
  • khỉ đuôi dài Côn Đảo
  • voọc Cát Bà
  • voọc chà vá chân xám
  • voọc đen Hà Tĩnh
  • voọc mông trắng
  • voọc mũi hếch.

Ghi chú: Một số tài liệu ghi mang Pù Hoạt (Muntiacus puhoatensis) là đặc hữu của Việt Nam, nhưng có sự lấn cấn về phân loại: theo IUCN (2008) mang Pù Hoạt có thể là mang Roosevelt (Muntiacus rooseveltorum) vốn hiện diện ở Lào. Tương tự, tuy một số tài liệu ghi mang Trường Sơn (Muntiacus truongsonensis) là đặc hữu của Việt Nam, nhưng không loại trừ loài này đồng nghĩa với mang Roosevelt (Muntiacus rooseveltorum).

Riêng trong vài thập kỷ gần đây, một số loài thú mới được phát hiện và phân loại lần đầu tiên ở Việt Nam, cho thấy sự phong phú sinh thái:

  • 1992: sao la (Pseudoryx nghetinhensis)
  • 1994: mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis)
  • 1997: cầy giông Tây Nguyên (Viverra tainguensis)
  • 1997: mang Pù Hoạt (Muntiacus puhoatensis)
  • 2010: vượn má vàng Trung Bộ (Nomascus annamensis)

Một số yếu tố kết hợp nhau đe dọa sự sống tồn của các chủng loài hoang dã ở Việt Nam: Nơi cư trú của các chủng loài bị xâm hại, rừng bị chặt phá, diện tích rừng thiên nhiên bị thu hẹp, bị săn bắt để nuôi làm cảnh, buôn bán và xuất khẩu.

Việt Nam đã mất trên 80% diện tích rừng trong lịch sử. Trong số rừng mưa nhiệt đới vốn có mức đa dạng sinh học phong phú, chỉ còn lại 10-20% diện tích. Trong chiến tranh (1963-1975), trên 72 triệu lít chất diệt cỏ được phun, gần 9.000 ha diện tích thực vật bị tàn phá. Có nhiều nỗ lực trồng rừng nhưng rừng tái tạo không có đủ mức độ đa dạng thực vật như rừng thiên nhiên. Một số vùng được ghi là “rừng” nhưng chỉ trồng một thứ cây để làm nguyên liệu giấy, đáng lẽ phải ghi là đồn điền hoặc trang trại chứ không phải “rừng”. Cộng thêm những con số khả nghi về “diện tích rừng”, tình trạng rừng ở Việt Nam không tốt đẹp như trong các báo cáo vốn để lấy thành tích và tuyên truyền.

Y học cổ truyền Trung Quốc là mối đe dọa của động vật quý hiếm như gấu, hổ, và tê tê. Theo một báo cáo gần đây của Văn phòng Liên Hiệp Quốc về chống Ma túy và Tội phạm (UNOCD). buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp trên toàn cầu là một thương vụ mang lại hàng tỷ đô la mỗi năm, phần lớn diễn ra ở Đông Nam Á. Nạn săn trộm để phục vụ cho nền y học cổ truyền Trung Quốc đã trở thành vấn nạn toàn cầu. Dù số lượng quần thể hổ hoang dã, tê giác và tê tê đang giảm sút nghiêm trộng, thì giá của các động vật hoang dã vẫn tăng theo cấp số nhân trên thị trường động vật hoang dã bất hợp pháp, vì thế lại thúc đẩy nạn săn trộm ngày một mạnh mẽ và tinh vi hơn. Hơn nữa, giới buôn lậu ngày càng có xu hướng dùng các bộ phận cơ thể sư tử, báo đốm và báo hoa mai để thay thế cho hổ. (Cáp Tuấn Ba, 2020; Thảo Anh, 2020)

Một trong những công cụ sát hại thú hoang dã với quy mô lớn nhất là bẫy thú. Những chiếc bẫy rẻ tiền và đơn giản, được làm từ dây phanh xe đạp và xe máy, được các thợ săn ở Đông Nam Á sử dụng để bắt những loài động vật đem bán để làm thức ăn như lợn rừng, cheo, hươu, cầy và nhím; hoặc để nấu cao như các loài khỉ và voọc, hoặc để làm thú cưng như cu li và rái cá. Vấn nạn từ bẫy là nó gây nguy hiểm cho mọi loài thú ngay cả khi không phải là mục tiêu. Những con thú bị dính bẫy nhưng không có giá trị buôn bán thường bị bỏ mặc cho thối rữa.

Trong báo cáo ngày 10-7-2020, Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (WWF) ước tính có khoảng 12,3 triệu bẫy dây đang đe dọa các loài động vật hoang dã trong các khu bảo tồn ở Cam-pu-chia, Lào và Việt Nam,  những quốc gia có nạn đặt bẫy nghiêm trọng nhất trong khu vực. Tại Việt Nam, chỉ riêng trong hai Khu Bảo tồn Sao la ở Thừa Thiên–Huế và Quảng Nam, đã có 127.857 bẫy thú được tháo gỡ trong giai đoạn năm 2011-2019, trung bình mỗi năm tháo gỡ được 14.206. Mật độ bẫy tại hai khu bảo tồn nêu trên là 880 bẫy/km2, cao nhất trong khu vực. Số lượng bẫy ước tính tại Việt Nam, tại bất kỳ thời điểm nào, là hơn 5 triệu bẫy. (Thảo Lê, 2020)

Ngày nay, nhiều loài thú một thời hiện diện đông đảo khắp các khu rừng ở Đông Nam Á như gấu chó, thỏ vằn, mèo gấm, lửng lợn và khỉ hiếm khi được nhìn thấy – hiện tượng này được các nhà bảo tồn gọi là “hội chứng rừng rỗng”. Nhiều khu rừng có đến hàng chục – thậm chí hàng trăm – bẫy thú, bắt đủ loại thú hoang dã đến mức động vật rừng bị cạn kiệt. Từ 2010 đến 2015, các nhóm tuần tra gỡ bỏ hơn 200.000 cái bẫy tại các khu bảo tồn ở Campuchia, Việt Nam và Lào, tuy nhiên họ vẫn không thể theo kịp những kẻ săn trộm. (Nhật Anh, 2019)

Ước tính có khoảng 12,3 triệu bẫy dây đang đe dọa các loài động vật hoang dã trong các khu bảo tồn ở Campuchia, Lào và Việt Nam – những quốc gia có nạn đặt bẫy nghiêm trọng nhất trong khu vực.

Vì thế, nguy cơ tuyệt chủng hiện diện khắp nơi. Trong số 25 loài linh trưởng có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất thế giới do IUCN liệt kê, có 9 loài ở Châu Á và 6 loài ở Việt Nam:

  • chà vá chân xám
  • voọc bạc Trường Sơn
  • voọc Cát Bà
  • voọc mông trắng
  • voọc mũi hếch
  • vượn đen tuyền Đông-Bắc (vượn cao vít).

Theo Nghị định 35/2019/NĐ-CP, vi phạm hành chính về bảo vệ động vật hoang dã có thể bị phạt tiền lên tới 400 triệu đồng. Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cũng quy định cá nhân có hành vi vi phạm về động vật hoang dã có thể bị phạt tù lên đến 15 năm hoặc phạt tiền đến 5 tỷ đồng. Pháp nhân vi phạm tương tự có thể bị phạt tiền đến 15 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động từ 6 tháng đến 3 năm hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Trong thực tế, việc xử lý các vụ vận chuyển, buôn bán động vật hoang dã còn nhiều khó khăn, với lý do chính quyền đưa ra là phần lớn các vụ buôn bán này đều do đối tượng vận chuyển thuê thực hiện và không xác định được chủ lô hàng. Còn có lý do cốt lõi: nhu cầu về động vật hoang dã quá cao kéo giá cả lên cao ở mức không tưởng trong khi chi phí săn bắt động vật hoang dã là không đáng kể. Tình trạng này tương tự như vận chuyển, buôn bán ma túy.

Có một thực trạng gây băn khoăn là một số loài thú được phân hạng là cần bảo vệ ở Việt Nam nhưng IUCN xếp vào hạng LC, chứng tỏ trên thế giới những loài đó không phải là hiếm nhờ có số lượng còn lớn và/hoặc phân bố rộng. Có một lý do cho việc này: ở Việt Nam môi trường sống của những loài thú đó đã bị suy thoái ngoài sự săn bắt vô tội vạ nêu trên. Lấy ví dụ, tôi nhận ra trong khi ở Việt Nam có quá nhiều nhà hàng đặc sản thú rừng thì ở Thái Lan loại nhà hàng này rất hiếm – tôi đã đi nhiều nơi trên đất Thái vẫn chưa từng thấy nhà hàng nào như thế. Đây là điều ta cần suy nghĩ.

Đối mặt với số lượng thú hoang dã giảm sút, nhiều cá thể thú nuôi nhốt ở những cơ sở, vườn thú được cho là “bảo tồn” thú hoang dã nhưng thật sự không phải thế. Các loài thú nuôi nhốt mãi mãi vẫn bị nuôi nhốt chứ không thể được thả lại vào hoang dã, bởi vì con non cần được con mẹ dạy cách bắt mồi, cách tìm loại thức ăn thích hợp trong hoang dã, cách đối phó với kẻ thù… Trong khuôn viên chật hẹp được cho ăn đầy đủ, các cá thể được nuôi nhốt mất hẳn bản năng sinh tồn ngoài thiên nhiên. Tóm lại, những cá thể được nuôi nhốt – điển hình là hổ –  không có giá trị trong bảo tồn động vật hoang dã quý hiếm, nguy cấp. Thậm chí các cơ sở gây nuôi chưa có đóng góp thực tế vào mục đích cơ bản là bảo tồn các nguồn gien trong thiên nhiên (Đặng Huy Huỳnh, 2014).

Bảo vệ động vật hoang dã giúp bảo tồn những nguồn gen quý hiếm, cân bằng sinh thái, đảm bảo môi trường sống trong lành cho con người… Đối mặt với những yếu tố làm giảm số lượng nhiều chủng loài và đẩy một số loài đến bờ vực tuyệt chủng, ý thức con người là quan trọng nhằm cứu vãn tình trạng này. Con người cần xem các chủng loài là những thực thể cộng sinh với mình thay vì xem chúng là nguồn cho bộ sừng hoặc bộ lông để trang trí trong nhà, là dược phẩm, hoặc tệ hơn, là món ăn chơi trên bàn nhậu. Con người cần thay đổi thiên kiến của mình, ví dụ như nói đến sự săn mồi của sói đỏ là “tàn độc”. Thật ra đó không phải là tàn độc: thiên nhiên ban cho mỗi loài thú bản năng đặc biệt để tìm cách sinh tồn. Sói đỏ săn hươu, nai, bò rừng, trâu rừng… đơn giản vì đó là những nguồn thực phẩm mà chúng cần ăn để sống. Chính con người mới là tàn độc: nhiều khi tàn sát thú hoang dã mà chẳng vì mục đích thực tiễn nào cả. Con người cần đặt chính mình như là một thành phần của hệ sinh thái trong đó các chủng loài tương tác với nhau và mang lợi ích hài hòa đến cho nhau.

Thay cho lời kết, mời bạn thưởng thức những nét đẹp thiên nhiên trong những ảnh dưới đây. Ta cần chung tay gìn giữ những nét đẹp này. Hãy dừng ngay việc sử dụng các phần cơ thể thú hoang dã làm dược phẩm vốn hiệu lực được đồn thổi. Hãy dừng ngay gọi món thịt rừng trên bàn nhậu. Hãy dừng ngay nuôi thú hoang dã như thú cưng. Tóm lại, hãy để thú hoang dã sống an lành trong môi trường thiên nhiên của chúng. Đừng tiếp tay cho kẻ săn bắt thú hoang dã khi chính mình tạo ra nhu cầu cho họ.

Rồi ta sẽ thấy cuộc đời này là đáng sống vì môi trường quanh ta còn có nhiều chủng loài đa dạng làm bạn gần xa với ta. Thay vì môi trường mất sự sống và con người lẻ loi trên hành tinh này.

cao lua
cáo lửa
cheo Nam Duong
cheo Nam Dương
cu li nho
cu li nhỏ
khi vang
khỉ vàng
rai ca vuot be
rái cá vuốt bé – con non
sao la
sao la
soi do
sói đỏ
te te Java
tê tê Java
vooc Cat Ba
voọc Cát Bà
vooc cha va chan den
voọc chà vá chân đen
vooc cha va chan nau
voọc chà vá chân đỏ

Tài liệu tham khảo

Baraniuk, C. (2016). We know exactly how the Vietnamese Javan rhino went extinct. http://www.bbc.com/earth/story/20160920-we-know-exactly-how-the-vietnamese-javan-rhino-went-extinct

Biodiverdity Philately Vietnam (no date). Các loài thú Linh trưởng ở Việt Nam (Phần 1 – Họ Culi). http://biophilavn.com/TD/Thu/Thu-Linh-Truong-o-Viet-Nam-(-Ho-Culi-)/78/246.html

Biodiverdity Philately Vietnam (no date). Các loài thú Linh trưởng ở Việt Nam (Phần 2 – Họ Khỉ – Các loài khỉ). http://biophilavn.com/TD/Thu/Thu-Linh-Truong-o-Viet-Nam-(-Ho-Khi—-Loai-Khi-)/78/249.html

Biodiverdity Philately Vietnam (no date). Các loài thú Linh trưởng ở Việt Nam (Phần 3 – Họ Khỉ – Các loài voọc và chà vá). http://biophilavn.com/NCT/Thu/78/250.html

Biodiverdity Philately Vietnam (no date). Các loài thú Họ Mèo tại Việt Nam. http://biophilavn.com/TD/Thu/Thu-ho-Meo-tai-Viet-Nam/78/231.html

Brook, S. (2015). “Indochinese hog deer Axis porcinus annamiticus on the brink of extinction”, Deer Specialist Group Newsletter, 27.

Bùi Ngọc Long & Gia Tân (2012). Xác định được “lộ trình” bò tót xâm nhập sân bay Phú Bài. https://thanhnien.vn/thoi-su/xac-dinh-duoc-lo-trinh-bo-tot-xam-nhap-san-bay-phu-bai-59767.html

Cáp Tuấn Ba (2020). Y học cổ truyền Trung Quốc: mối đe dọa của động vật hoang dã, quý, hiếm. https://kiemsat.vn/y-hoc-co-truyen-trung-quoc-moi-de-doa-cua-dong-vat-hoang-da-quy-hiem-54202.html

Cota, E. (2012). The rhino extinction that launched Annamiticus. https://annamiticus.com/2012/05/20/gone-forever-javan-rhino-declared-extinct-in-vietnam/

Cota-Larson, R. (2017). Hướng dẫn nhận dạng các loài tê tê. Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tại Bangkok: Dự án Bảo vệ Động vật Hoang dã ở châu Á của USAID (USAID Wildlife Asia). Tham khảo trực tuyến tại: http://www.usaidwildlifeasia.org/resources

Công Luật (2013). Cần giải bài toán bảo vệ loài sói đỏ quí hiếm trước nguy cơ tuyệt chủng. http://hoinongdan.org.vn/sitepages/news/58/29475/can-giai-bai-toan-bao-ve-loai-soi-do-qui-hiem-truoc-nguy-co-tuyet-chung

Đại Dương (2016). Phát hiện cầy giông sọc được cho là tuyệt chủng ở Việt Nam. https://dantri.com.vn/xa-hoi/phat-hien-cay-giong-soc-duoc-cho-la-tuyet-chung-o-viet-nam-20160918173805987.htm

Đặng Huy Huỳnh (2014). “Cần kiểm soát chặt chẽ việc gây nuôi động vật hoang dã tại Việt Nam”, Tạp chí Môi trường, số 12. http://tapchimoitruong.vn/pages/article.aspx?item=C%E1%BA%A7n-ki%E1%BB%83m-so%C3%A1t-ch%E1%BA%B7t-ch%E1%BA%BD-vi%E1%BB%87c-g%C3%A2y-nu%C3%B4i-%C4%91%E1%BB%99ng-v%E1%BA%ADt-hoang-d%C3%A3-t%E1%BA%A1i-Vi%E1%BB%87t-Nam-38728

Đinh Luyện (2019). Hổ ngoài tự nhiên của Việt Nam còn dưới 5 cá thể. https://laodongthudo.vn/ho-ngoai-tu-nhien-cua-viet-nam-con-duoi-5-ca-the-94423.html

Đình Tuấn (2019). Đàn bò tót hàng chục con xuất hiện trong VQG Phong Nha–Kẻ Bàng. http://antt.vn/dan-bo-tot-hang-chuc-con-xuat-hien-trong-vqg-phong-nha-ke-bang-268440.htm

Đức Tuyên (2011a). Ký ức loài tê giác. https://tuoitre.vn/ky-uc-loai-te-giac-462967.htm

Đức Tuyên (2011b). Ký ức loài tê giác – Kỳ 2: Từ dấu chân đến hình ảnh. https://tuoitre.vn/ky-uc-loai-te-giac—ky-2-tu-dau-chan-den-hinh-anh-463146.htm

Garima Prasher (2019). Eastern hog deer, believed to be confined to southeast Asia, found in Manipur. https://india.mongabay.com/2019/02/eastern-hog-deer-believed-to-be-confined-to-southeast-asia-found-in-manipur/

GreenViet (2017). Kết quả nghiên cứu hiện trạng voọc chà vá chân nâu tại Bán đảo Sơn Trà. Trung tâm GreenViet.

GreenViet & PanNature (2019). Đa dạng sinh học tại hành lang Kon Ka Kinh–Kon Chư Răng, huyện KBang, Gia Lai. Hà Nội, Việt Nam.

Hảo Hảo Media (2018). Bò tót lai – Phước Bình – Ninh Thuận. https://www.youtube.com/watch?v=XNPOIJB0U9s

Hien Nguyen (2017). Endangered Species #4: Javan Rhinoceros. https://medium.com/@nguyehd/endangered-species-3-javan-rhinoceros-7815730276de

Hoa Văn (2018). Đi tìm con hổ hoang dã cuối cùng ở Việt Nam. https://dandensg.blogspot.com/2018/03/i-tim-con-ho-hoang-da-cuoi-cung-o-viet.html#:~:text=Trong%20su%E1%BB%91t%20m%E1%BB%99t%20th%E1%BB%9Di%20gian,gia%20c%C5%A9ng%20kh%C3%B4ng%20c%C3%B2n%20h%E1%BB%95.

Hoang Minh Duc; Covert, H.H; Roos, C and Nadler, T. (2012). “A note on phenotypical and genetic differences of silvered langurs in Indochina (Trachypithecus germaini and T. Margarita)”, Vietnamese Journal of Primatology, 2(1): 47-54.

itis.gov. Trang web có uy tín về phân loại học (taxonomy), đánh giá tính hợp lệ (validity) của tên khoa học, liệt kê các phân loài được công nhận, kèm nguồn tham khảo.

IUCN (2008). Roosevelts’ muntjac. https://www.iucnredlist.org/species/13928/4366159#taxonomy

IUCN (2014a). Eld’s deer. https://www.iucnredlist.org/species/4265/22166803#taxonomy

IUCN (2014b). Annamite Muntjac. https://www.iucnredlist.org/species/44704/22154056#geographic-range

IUCN (2015a). Large Indian civet. https://www.iucnredlist.org/species/41709/45220429#taxonomy

IUCN (2015b). Northern yellow-cheeked crested gibbon. https://www.iucnredlist.org/species/120659170/120659179

IUCN (2015c). Southern white-cheeked gibbon. https://www.iucnredlist.org/species/39896/17968765

IUCN (2015d). Panthera tigris. https://www.iucnredlist.org/species/15955/50659951

IUCN (2016). Wild water buffalo. https://www.iucnredlist.org/species/3129/46364616#geographic-range

Khắc Dũng (2015). ‘Dê sư tử’ gây xôn xao ở Lâm Đồng. https://nongnghiep.vn/de-su-tu-gay-xon-xao-o-lam-dong-d148099.html

Knight, T. (2019). Golden year – Baby monkeys steal the show. https://www.fauna-flora.org/news/golden-year-baby-monkeys-steal-show

Lê Tân (2018). Theo dấu chân voọc Cát Bà. https://thanhnien.vn/thoi-su/phong-su-dieu-tra/theo-dau-chan-vooc-cat-ba-994345.html

Mai Vinh (2017). Con đực hậu duệ… bò tót đã có con. https://tuoitre.vn/con-duc-hau-due-bo-tot-da-co-con-1295948.htm

Mỹ Hằng (2018). Việt Nam: Đời gấu và lòng nhà chức trách. https://www.bbc.com/vietnamese/44855878

Lâm Viên (2015). Cận cảnh đàn dê lai sơn dương có lông và bờm giống sư tử. https://thanhnien.vn/thoi-su/can-canh-dan-de-lai-son-duong-co-long-va-bom-giong-su-tu-595946.html

Leahy, S. (2019). “Fanged mouse-deer identified after vanishing for a generation”, National Geographic. https://www.nationalgeographic.com/animals/2019/11/silver-backed-chevrotain-mouse-deer-reappears-vietnam/

Ngân Kim (2017). Voọc Cát Bà – những cá thể còn sót lại trước mối đe dọa phát triển du lịch. https://www.thiennhien.net/2017/05/15/vooc-cat-ba-nhung-ca-con-sot-lai-truoc-moi-de-doa-phat-trien-du-lich/

National Geographic (2019). This endangered monkey is one of the world’s most colorful primates | Short film showcase. https://www.youtube.com/watch?v=Tbp9AyitsJ8

Ngọc Khải (2015). Mánh khóe mua bán vảy tê tê. https://tuoitre.vn/manh-khoe-mua-ban-vay-te-te-961158.htm

Nguyen, A.; Tran, V.B.; Hoang, D.M. et al. (2019). “Camera-trap evidence that the silver-backed chevrotain Tragulus versicolor remains in the wild in Vietnam”. Nature Ecology & Evolution, 3: 1650–1654.

Nguyễn Đình Hải, Nguyễn Xuân Đặng, Đặng Huy Phương, Nguyễn Mậu Toàn, Nguyễn Xuân Nghĩa (2016). “Hiện trạng quần thể voọc xám Đông Dương Trachypithcus crepusculus ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên, Tỉnh Thanh Hóa”, Tạp chí Sinh học, 38(2): 162-170.

Nguyễn Hoài (2018). Việt Nam tìm thấy loài thú quý hiếm nhất ASEAN. https://baonghean.vn/viet-nam-tim-thay-loai-thu-quy-hiem-nhat-asean-199357.html

Nhật Anh (2019). Bẫy – mối đe dọa lớn nhất đối với động vật hoang dã ở Đông Nam Á. https://www.thiennhien.net/2019/10/23/bay-moi-de-doa-lon-nhat-doi-voi-dong-vat-hoang-da-o-dong-nam-a/

Nhật Anh (2020). Góc khuất về hổ nuôi đằng sau bức màn “Vua Hổ”. https://www.thiennhien.net/2020/04/15/goc-khuat-ve-ho-nuoi-dang-sau-buc-man-vua-ho/

PanNature (2018). Thách thức và hệ quả của việc nuôi gấu lấy mật ở Việt Nam. https://www.thiennhien.net/2018/12/30/thach-thuc-va-he-qua-cua-viec-nuoi-gau-lay-mat-o-viet-nam/

Phi Yến (2019). Tổ chức bảo tồn thừa nhận cuộc chiến bảo vệ loài hổ có vẻ ‘đang thất bại’. https://thanhnien.vn/the-gioi/to-chuc-bao-ton-thua-nhan-cuoc-chien-bao-ve-loai-ho-co-ve-dang-that-bai-1117096.html

Phùng Mỹ Trung (2014). Cô gái Scotland và những năm tháng tìm sói rừng Việt Nam. https://vnexpress.net/co-gai-scotland-va-nhung-nam-thang-tim-soi-rung-viet-nam-3099835.html

PV/Báo Tin tức (2020). Sau tê giác, tê tê là loài sắp bị tuyệt chủng tại Việt Nam. https://baotintuc.vn/xa-hoi/sau-te-giac-te-te-la-loai-sap-bi-tuyet-chung-tai-viet-nam-20200214154721563.htm

Reuters (2007). China scientists say SARS-civet cat link proved. https://www.reuters.com/article/us-china-sars/china-scientists-say-sars-civet-cat-link-proved-idUSPEK23793120061123

Sách đỏ Việt Nam (2020). Tìm hiểu về loài chó sói có tên trong Sách đỏ Việt Nam| Sói đỏ | Sói lửa | Sói xám. https://www.youtube.com/watch?v=7HAJdFPYzSg

Segedin, K. (2015). Rare glimse of elusive rabbit in Vietnam. http://www.bbc.com/earth/story/20150606-rare-rabbit-spotted-in-vietnam

Sutter, J.D. (no date). The most trafficked mammal you’ve never heard of. https://edition.cnn.com/interactive/2014/04/opinion/sutter-change-the-list-pangolin-trafficking/index.html

Thảo Anh (2020). Bất ngờ từ Báo cáo tội phạm động vật hoang dã 2020. https://laodong.vn/moi-truong/bat-ngo-tu-bao-cao-toi-pham-dong-vat-hoang-da-2020-819413.ldo

Thảo Lê (2020). Bẫy dây đang tận diệt thú các khu rừng Đông Nam Á. https://nhandan.com.vn/vi-moi-truong-xanh/bay-day-dang-tan-diet-thu-cac-khu-rung-dong-nam-a-608139/

theprimata.com (2007). Douc langur (Pygathrix nemaeus). http://www.theprimata.com/pygathrix_nemaeus.html

Thiên Nhiên (2012). Vượn Cao Vít tại Việt Nam gia tăng số lượng. https://tuoitre.vn/vuon-cao-vit-tai-viet-nam-gia-tang-so-luong-524477.htm

Thomas, M. (2019). “Eld’s deer (Rucervus eldii)”, Wild Deer. https://www.wilddeer.net.au/2019/09/11/elds-deer-rucervus-eldii-by-murray-thomas/

Thu Trang (2019). https://baotintuc.vn/xa-hoi/ong-ba-muoi-se-duoc-dua-vao-danh-sach-tuyet-chung-trong-tu-nhien-tai-viet-nam-20190729134013640.htm

Trọng Huân (2019). Sửng sốt với trào lưu nuôi rái cá làm… thú cưng. https://tuoitre.vn/sung-sot-voi-trao-luu-nuoi-rai-ca-lam-thu-cung-20190425220922268.htm

Văn Bằng/SIE (2017). Cầy rái cá lowei không tồn tại. http://sie.vast.vn/posts/320-cay-rai-ca-lowei-khong-ton-tai.vi

vncreatures.net/ Trang web này giúp tra cứu hơn 2000 loài động vật rừng với nhiều thông tin khoa học kể cả giá trị và biện pháp bảo vệ, cùng hình vẽ minh họa. Thông tin không được cập nhật.

Vũ Sơn (2018). Tê giác 1 sừng cuối cùng trên TG ở Việt Nam tuyệt chủng thế nào? https://kienthuc.net.vn/khoa-hoc/te-giac-1-sung-cuoi-cung-tren-tg-o-viet-nam-tuyet-chung-the-nao-1009317.html

Vườn Quốc gia Cát Tiên (2020a). Tê giác Java Việt Nam – Hành trình tuyệt chủng. Vietnam Java rhino Rhinoceros sondaicus annamiticus. https://www.youtube.com/watch?v=VpQ1CGGynIY

Vườn Quốc gia Cát Tiên (2020b). Tiếp cận đàn bò tót hoang dã lớn ở Vqg Cát Tiên. Approach wild gaurs in Cat Tien National Park. https://www.youtube.com/watch?v=wg_r6B9NB_A

Wikipedia_Nạn buôn bán tê tê. https://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BA%A1n_bu%C3%B4n_b%C3%A1n_t%C3%AA_t%C3%AA

Wikipedia_Voọc bạc Đông Dương. https://vi.wikipedia.org/wiki/Vo%E1%BB%8Dc_b%E1%BA%A1c_%C4%90%C3%B4ng_D%C6%B0%C6%A1ng

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *